Tổng quan về quán đỉnh

Thảo luận trong 'MẬT TÔNG' bắt đầu bởi batquantrai, 29 Tháng mười hai 2012.

  1. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Tổng quan về quán đỉnh (Còn tiếp)

    Quán đỉnh là một đặc trưng của Phật giáo Kim Cương thừa, tức nghi thức bắt buộc tham dự việc phát nguyện, phụng sự và thực hành nghi quỹ (sadhana) theo một đức Bản tôn hay một vị Bồ tát nào đó.


    [​IMG]

    Nói cách khác, quán đỉnh là nghi thức mà một bậc thầy tu chứng thành tựu một pháp môn nào đấy trao truyền trực tiếp cho các đệ tử pháp môn đó, bao gồm mô tả, giảng nghĩa, quán tưởng, thứ lớp tu tập cùng với các nghi lễ cúng dường và thần chú tương ứng. Mặc dù vậy, quán đỉnh còn mang ý nghĩa nhiều hơn những gì cấu thành nên nó; nó là sự trao truyền nguồn ân phúc và năng lực gia trì của cả một dòng truyền thừa.

    Quán đỉnh ban sự gia trì và trao quyền thể nhập thực hành một nghi quỹ Tantra. Nghi thức quán đỉnh có thể ngắn hoặc dài, đơn giản hay phức tạp. Nó bao gồm (1) wang tức là phần quán đỉnh thánh hóa người đệ tử thành vị hóa thần Bản tôn, (2) lung tức là phần khẩu truyền - tụng đọc một bài kinh văn (đôi khi có thể là tụng bản cô đọng hoặc tụng nhanh đầy đủ cả bài kinh), và (3) tri là những phần giảng dạy hướng dẫn cách tu tập thực hành. Trong những trường hợp đặc biệt, chỉ cần một nghi lễ rút gọn kết nối người đệ tử với nghi quỹ thực hành đi kèm cùng trì tụng thần chú liên quan là đủ.
    [​IMG]
    Khamtrul Rinpoche Jigme Pema Nyinjadh đời thứ IX

    Hầu hết các pháp tu trì tụng thần chú và quán tưởng của Kim Cương thừa đòi hỏi hành giả phải được thụ nhận quán đỉnh, được trao quyền và được hướng đạo từ một bậc thầy phẩm hạnh trước khi bắt đầu tu tập thực hành một nghi quỹ nào đó.

    Tuy nhiên, một số pháp tu do Đức Phật Thích Ca truyền cho đại chúng không phải tuân theo quy định này. Tất cả các pháp môn trong Kinh thừa chắc chắn đều đã chứa đầy ân đức gia trì của Đức Phật rồi nên bất kỳ ai mong muốn đều có thể thực hành theo, trong đó bao gồm cả các pháp tu của Bồ tát Quan Âm và của Phật mẫu Tara Xanh (Lục độ mẫu). Mặc dù vậy bạn luôn được khuyến khích thụ quán đỉnh Kim Cương thừa của Quan Âm và Lục độ mẫu bất kể khi nào có cơ duyên. Dù pháp môn này có thể được tu tập thọ trì ngay lập tức nhờ phúc đức gia trì của Đức Thế Tôn nhưng khi bạn được thọ nhận quán đỉnh Quan Âm, sự tu tập và năng lực kết nối bạn với căn bản thượng sư (tsaway lama) của mình và Bản tôn Quan Âm càng được tăng trưởng hơn.

    Lễ quán đỉnh truyền pháp đầy đủ trong đạo Phật thường được chia làm bốn phần: Quán đỉnh bình/Quán đỉnh bí mật/Quán đỉnh trí tuệ/Quán đỉnh khẩu, âm, ngữ hay quán đỉnh như thị (Quán đỉnh thứ tư).

    Nếu hỏi về sự khác biệt giữa Kinh thừa và Mật thừa thì xin trả lời đó chính là nghi thức quán đỉnh. Bất kỳ pháp tu nào đòi hỏi phải được thụ nhận quán đỉnh thì chúng ta gọi đó là pháp tu theo Kim Cương thừa. Nếu pháp tu nào không đòi hỏi phải thụ nhận quán đỉnh thì pháp tu đó thuộc về hệ thống Kinh thừa.

    Tâm thức phàm phu của chúng ta không được thành thục và chín muồi. Vì thế, nó cần phải được thuần thục bằng quán đỉnh. Theo tiếng Tây Tạng, cam lồ được dùng để chỉ một chất liệu có thể chuyển hóa các độc tố thành ngon ngọt. Nó còn được gọi là thứ mật ngọt thanh tịnh hay nước vô ưu. Cho nên sự liên hệ này giống như sự chuyển hóa trong thuật luyện kim vậy.

    Trong thuật luyện kim, các hợp kim được tinh lọc và chuyển hóa thành vàng. Tâm thức của chúng ta giống như hợp kim được chuyển hóa thành vàng nhờ vào lễ truyền pháp quán đỉnh. Trong khi dòng suối cam lồ được quán đỉnh ban phúc lên chúng ta trong buổi lễ, chúng ta thiền định và quán tưởng mình chuyển hóa, thể nhập và an trụ trong trạng thái của Bản tôn hóa thần, nhờ đó tịnh hóa hết thảy ám chướng và tà niệm. Chúng ta hiển lộ tâm tính của mình đồng như tâm của Bản tôn hóa thần không khác. Toàn bộ sắc thân của chúng ta được chuyển hóa thành Mandala của Bản tôn.

    Thông qua bốn quán đỉnh, chúng ta tịnh hóa bốn ám chướng (thân, khẩu, ý, khí vi tế). Nhờ tịnh hóa bốn ám chướng, hành giả gieo trồng hạt giống thành tựu tứ thân (Hóa thân, Báo thân, Pháp thân, Thể tính thân) trong tương lai. Các thứ lớp này là những yếu tố căn bản của Tantra, gốc rễ của hệ thống Kim Cương thừa. Nếu chúng ta không đón nhận lễ truyền pháp quán đỉnh này, chúng ta không có quyền thực hành tu tập Kim Cương thừa. Vì thế chúng ta cần phải biết trân quý cơ hội hy hữu khi được đón nhận quán đỉnh.

    Thiền định về quán đỉnh đầu tiên, tức là quán đỉnh bình, chúng ta tịnh hóa các ám chướng của thân. Chúng ta chuyển hóa bản thân phàm phu thường tình bằng xương, bằng thịt vốn là nguồn gốc của phiền não khổ đau này thành Bản tôn hóa thần. Bằng cách thể nhập vào trạng thái của hóa thần, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Hóa thân Phật.

    Quán đỉnh bí mật, chúng ta tịnh hóa những ám chướng gây ra bởi khẩu nghiệp. Tất cả những khẩu nghiệp bất thiện và những lời vô nghĩa không biết dừng nghỉ của chúng ta được chuyển hóa thành khẩu giác ngộ của Đức Phật. Bằng cách tịnh hóa các ác nghiệp ám chướng thuộc về khẩu, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Báo thân Phật.

    Nhờ quán đỉnh trí tuệ, chúng ta tịnh hóa tất cả ác nghiệp ám chướng thuộc về ý. Tất cả si mê ám chướng (trần sa hoặc) của chúng ta được chuyển hóa thành bản chất trí tuệ và tự tính tâm của chúng ta hiển lộ vô biên không giới hạn. Bằng cách tịnh hóa ý nghiệp, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Pháp thân Phật.

    Quán đỉnh thứ tư (còn được gọi là quán đỉnh ngữ tôn quý), song thông thường được gọi là quán đỉnh ‘thứ tư’. Nhờ được thọ nhận quán đỉnh thứ tư này, chúng ta tịnh hóa các ám chướng vi tế (vô minh hoặc) để thành tựu quả vị giác ngộ. Những ám chướng vi tế của phân biệt nhị nguyên được chuyển hóa thành sự tỉnh thức nguyên thủy-trí tuệ bản lai. Bằng cách tịnh hóa các ám chướng vi tế, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Thể tính thân siêu việt.

    Thực sự sẽ rất thâm sâu và nhiệm màu nếu hành giả có thể bắt đầu con đường hành trì Kim Cương thừa dựa trên sự hiểu biết minh xác về Tantra. Một số đạo sư Tây Tạng trong quá khứ từng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các giáo pháp Kim Cương thừa bằng sự biểu trưng của linh kim cương và chày kim cương. Người Tây Tạng cho rằng nếu hành giả biết sử dụng những pháp khí này đồng thời hiểu được tầm quan trọng của nó và hiểu biết đầy đủ về đạo lộ Kim Cương thừa thì khi rung linh (chuông), nó sẽ mang ý nghĩa và sự biểu đạt thâm sâu vi diệu. Nếu không, việc rung chuông đơn thuần thực sự không chứa đựng một chút ý nghĩa nào”.

    Quán đỉnh mới chỉ là sự khởi đầu nhập môn. Để được lợi ích dài lâu, tiếp theo sau đó phải là sự tu tập hành trì đúng cách dưới sự hướng đạo của bậc thầy Kim Cương thừa giác ngộ.

    Các pháp tu Tantra được phân chia theo hệ thống thứ lớp trong đó quán đỉnh là một yếu tố quan trọng không thể thiếu, vì vậy một lễ truyền pháp quán đỉnh – hay wang có thể thuộc về bất kỳ một Tantra nào. (Số lượng và loại Tantra phụ thuộc vào hệ phái Phật giáo cụ thể). Những quán đỉnh phổ biến nhất là của những hóa thần bản tôn như Quan Âm tứ thủ, Lục độ mẫu và A Di Đà.

    Bất kỳ giáo pháp nào liên quan đến quán đỉnh đều đòi hỏi đi kèm với phát nguyện thực hành tu tập. Những yêu cầu để được thụ quán đỉnh:

    (1) Phát tâm bao gồm:

    - Phát tâm nguyện thụ nhận ân đức gia trì.

    - Phát tâm thực hành những giáo pháp tương ứng trong tương lai.

    - Phát tâm tức thời thực hành giáo pháp được truyền thụ.

    (2) Để lễ truyền pháp quán đỉnh hiệu nghiệm, cần hội đủ ba nhân duyên điều kiện sau:

    - Động cơ của người thầy phải thanh tịnh dựa trên cơ sở tình yêu thương và lòng bi mẫn. Người thầy cũng phải đã từng đón nhận lễ truyền pháp quán đỉnh và bản thân có kinh nghiệm tu chứng.

    - Người đệ tử phải có tín tâm không chút nghi báng về sự hợp thức của buổi lễ và phẩm hạnh của đạo sư. Người thầy phải được hiểu là hiện thân của Đức Phật, bậc đạo sư của chính ngài. Những phẩm chất cá nhân thường nhật của người thầy không quan trọng bằng vai trò là Kim cương Thượng sư của ngài.

    - Những pháp khí biểu tượng trong buổi lễ như tranh ảnh, hình tượng, bình quán đỉnh, và những phẩm vật cúng dường được chuẩn bị đầy đủ.

    Một pháp tu là chân thực khi nó hội tụ đầy đủ các phương diện sau của sự truyền pháp:

    - Bắt nguồn từ một dòng truyền thừa không gián đoạn.

    - Sự truyền pháp bao gồm nghi lễ quán đỉnh.

    - Khẩu truyền phần kinh văn của nghi quỹ.

    - Giảng nghĩa kinh văn và các hình ảnh biểu tượng.

    - Truyền trao năng lượng tâm linh vốn là đặc trưng và hiện hữu sẵn có trong các bản tôn/pháp tu.

    (Còn tiếp)
     
    #1
  2. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Tổng quan về quán đỉnh (Tiếp theo & hết)

    Thực sự sẽ rất thâm sâu và nhiệm mầu nếu hành giả có thể bắt đầu con đường hành trì Kim Cương thừa dựa trên sự hiểu biết minh xác về Tantra. Một số đạo sư Tây Tạng trong quá khứ từng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các giáo pháp Kim Cương thừa bằng sự biểu trưng của linh kim cương và chày kim cương.


    [​IMG]
    Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa đời thứ XII hành lễ quán đỉnh

    Người Tây Tạng cho rằng nếu hành giả biết sử dụng những pháp khí này đồng thời hiểu được tầm quan trọng của nó và hiểu biết đầy đủ về đạo lộ Kim Cương thừa thì khi rung linh (chuông), nó sẽ mang ý nghĩa và sự biểu đạt thâm sâu vi diệu. Nếu không, việc rung chuông đơn thuần thực sự không chứa đựng một chút ý nghĩa nào.
    Quán đỉnh mới chỉ là sự khởi đầu nhập môn. Để được lợi ích dài lâu, tiếp theo sau đó phải là sự tu tập hành trì đúng cách dưới sự hướng đạo của bậc thầy Kim Cương thừa giác ngộ.

    Các pháp tu Tantra được phân chia theo hệ thống thứ lớp, trong đó quán đỉnh là một yếu tố quan trọng không thể thiếu, vì vậy một lễ truyền pháp quán đỉnh - hay wang có thể thuộc về bất kỳ một Tantra nào (Số lượng và loại Tantra phụ thuộc vào hệ phái Phật giáo cụ thể). Những quán đỉnh phổ biến nhất là của những hóa thần bản tôn như Quan Âm tứ thủ, Lục độ mẫu và A Di Đà.

    Bất kỳ giáo pháp nào liên quan đến quán đỉnh đều đòi hỏi đi kèm với phát nguyện thực hành tu tập. Những yêu cầu để được thụ quán đỉnh như sau:

    (1) Phát tâm bao gồm:

    - Phát tâm nguyện thụ nhận ân đức gia trì.

    - Phát tâm thực hành những giáo pháp tương ứng trong tương lai.

    - Phát tâm tức thời thực hành giáo pháp được truyền thụ.

    (2) Để lễ truyền pháp quán đỉnh hiệu nghiệm, cần hội đủ ba nhân duyên điều kiện sau:

    - Động cơ của người thầy phải thanh tịnh dựa trên cơ sở tình yêu thương và lòng bi mẫn. Người thầy cũng phải đã từng đón nhận lễ truyền pháp quán đỉnh và bản thân có kinh nghiệm tu chứng.

    - Người đệ tử phải có tín tâm không chút nghi báng về sự hợp thức của buổi lễ và phẩm hạnh của đạo sư. Người thầy phải được hiểu là hiện thân của Đức Phật, bậc đạo sư của chính ngài. Những phẩm chất cá nhân thường nhật của người thầy không quan trọng bằng vai trò là Kim Cương thượng sư của ngài.

    - Những pháp khí biểu tượng trong buổi lễ như tranh ảnh, hình tượng, bình quán đỉnh, và những phẩm vật cúng dường được chuẩn bị đầy đủ.

    Một pháp tu là chân thực khi nó hội tụ đầy đủ các phương diện sau của sự truyền pháp:

    - Bắt nguồn từ một dòng truyền thừa không gián đoạn.

    - Sự truyền pháp bao gồm nghi lễ quán đỉnh.

    - Khẩu truyền phần kinh văn của nghi quỹ.

    - Giảng nghĩa kinh văn và các hình ảnh biểu tượng.

    - Truyền trao năng lượng tâm linh vốn là đặc trưng và hiện hữu sẵn có trong các bản tôn/pháp tu.

    Để tham gia quán đỉnh truyền pháp, trước phải quy y. Cũng có lúc, lễ quy y được tiến hành ngay trước buổi truyền pháp để những người sơ tâm có thể tham gia. Đây là trường hợp thường thấy ở các nước phương Tây do các đạo sư Kim Cương thừa không đến thăm được nhiều và thường xuyên.

    Một lễ quán đỉnh wang bao gồm nhiều nghi lễ thánh hóa/tịnh hóa. Đại lễ quán đỉnh chính có thể bao gồm bốn phần truyền pháp, gia trì hoặc thánh hóa, một số nghi lễ này lại chia ra thành nhiều nghi lễ nhỏ hơn nữa.

    Một nghi lễ quán đỉnh wang nhỏ thường gồm ba phần tịnh hóa thân, khẩu, ý-ba cửa ngõ tạo nghiệp (karma) của mỗi chúng sinh. Thực chất, xét ở bình diện tuyệt đối, thân, khẩu, ý vốn dĩ thanh tịnh, chỉ có điều chúng ta chưa nhận ra được điều đó.

    Lễ Tịnh hóa thân giúp thanh lọc những uế trược về thân để chúng ta có thể quán tưởng bản thân mình thành vị hóa thần bản tôn. Chẳng hạn như, bất luận già hay trẻ, nam hay nữ, chúng ta đều là Quán Thế Âm Bồ tát với một mặt, bốn tay, cầm tràng hạt và ngọc như ý v.v...

    Lễ Tịnh hóa khẩu giúp thanh lọc khẩu nghiệp và cho phép chúng ta trì tụng câu thần chú tương ứng.

    Lễ Tịnh hóa ý giúp ta thực chứng sự bất nhị của tâm mình và tâm của bản tôn, từ đó siêu việt được năng sở đối đãi nhị nguyên thường ngày.

    Cả ba nghi lễ trên đây ban năng lực cho phép ta hành trì một pháp tu thiền định nào đó mà theo đấy (bên cạnh những yếu tố khác nữa) ta được phép quán tưởng tự thân là hóa thần bản tôn, trì tụng thần chú, xua tan những vọng tưởng phân biệt giữa hành giả và đức bản tôn. Hình thức tu tập này giúp chúng ta liễu ngộ bản tâm của mình với tâm của chư Phật không khác.

    Nếu lễ quán đỉnh wang còn bao gồm Bình quán thì sẽ cần có các bình quán đỉnh trang trí bằng lông khổng tước. Nước ở trong bình sẽ được Kim Cương thượng sư tịnh hóa trước khi diễn ra lễ quán đỉnh. Trong lúc tiến hành nghi lễ, bình nước sẽ được đặt lên đầu các Phật tử (họ thường xếp thành hàng và từng người một tiến lên để nhận sự gia trì từ Kim Cương thượng sư) và có thể được ban một chút nước cam lồ từ bình nước thiêng. (Ngài sẽ đổ nước cam lồ vào lòng bàn tay bạn đang chụm lại, sau đó bạn sẽ hớp nước từ lòng bàn tay, và xoa lên đầu mình chỗ nước còn sót lại).

    Cần chuẩn bị kỹ lưỡng như thể đang chuẩn bị được thụ nhận lễ quán đỉnh từ chính Đức Phật Thế Tôn vậy, bởi vì bạn đang thực sự đón nhận sự truyền thừa và dòng ân phúc gia trì từ Đức Phật truyền không gián đoạn đến các bậc truyền thừa Tổ sư cho đến bạn.

    Trước khi tiến hành buổi lễ quán đỉnh, đức Thượng sư sẽ quán tưởng ngài là một hóa thần bản tôn. Trong suốt buổi lễ quán đỉnh, cần tôn kính xem đức Thượng sư bất khả phân với hóa thần đó và quán tưởng ngài trong pháp tướng của bản tôn. Buổi lễ sẽ đắc pháp thành tựu hơn nếu bạn có thể xây dựng được một niềm tin không lay chuyển rằng mình đang thụ nhận quán đỉnh từ một vị hoá thần.

    Chẳng hạn như, nếu bạn đang thụ quán đỉnh Quan Âm thì bạn cần không ngừng quán tưởng đức Kim Cương thượng sư trong pháp tướng của Bồ tát Quan Âm và tin tưởng rằng chính đức Bồ tát Quan Âm đang trao truyền quán đỉnh cho bạn.

    Trước khi lễ quán đỉnh bắt đầu, vị thị giả của ngài thông thường sẽ đưa cho bạn một nhúm gạo và bạn cần giữ nhúm gạo đó trong tay. Nhúm gạo đó được dùng để cúng dường Mandala diễn ra ngay sau khi lễ quán đỉnh bắt đầu.

    Luôn có ít nhất hai lần cúng dường Mandala trong một buổi lễ quán đỉnh (lúc bắt đầu và lúc kết thúc), vì vậy bạn có thể để lại một ít gạo bên cạnh mình (hoặc bỏ vào túi) dành cho phần cúng dường Mandala vào cuối buổi lễ.

    Trong khi chờ lễ quán đỉnh bắt đầu, nên suy ngẫm về lý do tại sao bạn có mặt tại đàn tràng. Khai phát tâm bồ đề như sau là vô cùng trọng yếu: Chúng hữu tình chịu nhiều ưu phiền khổ não bất như ý gây ra bởi si mê và dục vọng. Cho dù có thể nhận thức được hiện thực khổ đau mang tính phổ quát này song bạn không thể làm được gì nhiều vì cũng như tất cả mọi chúng sinh khác, bạn đã bị buộc ràng vào nó quá lâu rồi. Chỉ bằng cách thành tựu từ bi, trí tuệ và dũng lực của chư Phật mới có thể tự cứu chính mình và chúng sinh khỏi khổ đau, như vậy là vì lợi ích của hết thảy hữu tình mà bạn nguyện thụ nhận quán đỉnh này.

    Lễ quán đỉnh thường được bắt đầu bằng lễ phát nguyện quy y và một số bài cầu nguyện tán tụng. Tiếp đến là lễ cúng dường Mandala lên Kim Cương thượng sư tôn quý (Guru), bạn cần quán tưởng ngài là vị hóa thần bản tôn, nhiễu quanh ngài là chư Phật và chư vị Bồ Tát.

    Vị tăng thị giả cho ngài có thể làm mẫu cho bạn noi theo, thường là đỉnh lễ ba lần đồng thời đổ đầy gạo lên chiếc đĩa Mandala bằng bạc. Trong lúc này, đại chúng tham dự kiết ấn cúng dường Mandala (trong đó hai ngón tay áp út được đặt đối nhau hướng thẳng lên, biểu tượng cho trục của vũ trụ), tuy nhiên đó không phải là điều căn bản. Hãy quán tưởng rằng không chỉ cúng dường một chút gạo như vậy mà thực sự đang cúng dường toàn bộ vũ trụ trong đó có hàng triệu triệu thế giới chứa đầy những phẩm vật cúng dường cát tường. Theo đó, bạn đang cúng dường toàn bộ những phẩm vật đó lên đức Kim Cương thượng sư, người truyền trao pháp quán đỉnh cho bạn.

    Khi vị thị giả tụng xong bài kệ cúng dường Mandala và tung gạo vào không trung thì bạn cũng làm tương tự bằng cách chuyển động bàn tay xuất phát từ nơi trái tim hướng ra phía ngoài để phát tán những hạt gạo-cử chỉ này tượng trưng cho tâm chí thành của hành động cúng dường này.

    Sau đó, Kim Cương thượng sư sẽ trì tụng một số lời cầu nguyện triệu thỉnh bằng tiếng Tạng. Bạn cố gắng nhắc lại theo ngài từng câu càng nhiều càng tốt. Để biểu hiện tín tâm sùng kính hiến dâng, đại chúng thường chắp hai tay trước ngực trong lúc khẩu truyền, cầu nguyện.

    Thông thường, Kim Cương thượng sư sẽ giải thích về nguồn gốc của mật chú Tantra, tức là về việc Tantra đó được đưa vào thực hành tu tập như thế nào và có quan hệ gì đến dòng truyền thừa của ngài.

    Trong suốt đại lễ quán đỉnh, nhiều phần quán tưởng và nghi lễ khác nhau được thực hiện. Có thể đức Kim Cương thượng sư sẽ giới thiệu về các đề mục này ngay từ đầu, hoặc giải thích vào thời điểm thích hợp sau đó.

    Quán tưởng trong phần chính của nghi lễ quán đỉnh wang phức tạp hơn quán tưởng trong nghi lễ chuẩn bị. Chẳng hạn, trong phần chính bạn có thể phải quán tưởng về các vị bản tôn xuất hiện trên không trung, hay từ tim của Kim Cương thượng sư, và những chủng tử tự bằng tiếng Tạng hiện ra ở những vị trí nhất định trên thân ngài hay ngay trên thân bạn.

    Bạn có thể được yêu cầu quán tưởng những luồng ánh sáng với màu sắc khác nhau từ tim ngài phóng ra tỏa chiếu lên bạn cùng vô số chúng hữu tình, thanh lọc mọi phiền trược nhiễm ô.

    Đôi khi, theo yêu cầu của Kim Cương thượng sư, bạn có thể phải quán tưởng về chính tự thân mình trong pháp tướng của những bản tôn. Nghi lễ Tịnh hóa thân này được thực hiện khi vị thị giả dâng hương.

    Trong phần Tịnh hóa khẩu, thông thường bạn sẽ phải quán tưởng thần chú của vị hóa thần bản tôn (viết bằng tiếng Tạng) đi từ tim của Kim Cương thượng sư thể nhập vào tim bạn. Lúc này, ngài sẽ trì thần chú và bạn nhắc theo ba lần.

    Trong nghi lễ Tịnh hóa ý, bạn quán tưởng trong tâm chủng tử tự của vị bản tôn và bằng cách chú tâm vào chủng tử tự này - tức là tinh yếu của đức bản tôn - bạn cố gắng liễu ngộ tâm mình và tâm của Thượng sư hay đức bản tôn hóa thần là bất khả phân.

    Đại lễ quán đỉnh kết thúc với nhiều bài tán tụng cầu nguyện và lễ cúng dường Mandala cuối cùng để bày tỏ lòng tri ân tới Kim Cương thượng sư vì đã trao truyền quán đỉnh (wang). Trong phần kết thúc quán đỉnh này, các đệ tử xếp thành hàng một đi nhiễu qua nơi tòa của Kim Cương thượng sư để thụ nhận gia trì, chẳng hạn ngài sẽ đặt chày kim cương hay bình quán đỉnh lên đỉnh đầu đệ tử, hoặc đôi khi để chiêm bái một hình ảnh nào đó.

    Nếu Mandala của vị bản tôn đã được kiến lập (dành cho những đại lễ quán đỉnh), bạn nên chiêm bái và đỉnh lễ đức bản tôn hóa thần ở trung tâm của Mandala để đón nhận gia trì và thành tựu pháp.
     
    #2
  3. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Khí công Mật Tông


    Mật Tông còn gọi là Chân Ngôn Tông hay Kim Cang Thừa , là một lưu phái của hậu kỳ phát triển Phật Giáo ; Tăng Đồ Mật Tông mong cầu đạt đến sự giải thoát của tinh thần , đại triệt để , đại giác ngộ , tức thân thành Phật ; Tăng Đồ lấy thân tâm của mình làm nơi tu luyện ; nhờ kinh nghiệm tu trì được tích lủy qua quá trình tu tập nhiều đời , Mật Tông đả tổng kết được nhiều kinh nghiệm thiền định dồi giàu và phong phú , trong đó bao gồm nhiều phương pháp làm khang kiện thân thể , tiêu trừ bệnh tật , đề phòng và chế ngự được sự biến hoá của khí hậu ác liệt ; cùng khai phát những tiềm năng của thân thể và những phương pháp tu trì ngoại cảm và thần thông , mang con người đến một trình độ siêu phàm nhập thánh , trên con đường tiến hóa hướng thượng . ...

    Trong vài thập niên gần đây , phong trào khí công và ngành khoa học về nhân thể được phát triển mạnh ở Đông Phương ; nên những phương pháp tu trì của Mật Tông được ẩn tàng trong kinh điển Phật Giáo Tây Tạng , càng ngày càng được mọi người chú ý tìm hiểu , học hỏi và trọng dụng ; các chuyên gia tâm linh , khí công và Đại Sư Mật Tông đả đem một số phương pháp tu trì của Phật Giáo Tây Tạng , tổng hợp lại thành một đại môn phái ,được gọi là Khí Công Phật Gia . Hiển Mật Phật Giáo đều tu trì Giới – Định – Huệ tam học , mà Định học thì chú trọng đến việc điều thân , điều tâm và quán tưởng , có nhiều điểm tương đồng với khí công hiện đại . Trong Khí Công Phật Gia , thì Khí Công Mật Tông có nhiều điểm đặc biệt làm cho mọi người chú ý ; bởi vì những phương pháp tu trì của Mật Tông ̣đòi hỏi một sự truyền thừa nghiêm khắc và việc dùng đến ngoại lực kích phát trong lúc quán đảnh của Thượng Sư Mật Tông , chỉ tương truyền trong nội bộ Phật Môn , người ngoài khó mà biết đến ; thêm vào đó những phương pháp tu trì đặc biệt của Mật Tông , đòi hỏi hành giả tu trì Mật Pháp , tay phải bắt ấn , miệng đọc chân ngôn , tâm phải quán tưởng , để cho tam mật tương ứng ; vì thế những phương pháp tu trì của Mật Tông , làm cho người ngoài cảm thấy khó hiểu và thần bí vi diệu .

    Vì mục đích làm cho thân thể khỏe mạnh , tiêu trừ bệnh tật , tạo phước cho nhân loại ; các Cao Tăng Đại Đức của Mật Tông ở mọi nơi , đả cởi bỏ nội qui của Phật Môn , đem những phương pháp tu trì được xem là báo vật của Mật Tông ra mà công bố cho mọi người ở ngoài đời biết đến ; những phương pháp tu trì nầy được giới khí công gọi là Khí Công Mật Tông hay Tạng Mật Khí Công .

    Mật Tông Tây Tạng chia ra làm Tứ Bộ , gồm có Tác – Hành – Du Già và Vô Thượng Du Già , thì phương pháp tu tập Vô Thượng Du Già của Phái Áo Đỏ và Phái Áo Trắng là có hệ thống và cao thâm hơn cả . Khí Công Mật Tông đả tập hợp lý luận tu tập , phương pháp tu tập của tất cả các môn phái Mật Tông và thành quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu Tạng Mật , thành một hệ thống tập luyện hoàn chỉnh và thực dụng cho mọi người .

    Những phương pháp tu trì của Khí Công Mật Tông gồm có : Bổn Tôn Pháp – Hộ Pháp – Sự Nghiệp Pháp – Hộ Ma Pháp – Bí Quan Pháp - Lục Du Già và Đại Thủ Ấn trong Đại Viên Mản Thứ Đệ - Cửu Tiết Phật Phong – Bảo Bình Khí – Chiết Hỏa Định còn gọi là Phẩn Nộ Phật mẩu – Tam Mạch Thất Luân – Khí , Mạch , Minh Điểm ......, là những phương pháp tu trì thuộc khí công dưởng sinh và làm khai phát tiềm năng của nhân thể con người .
    Những phương pháp nầy chú trọng tu luyện đến dòng năng lượng duy trì sinh mạng của con người , được thuật ngử khí công gọi nôm na là Chân Khí hay Nguyên Khí . Nhờ sự công khai truyền ra ngoài đời phương pháp tu trì Bổn Tôn , làm cho người đời thấy được , sự thần bí thâm áo của Bổn Tôn Đại Pháp nầy .

    Thông qua sự tu trì thực tiển , mọi người thấy được sự bắt ấn quyết của Mật Tông phù hợp với khí pháp của kinh lạc tạng phủ Đông Y , ngoài ra sự bắt ấn quyết của tay được xem là cột trụ ang ten và những sự bắt ấn quyết khác nhau của hai tay , còn được xem là cách điều chỉnh tầng số dao động của cột ang ten để thu bắt những năng lượng cao cấp khác nhau của vủ trụ ; Tâm quán tưởng Bổn Tôn , quán tưởng Chủng Tử Tự , quán tưởng Tự Luân , làm cho tâm được an định trụ vào một nơi , tiêu trừ được thất tình lục dục ; nhờ sự kiên tâm trì chí quán tưởng thiền định , giúp cho hành giả tu luyện nâng cao định lực và niệm lực của mình , phù hợp với tâm lý và từ đó ảnh hưởng đến sinh lý , làm bộc lộ được sức mạnh tâm linh siêu quần .....Miệng niệm chú chân ngôn , còn gọi với thuật ngử khí công là Tin Tức Mật Mả , Đặc Ý .....có tác dụng bên trong tâm nảo , làm cho tâm trụ vào một nơi , biến vạn niệm thành nhất niệm ; thêm vào đó những âm ba của chú ngử , làm sản sinh những rung động của sóng vật lý , và những sóng rung động của hạ âm , do sự mặc tụng bên trong , làm chấn động khí huyết và tạng phủ , có công năng đả thông kinh mạch , làm lưu thông khí huyết và tiêu trừ bệnh tật cho mọi người .

    Ba món báu mật của Đạo Giáo là TINH – KHÍ – THẦN ; Ba món vật quí giá của Phật Giáo Hiển Tông là PHẬT – PHÁP – TĂNG ; Ba món vật quí báu của Phật Giáo Mật Tông là KHÍ – MẠCH – MINH ĐIỂM.

    Mật Tông chú trọng sự luyện tập của cá nhân về Ý và KHÍ ; Từ sự luyện tập ĐIỂM trở thành KHÍ, và từ KHÍ chuyển vận KINH MẠCH, từ đó sinh ra NỘI HỎA ( lửa bên trong ), từ nội hỏa sản sinh ra QUANG MINH ( sự chiếu sáng ), từ quang minh hòa nhập vào biển VŨ TRỤ QUANG, đạt đến cảnh giới của PHẬT QUẢ, đó là sự liên hệ quan trọng, giữa ĐẠI THỦ ẤN và KINH MẠCH.

    KINH MẠCH là gì ? người xưa có nói : Kinh mạch giả, hành khí huyết, thông âm dương. Trong cơ thể của con người, kinh mạch là những con đường, để khí huyết lưu thông đi nuôi cơ thể.

    Sự tu luyện của Đạo gia phái Côn Luân, chú trọng đến phương pháp Thông Tam Tiêu – là Thượng Tiêu, từ̉ hoành cách mô trở lên, trung tiêu là từ hoành cách mô xuống đến bụng, hạ tiêu là từ bụng xuống đến chân.
    Kinh mạch được chia ra làm 12 đường kinh mạch là : 1.- Thủ thái dương
    phế kinh. 2.- Thủ âm minh đại trường kinh. 3.- Túc âm minh vị kinh. 4.- Túc thái dương tỳ kinh. 5.- Thủ thiếu dương tâm kinh. 6.- Thủ thái âm tiểu trường kinh. 7.- Túc thái âm bàng quang kinh. 8.- Túc thiếu dương thận kinh. 9.- Thủ khuyết dương tâm bào kinh. 10.- Thủ thiếu âm tam tiêu kinh. 11.-Túc thiếu âm đảm kinh.12.- Túc khuyết dương can kinh.
    Kỳ kinh bát mạch gồm có : 1.- Nhâm mạch. 2.- Đốc mạch. 3.- Xung mạch. 4.- Đới mạch. 5.- Dương duy mạch. 6.- Âm duy mạch. 7.- Dương kiểu mạch. 8.- Âm kiểu mạch.

    Sự tu luyện cuả Đạo gia, vận khí trong 12 kinh mạch, gọi là sự vận hành khí trong Đại Châu Thiên, còn sự vận hành khhí trong kỳ kinh bát mạch gọi là Tiểu Châu thiên.
     
    #3
  4. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Phương pháp Đại Thủ Ấn của Mật Tông

    Mật tông đem những Tùng Thần kinh, Chủ yếu là Kinh Mạch chia ra làm 7 trung tâm, phân chia như sau : 1.- Đỉnh đầu. 2.- Giữa chân mày. 3.- Ở cổ. 4.- Ở giữa ngực ngang tim. 5.- Ở bụng. 6.- Sinh thực khí. 7.-Ở xương cùng.

    Đem nội hỏa gọi là châm lửa, đem mạch phân làm Tả mạch – Hữu mạch và Trung mạch. Do đó, 7 trung tâm và 3 mạch cuả Mật Tông và 12 kinh cùng Bát mạch của Đạo giáo, đại thể căn bản là giống nhau.

    Đại Thủ Ấn nói về vận hành khí huyết, thông kinh mạch, nước cam lồ thấm nhuần tạng phủ, thấm nhuần gân cốt, điều hòa Thủy,Hỏa, Phong, Thổ. Những tác dụng trên, đều giống cách luyện tập của Đạo gia trung Hoa.

    Phương pháp thông quan của Mật tông là đầu tiên đả thông kinh mạch, sau đó hội tụ lửa thành một điểm, sau đó châm lửa đốt thành ánh sáng ; phương pháp nầy giống như phương pháp của Đạo gia là : luyện Tinh hóa Khí, luyện khí hóa Thần, luyện Thần hoàn Hư, Luyện Hư hoàn Đạo.

    Ba điểm bí mật của Mật Tông Đại Thủ Ấn là : 1.- Quán tưởng. 2.- Thất chi thiền tọa. 3.- Chú Âm tức là thu nạp hít thở và niệm chú.

    Tam quán của Đại thủ Ấn là : Không quán – Giả quán và Trung quán.

    Không quán là quán tưởng vạn pháp tự thể là không có ; Giả quán là vạn pháp do duyên sanh hư tướng, sanh sanh diệt diệt. Trung quán là vạn pháp không thiệt, không giả, trung đạo, tức là áp dụng vạn pháp cho đúng lúc đúng thời, đúng Thời và Vị theo như tinh hoa cuả Kinh Dịch vậy.

    Tập luyện Tam quán cuả Đại Thủ Ấn, có thể giúp Hành giả phá vở Ba điều mê hoặc, chứng đắc Tam trí và thành tựu Tam Đức, cuối cùng vĩnh viễn thoát được Ma đạo.

    Ngoài ra , còn có sự quán tưởng huyệt Đan điền là Nội quán, còn Ngoại quán, Hành giả có thể nhìn chân dung, Pháp tướng uy nghiêm, hình ảnh vị Thầy của mình, làm đối tượng để quán tưởng ; Hành giả nhìn vài giữa chân dung, ngay chân mày cuả Thầy mình một cách mảnh liệt và tưởng tượng từ đó phóng ra, một luồng ánh sáng trắng, phóng đến giữa chân mày của mình. Đây là phương pháp tập trung tinh thần, đem tạp niệm biến thành nhất niệm, tập như thế một thời gian, hành giả có thể tiến đến,tập nội quán, quán tưởng tại đan điền. Khi hành giả tập trung chú ý đến huyệt Đan điền, thì ánh sáng sẽ hiện ra. Ngoại quán, quán tưởng lấy chân dung uy nghiêm vị Thầy của mình làm đối tượng để quán tưởng ; còn Nội quán, quán tưởng của Đạo gia, thì đầu tiên quán tưởng huyệt đan điền, sau đến huyệt mạng môn, thứ ba quán tưởng huyệt Dủng Tuyền ở chân, thứ tư huyệt Bách hội, sau đó quán huyệt Mi tâm, giữa chân mày.

    Còn nguyên tắc Đại Thủ Ấn của Mật Tông, đầu tiên quán tưởng Đan điền, sau đó đến trung tâm ở bụng, đến trung tâm tim, thứ tư ở cổ, thứ năm mi tâm và chót hết đến đỉnh đầu.

    Trong lúc quán tưởng, không được căng thẳng thần kinh, hay chú ý quá sức, mà cần phải thư thả tự nhiên, không gấp rút....

    Về phương pháp quán tưởng để làm phát sinh luồng nhiệt năng nội hỏa, thì hoàn toàn nhờ vào sự hít thở và tưởng tượng ; khi hít không khí vào, thì tưởng tượng màu trắng, khi đến đơn điền biến thành màu đỏ, khi thở không khí ra, không khí biến thành màu đen. Việc tưởng tượng màu sắc có ý nghĩa như sau : Tưởng tượng ánh sáng trắng là biểu hiện cuả sự hấp thụ thanh tịnh quang minh ; màu đỏ là sự phát sinh nội hỏa ; màu đen là sự phế thải ra khí dơ và nghiệp chướng, hoặc có thể thay màu đen thành màu lam hay xanh cũng được.

    Phương pháp quán tưởng nội hỏa :

    Đầu tiên tưởng tượng một điểm tròn màu đỏ, tại huyệt đan điền, cách dưới rốn 4 ngón tay, huyệt nầy là điểm giao thoa của Tam mạch, tả hữu và trung mạch ; Điểm đỏ nầy được tưởng tượng như một đốm lửa nóng như than hồng trong lò, đỏ rực tỏa ra hơi nóng, sau đó hít một hơi dài, vận khí đi vào hai mạch tả hữu, để đi đến huyệt đan điền, thổi cho điểm lửa ở đây, mổi lúc càng nóng hơn ; khi thở ra hành giả tưởng tượng, thở ra không khí màu đen, hít thở như vậy, một vòng gọi là một tức ; cứ 10 tức thì cục lửa hóa ra to lớn hơn và thăng lên một trung tâm lực cao hơn,tức từ đan điền đi lên trung tâm tim, cổ, mi tâm.....Hít vào đếm 6 nhịp, ngưng 2, thở ra 6, ngưng 2 là xong một chu kỳ.

    Khi tập lên cao, Thủ Ấn, Thân Ấn có thể biến thành quán tưởng ; Chú ngữ biến thành Thu Nạp hít thở ; và hít thở có thể hóa thành khí để quán tưởng ; đó là sự hợp nhất của Tam Quán.
     
    #4
  5. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    QUÁN ĐẢNH
    [​IMG]

    Thực hành Kim Cương thừađược bắt đầu thông qua một quán đảnh. Để hiệu quả, quán đảnh đòi hỏi sự chứngngộ của đạo sư, bậc trao truyền nó, cũng như sự tin tưởng và trí thông minh củađệ tử nhận nó. Những quán đảnh này mang hình tướng là các nghi thức phức tạpkhác nhau. Trong những quán đảnh của các bổn tôn Mật thừa vĩ đại, các kiểu phổbiến và chi tiết nhất của quán đảnh được đặc trưng bởi việc sử dụng một mạn-đà-lacát màu. Kiểu trung bình sẽ sử dụng mạn-đà-la vẽ trên vải. Một kiểu đơn giảnhơn là sử dụng mạn-đà-la làm bằng các đống gạo nhỏ. Cuối cùng, trong quán đảnhđược giảm tới mức tinh túy, thân của đạo sư, bậc ban quán đảnh hay chỉ một sự đạidiện tinh thần đơn giản là đủ để biểu tượng cho mạn-đà-la.


    Bốn giai đoạn của một quán đảnh
    Một quán đảnh trong dạngthức trọn vẹn phổ biến nhất bao gồm bốn phần nhỏ gọi là bốn quán đảnh.
    - quán đảnh bình
    - quán đảnh bí mật
    - quán đảnh trí tuệ
    - quán đảnh thứ tư hayquán đảnh của khẩu cao quý
    Các dạng thức đơn giản củaquán đảnh hạn chế ở mức trao truyền thân, khẩu hay ý của bổn tôn hoặc chỉ vớiquán đảnh bình. Tuy nhiên, quán đảnh trong sự trọn vẹn, ám chỉ đến bốn phần nhưvừa đề cập. Chỉ trong những hoàn cảnh này mà samaya giới mới đóng vai trò đầy đủ và phải được tôn trọng một cáchtỉ mỉ với sự trao truyền lực gia trì để mở ra cánh cửa của các thành tựu.


    Các giai đoạn chuẩn bị
    Vị lạt ma chịu trách nhiệmban quán đảnh, trước tiên cần tuân thủ Mật điển tham chiếu được tuyên thuyết bởiĐức Phật bằng cách chuẩn bị mạn-đà-la, thứ phục vụ như một hỗ trợ. Mạn-đà-lanày có thể là mạn-đà-la cát, mạn-đà-la được vẽ, hay một mạn-đà-la bao gồm các đốnggạo nhỏ được đặt một cách biểu tượng trên đế. Tiến hành một mình, vị lạt ma thựchiện một phần của nghi lễ trong ba giai đoạn chuẩn bị.
    - dakye, ở đó vị lạt ma tự quán tưởng bản thân trong hình tướng bổntôn
    - dunkye, ở đó vị lạt ma quán tưởng chư bổn tôn trong hư không
    - bumkye, ở đó vị lat ma gia trì bình quán đảnh, quán tưởng nó như làcung điện linh thánh mà chư bổn tôn của quán đảnh đang ngự
    - cuối cùng, giai đoạnchuẩn bị thứ tư được thêm vào. Vị lạt ma ban quán đảnh cho bản thân (dajuk). Chỉ sau giai đoạn này các đệ tửmới được vào chùa để nhận quán đảnh.


    Quán đảnh bình
    Đệ tử trước tiên nhậnquán đảnh bình, được trao truyền lên thân. Điều này giới thiệu đệ tử với bảntính thanh tịnh của các thành phần khác nhau của tính cách tâm – vật lý của họ.Có năm uẩn, năm yếu tố hay các nhân tố của nhận thức. Quán đảnh này được ban vớisự giúp đỡ các Pháp khí nghi lễ, biểu tượng cho năm vị Phật phụ – như là vươngmiện, chày kim cương, chuông và nhiều thứ khác. Nhờ quá trình này, các lỗi lầmvà che chướng liên quan đến thân tan biến và các thành phần của bản thân trởthành những khía cạnh thanh tịnh tương ứng: năm vị Phật phụ, năm vị Phật mẫu,tám Bồ Tát nam và nữ và nhiều vị khác. Quán đảnh này ban sức mạnh để thiền địnhvới chính thân này trong hình tướng của thân bổn tôn và một cách tuyệt đối sẽ dẫnchúng ta đến việc đạt được thân Hiển bày (Hóa thân).


    Quán đảnh bí mật
    Quán đảnh thứ hai, quánđảnh bí mật, liên quan đến khẩu, được truyền bởi rượu gia trì, thứ trở thànhcam lồ (tiếng Tạng dutsi), chứa trongbát sọ người. Đệ tử uống vài giọt. Quán đảnh này tịnh hóa các che chướng và lỗilầm về khẩu, ban sức mạnh để trì tụng thần chú của bổn tôn và cho phép người tađạt được thân của kinh nghiệm hoàn hảo (Báo thân).


    Quán đảnh trí tuệ
    Quán đảnh thứ ba, quán đảnhtrí tuệ, liên quan đến tâm, được trao truyền bởi một trí tuệ (tiếng Tạng rikma), tức là, một người phụ nữ trẻ, đượcvẽ, dành cho nghi lễ trên tấm thẻ nhỏ. Quán đảnh này tịnh hóa các lỗi lầm vàche chướng liên quan đến tâm và ban sức mạnh để thiền định về sự hợp nhất của hỷlạc và tính không, và đạt được thân tuyệt đối (Pháp thân).


    Quán đảnh của khẩu cao quý
    Quán đảnh thứ tư, quán đảnhcủa khẩu cao quý, không sử dụng các Pháp khí nghi lễ mà bao gồm một giới thiệukhẩu truyền đến kiểu tồn tại của tâm và mọi hiện tượng. Tác động của nó được đặtở mức độ đồng thời – sự tịnh hóa đồng thời các lỗi lầm và che chướng của thân,khẩu và ý. Nó cũng cho phép thiền định đồng thời với thân là thân của bổn tôn,khẩu là thần chú của bổn tôn và ý là trạng thái định. Một cách tuyệt đối, nó dẫnđến sự chứng ngộ của thân tinh túy (Tự tính thân, tiếng Phạn svabhavakaya), sự hợp nhất của ba thânkhác của Giác ngộ.
    Để một quán đảnh có tácdụng thực sự, dĩ nhiên cần phải có các điều kiện bên ngoài nhất định. Vị lạtma, người ban nó cũng cần có sự trao truyền chân chính và tiến hành nghi lễchính xác, không thêm hay bớt thứ gì. Cuối cùng, đệ tử, những kẻ nhận nó cần cóniềm tin trọn vẹn với vị lạt ma, một vài sự hiểu biết về quá trình và sự xácquyết về hiệu quả của nó.
    Cách tiếp cận Kinh điểncủa Đại thừa và cách tiếp cận Mật điển của Kim Cương thừa dẫn đến cùng một mụctiêu, nhưng với lượng thời gian khác nhau. Người ta nói rằng hành giả cần thựchành ba vô lượng kiếp trước khi đạt đến Giác ngộ nhờ con đường Kinh thừa. Họcũng nói rằng tối đa mười sáu đời là cần thiết để đạt được mục tiêu tương tự nhờcon đường Mật thừa. Về tối thiểu, nó khác biệt theo các bản văn. Một vài nói rằngtrong sáu tháng, số khác nói sáu hay mười hai năm, nhưng trong bất kỳ trường hợpnào, Giác ngộ đều đặt được trong chính đời này.
     
    #5

Chia sẻ trang này