PHONG THỦY HỌC - ĐÀM ĐẠO

Thảo luận trong 'DỊCH HỌC ( Dịch số, Thái Ất, Kỳ Môn Ðộn Giáp...)' bắt đầu bởi catbuicuocdoi, 28 Tháng sáu 2015.

  1. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    hần 2 : KHẢO QUA HUYỀN KHÔNG ( tiếp theo ).
    ( Vì chỉ khảo sát qua Cổ dịch Huyền không nên dienbatn không đi sâu vào những kiến thức cơ bản. Những điều này hầu như sách nào cũng nói đến và các bạn có thể tham khảo trên trang http://www.huyenkhonglyso.com/. Đây là một trang quy tụ nhiều nhân tài như Vanhoai, VinhL...Longnguyenquang, vuivui...là những người quen của dienbatn từ trang Tuvilyso.net . Có ai qua đó, cho dienbatn gửi lời hỏi thăm và tặng vanhoai tấm ảnh khoảng gần 10 năm trước tại nhà chị Mai - Thái Bình. ).Phần viết của Khảo qua Huyền không chỉ chú trọng vào những điểm cần lưu ý và các sách ít nói đến .dienbatn.
    [​IMG]
    NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý TRONG KHẢO QUA HUYỀN KHÔNG.
    1/ PHÂN KIM.
    Phân kim là phép đặt sơn hướng, đặt tâm cổng, cửa vào những vị trí có độ số tốt nhất. Tránh phạm vào Không vong, lạc quái, sai thác.

    [​IMG]
    A/ KHÔNG VONG :

    * Đại không vong : Là đường phân tuyến ( có 8 đường ) giữa các cung ( quẻ ) bát quái, trong đó có 4 Đại không vong có thấu Địa long và 4 Đại không vong không có Thấu địa long.
    a/ Tứ Đại Không vong không có thấu Địa long bao gồm những đường sau :
    * Đường phân tuyến giữa quẻ Chấn và quẻ Cấn.
    * Đường phân tuyến giữa quẻ Tốn và quẻ Ly.
    *Đường phân tuyến giữa quẻ Khôn và quẻ Đoài.
    * Đường phân tuyến giữa quẻ Càn và quẻ Khảm.
    Tứ Đại Không vong có thấu Địa long là hung họa nhất trong trạch vận.
    b/ Tứ Đại Không vong có Thấu Địa long là khi mà sơn hướng nhà , tâm cổng, cửa rơi vào các vị trí sau :
    * Long Nhâm Thìn ( Vòng 60 Thấu Địa long ).
    * Long Ất Mùi.
    * Long Mậu Tuất.
    Long Kỷ Sửu.
    Lạc vào Bát Đại không vong là tối hung họa, thường gây ra bệnh tật, tai họa, chết người, hao tiền , tốn của. Khi lạc vào Lạc vào Bát Đại không vong thì đa phần gia đình không hòa thuận , hôn nhân lục đục, hay bị cô quả .

    * Tiểu không vong : Là đường phân tuyến giữa 24 sơn. Có 16 đường Tiểu không vong , trong đó có 8 đường Tiểu không vong không có long và 8 đường Tiểu không vong có long.

    a/ 8 đường Tiểu không vong không có long bao gồm :
    * Đường phân tuyến giữa Mão - Ất .
    * Đường phân tuyến giữa Thìn - Tốn.
    * Đường phân tuyến giữa Ngọ - Đinh.
    * Đường phân tuyến giữa Mùi - Khôn.
    * Đường phân tuyến giữa Dậu - Tân.
    * Đường phân tuyến giữa Tuất - Càn.
    * Đường phân tuyến giữa Tý - Quý,
    * Đường phân tuyến giữa Sửu - Cấn.
    b/ 8 đường Tiểu không vong có long.
    Đường phân tuyến giữa Tân - Mão.
    * Đường phân tuyến giữa Quý - Tỵ.
    * Đường phân tuyến giữa Giáp- Ngọ.
    * Đường phân tuyến giữa Bính - Thân.
    * Đường phân tuyến giữa Đinh - Dậu.
    * Đường phân tuyến giữa Kỷ - Hợi.
    * Đường phân tuyến giữa Mậu - Tý.
    * Đường phân tuyến giữa Canh - Dần.

    B/ LẠC QUÁI.

    Lạc quái là đường sơn hướng của nhà , đường tâm cổng, cửa nằm sát vào đường phân tuyến giữa các quẻ. Long lạc quái bao gồm :
    * Giáp Dần - Đinh Mão.
    * Đinh Tỵ - Canh Ngọ.
    * Canh Thân - Quý Dậu.
    * Quý Hợi - Giáp Tý.
    Lạc quái là tiến thoái bất nhất, vợ chồng lục đục, anh em bất hòa, văn nhân hay mắc phải bệnh tâm thần, nhiều sự việc bất hạnh liên tiếp xảy ra. Người ta gọi nhà Lạc quái là " tiện cục ".

    C/ ÂM DƯƠNG SAI THÁC .

    Âm dương sai thác là đặt sơn hướng của nhà hoặc tâm của cổng, cửa nằm đúng vị trí của bát long sau :
    * Bính Thìn - Kỷ Tỵ.
    * Kỷ Mùi - Nhâm Thân.
    * Nhâm Tuất - Ất Hợi.
    * Quý Sửu - Bính Dần.
    Nhà phạm vào âm dương sai thác là tiến thoái lưỡng nan ( Còn gọi là âm dương sai thố ). Nhà loại này hay bị kiện tụng , miệng tiếng thị phi, khẩu thiệt, tổn nhân đinh, dễ mất chức, giới sĩ bị bôi bẩn , hoen ố. Nhà này gọi là nhà " Bại cục ".

    D/ PHÂN KIM.

    1/ Giải thích phân kim: Vòng tròn 360 độ chia cho 60 phần, bắt đầu từ Giáp Tý cho đến Quý Hợi. Giáp Tý hành Kim nên gọi là phân Kim.
    2/ Chính Kim : Là vượng khí.
    Chính kim có 24 thấu địa long như sau :
    Kỷ Mão - Nhâm Ngọ - Ất Dậu - Bính Tý.
    Quý Mão - Nhâm Ngọ - Ất Dậu - Canh Tý.
    Canh Thìn - Quý Mùi - Bính Tuất - Đinh Sửu.
    Giáp Thìn - Đinh Mùi - Canh Tuất - Tân Sửu.
    Tân Tỵ - Giáp Thân - Đinh Hợi - Mậu Dần.
    Ất Tỵ - Mậu Thân - Tân Hợi - Nhâm Dần.
    Đây chính là 24 Huyệt khí Bảo châu. Trên La kinh phần trên Huyệt khí Bảo châu được tô màu đỏ.

    E/ PHÂN CHÂM THEO TRẠCH VẬN.


    Khi đặt La kinh lấy hướng nhà, hướng cổng , cửa chúng ta phải lấy theo Tam nguyên Long ( Thiên, Địa , Nhân nguyên Long ).

    * Địa nguyên long : + Giáp, Canh , Nhâm , Bính.
    - Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
    * Thiên nguyên long : + Càn , Khôn , Cấn, Tốn.
    - Tý , Ngọ , Mão, Dậu.
    * Nhân nguyên long : + Dần , Thân , Tỵ , Hợi.
    - Ất , Tân , Đinh, Quý.
    Lưu ý : Hướng nhà dương, hướng cửa âm và ngược lại cùng một Long thì khí mạnh. Thí dụ : Hướng nhà Dần , Thân, Tỵ, Hợi thì dùng hướng cửa Ất, Tân , Đinh, Quý.
    Khi đặt phân châm thì lấy hướng nhà và cổng, cửa cùng một Long ( Thiên, Địa, Nhân ) . Nếu hướng nhà dương thì lấy hướng cửa , cổng âm và ngược lại.
    Khi đặt phân châm phải lấy chính hướng ở giữa 24 hướng để lọt bào Huyệt khí Bảo châu. Không đặt vào hướng Không vong, lạc quái và Không vong sai thác.
    Ví dụ : Nhà tọa Sửu - Hướng Mùi : Cả hướng và tọa đều là âm Địa nguyên long. Nên mở cửa các hướng Canh , Bính.

    G/ KHI LÀM NHÀ CẦN CHÚ Ý :


    1/ Hướng nhà ; Nằm vào Huyệt Khí Bảo châu.

    2/Tuổi chủ nhà.
    3/ Cổng.
    4/ Cửa : Theo hướng nhà.
    5/ Cung vị : Cung vị hung đặt WC, nhà kho, chuồng nuôi gia súc. Cung vị cát : Đặt bếp, bàn thờ, giường ngủ.
    6/ Hợp hướng : Sau khi được vị cát thì xoay theo hướng cát . Lưu ý : Vị là tọa độ trong nhà, hướng là theo phương 24 hướng.
    7/ Vận : Cứ 20 năm tính là một vận. Nếu :
    * Mệnh tốt, vận xấu là nhà trung bình.
    * Mệnh tốt , vận tốt là nhà rất tốt.
    * Mệnh xấu , vận tốt là nhà khá.
    * Mệnh xấu , vận xấu là nhà rất xấu.
    8/ Đặt cổng : Khi đặt cổng phải đặt vào các vị trí cát như Sinh khí, Phúc đức, Thiên y để được sinh vượng.
    Kỵ đặt cổng :
    "Quý nhập lôi môn thương trưởng tử.
    Hỏa kiến thiên môn thương lão ông.
    Ly xâm Tây Đoài phương thương nữ.
    Tốn nhập Khôn vị mẫu ly ông.
    Đoài gia Chấn , Tốn trưởng nhi nữ.
    Cấn Ly âm phụ hoa gia phong.


    Cấn , Khảm tiểu khẩu đa tật bệnh.
    Khôn Khảm trung nam mạng tảo vong."


    Giải thích :
    * Nhà tọa Chấn , nếu mở cổng phương Càn là phương động khí do người qua lại . Vì vậy khi Càn kim tràn vào khắc Chấn mộc là trưởng nam ( Càn phối Chấn ra Ngũ quỷ ).
    * Nhà tọa Càn nếu mở cổng, cửa phương Ly hỏa - Càn phối ly thành tuyệt mạng khiến bố, ông chết.
    * Nhà Đoài mở cổng cửa phương Ly . Đoài phối Ly sinh Ngũ quỷ, khắc Sơn chủ Đoài là con gái.
    * Nhà tọa Khôn mở cổng cửa phương Tốn . Khôn phối Tốn thành Ngũ quỷ, khắc người mẹ.
    * Nhà tọa Tốn mở cửa phương Đoài . Đoài phối với Tốn thành Lục sát khắc tốn là trưởng nữ.
    * Nhà tọa Cấn mở cổng phương Ly. Cấn phối Ly tạo thành họa hại
    Các câu khác tương tự.
    Lưu ý : Ta cần lưu ý khi gọi nhà theo sơn hoặc hướng. Ví dụ : Nhà hướng Nam, sơn chủ Khảm người ta gọi là Ly trạch, dùng để phối hướng. Còn gọi là Khảm trạch để sử dụng khi mở cổng cửa nhà. Mặc dù vẫn chỉ là một căn nhà có mặt tiền Nam, mặt hậu Bắc gọi là Sơn chủ.

    H/ HOÀNG TUYỀN - BÁT SÁT.

    1/ Hoàng tuyền ca ( Tính theo hướng ).

    Đinh , Canh, Khôn thượng thị hoàng tuyền.

    Ất , Bính tu phòng Tốn thủy tiên.
    Giáp, Quý hướng lai hưu kiến Cấn.
    Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương Kiền.

    Ví dụ : * Nhà hướng Khôn mà tại các hướng Đinh, Canh có đường đi vào , hoặc có thủy lao đến từ 2 hướng đó là phạm vào Hoàng tuyền..
    * Nhà hướng Cấn mà có con đường hoặc thủy chạy tới từ hướng Giáp, hướng Quý là phạm Hoàng tuyền. Kể cả khi có hồ ao ở hai hướng đó cũng là phạm Hoàng tuyền.
    * Nhà hướng Càn mà gặp đường đi vào , hoặc có thủy lao đến từ 2 hướng Tân, Nhâm phạm Hoàng tuyền. Kể cả khi có hồ ao ở hai hướng đó cũng là phạm Hoàng tuyền.
    Hoàng tuyền là vị trí tử huyệt của tọa Sơn mà thôi. Với Sơn là can âm thì sợ vị trí Tử. Với Sơn là can dương thì sợ chữ Tuyệt.

    I/ VÒNG TRÀNG SINH.


    * Giáp + trường sinh khởi thuận từ Hợi.

    * Ất - Tử tại Hợi khở nghịch.
    * Bính , Mậu khởi thuận Trường sinh tại Dần.
    * Canh khởi thuận Trường sinh tại Tỵ.
    * Tân Khởi Tử nghịch tại Tỵ.
    * Nhâm Khởi Trường sinh thuận tại Thân.
    * Quý khởi Tử nghịch tại Thân.

    Ví dụ : Nhà tọa Giáp - Hướng Canh khởi Trường sinh tại Hợi theo chiều thuận.
    K/ BÁT SÁT CA.

    Khảm Long Khôn Thỏ Chấn sơn Hầu.
    Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu.
    Cấn Hổ Ly Chư vi sát diệu.
    Mộ trạch phùng chi nhất về hưu.


    Nếu lưng nhà (Sơn chủ ) ở Khảm tức Nhâm , Tý , Quý . Khảm thuộc hành Thủy mà mở cửa chính hay phụ, cổng ngõ ở phương Thìn , hoặc tại phương Thìn có thủy lưu, thủy tụ hoặc có con đường đâm xộc thẳng đến là Thìn Thổ khắc Khảm Thủy. Do vậy gọi là phạm Bát sát. Các câu khác tương tự.

    Người ta có câu : Nhất vị - Nhị Hướng để chỉ tầm quan trọng của hướng và vị.

    L/ LINH THẦN - CHÍNH THẦN.


    a/ Chính Thần : Phương vị chính vận gọi là chính Thần. Chính Thần là phương vượng Khí.

    b/ Linh Thần: Là phương vị đối xứng với Chính Thần. Linh Thần là phương thoái Khí.
    c/ Chính Thủy : Ở phương vị Linh Thần nếu thấy Thủy gọi là Chính Thủy. Chíh Thủy là Thủy vượng.
    d/ Linh Thủy : Ở phương vị Chính Thần nếu thấy Thủy gọi là Linh Thủy. Linh Thủy là Thủy suy.

    2/ LẬP VẬN BÀN.


    Vận bàn bao gồm 3 tinh đẩu : Vận tinh - Hướng tinh - Sơn tinh. Việc sắp xếp vận bàn là sắp xếp sự vận hành giữa 3 cung tinh đẩu trong cửu cung trạch.

    a/ Vận tinh : Lấy số của vận đặt vào trung cung thuận phi tinh ( Thiên vận cửu tinh ).
    b/ Hướng tinh : Lấy vận tinh đến Hướng nhập Trung cung , ghi nhỏ bên phải rồi dùng số của Lạc thư phối âm hoặc dương để định quỹ đạo thuận nghịch.
    c/ Sơn tinh : Lấy vận tinh tới Sơn nhập trung cung ghi nhỏ bên trái rồi lấy số của Lạc thư phối âm hay dương để định quỹ đạo thận hay nghịch.
    ( Các bạn nên tham khảo kỹ trong các cuốn : Thẩm thị huyền không học )
    Đồ hình bay thuận.

    [​IMG]
    Đồ hình bay nghịch .

    [​IMG]
    Thiên nguyên Long Sơn Ngọ - Hướng Tý vào Bát vận.

    [​IMG]
    3/ ĐÁO SƠN - ĐÁO HƯỚNG.

    Đáo là sự trở về.
    * Đáo Sơn là Sơn tinh của Vận lại trở về đúng vị trí của Sơn.
    * Đáo hướng : Là Hướng tinh của Vận lại trở về đúng vị trí của Hướng.
    Đáo Sơn tức là vượng Sơn.
    Đáo Hướng tức là vượng Hướng.
    Khi Sơn tinh của Vận khí ra số trùng với số của Đại vận thì ta gọi là Sơn Vận.
    Khi Hướng tinh của Vận khi ra số trùng với số của Đại Vận ta gọi là Hướng Vận.
    Trong mối quan hệ giữa Sơn và Hướng : Sơn chủ nhân đinh - Hướng chủ về Tài lộc.
    Trong Địa lý Phong thủy phải xét Lý khí và môi trường .
    Lý khí : Trạch vận bên trong ngôi nhà là nội lực , chiếm 40 %.
    Môi trường : Ngoại cảnh bên ngoài căn nhà , chiếm 60 %.
    Vượng sơn vượng hướng: thích hợp nhất dùng cho sơn long, cũng hợp nhất với đa số : Phía sau có chủ tinh đẹp, thanh tú, long hổ đều dừng, mắt trước có đoạn cong đẹp của dòng nước chảy bao quanh, hoặc có nước trong sâu của hồ phát quang, là thế cục đạt tiêu chuẩn. Từ cục diện đó trọng lai long tinh thể, quá hẹp, xuất mạch, thắt lại, huyệt tinh dựa vào nhọn, tròn và vuông là ba ngôi sao tốt. Toạ hướng của xuấ mạch và kết huyệt không thể phạm và xuất quẻ, sai lầm. Nếu kết hợp những người liêm khiết, có phúc lâu dài, chủ chính là quân tử, nhân khẩu đông đúc, xuất hiện quý nhân, trường thọ, ái tinh lại có được "thập hợp", "Thư hùng chính phối", "Tam ban quẻ", phúc trạch dài lâu.

    4/ THƯỚNG SƠN - HẠ THỦY.

    Thướng là sự lên cao không đúng chỗ.
    * Thướng Sơn là Hướng tinh của Vận lại đến vị trí của Sơn ngụ.
    * Hạ thủy là Sơn tinh của Vận lại đến vị trí của Hướng ngụ.
    Sách Thanh nang kinh có viết : " Sơn thượng long thần bất hạ thủy. Hạ lý long thần bất thướng Sơn. "
    Vì vậy :
    * Thướng Sơn là suy Hướng.
    * Hạ thủy là suy Sơn.Nếu trạch vận rơi vào cả thướng Sơn lẫn Hạ thủy là cực hung số 1 của trạch vận.
    Thượng sơn hạ thuỷ: thích hợp nhất với địa hình bằng phẳng. Đằng sau địa hình tương đối thấp, xa hơn một chút có suối, sông, dòng nước, hoặc có hồ nước, thác nước tụ họp. Mặt trước địa hình tương đối cao, núi cao có hình thế đẹp. Dương trạch lấy mặt nhà cao tầng là bố cục thích hợp. Từ bố cục này, mặc dù phía tứước cao phía sau thấp, phía tứước có phía sau không nhưng lại được coi là bố cục phù hợp. Nhưng cũng cần phải rõ ràng, không nên hiểu sai cho rằng chỉ cần dựa vào phía sau toạ có thuỷ, phía trước có sơn là có thể sử dụng được. Nếu mà như vậy thì lại không có nơi nào là không có đất. Thuỷ ở phía sau của toạ phải tào thành hình cong giống như hình dáng của cái tổ hoặc cái kìm ( Hình dáng là nửa hình tròn hoặc là hình chữ U). Đỉnh núi, gò đồi, kiến trúc của các toà nhà cần phải có một khoảng cách nhất định ( để không còn có cảm giác bị bức bách). Hình dáng của chúng phải đẹp, cân đối (nhìn thuận mắt), bao bọc lấy bản thân chúng ta, đó mới là mảnh đất có khí mạch, nếu sử dụng mảnh đất này sẽ có được phúc lộc dài lâu. Nếu thuỷ ở phía sau toạ nghiêng, và hướng tới mạch, đây là mảnh đất không tốt, rất dễ bị tuyệt tự, vì thế mà không nên sử dụng mảnh đất này.

    5/ PHẢN PHỤC NGÂM .


    Hai sao Sơn và Hướng nhập trung cung , thuận cục gọi là Phục Ngâm, nghịch cục gọi là Phản Ngâm.

    * Phục ngâm là phi tinh của Sơn hướng có số trùng với số của Lạc thư.
    * Phản ngâm : Phi tinh của Sơn hướng có số trùng với số của Cửu cung địa bàn ( Lạc thư ) . Khi hợp thập thành 10 , Phản ngâm hại không kém gì thướng Sơn hạ Thủy. Đây là họa đứng thứ 2 , nếu phạm phải thì tiền hết, người chết. Tuy nhiên nếu Hướng tinh vượng khí thì không coi là Phản ngâm . Các trường hợp khác không sợ phản phục ngâm là khi tạo thành cung Khảm đả kiếp, cung Ly đả kiếp, Tam ban xảo số .
    Phản, phục ngâm: Sơn tinh của Ái tinh, hướng tinh và "nguyên đơn bàn" tương đồng viết là "phục ngâm"; tương phản viết là "phản ngâm". Đương lệnh do dự, mất đi lệnh thì sẽ gặp phải rất nhiều tai hoạ, chủ về mắc nhiều bệnh, phá sản, gặp nhiều bât trắc trong cuộc sống, thậm chí còn bị tuyệt tự không có người nối dõi. Tại âm quẻ, nữ giới bị thương, tại dương quẻ thì nam giới bị thương.
     
    #41
  2. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    24 SƠN QUYẾT.
    Giới thiệu : Đây là công trình nghiên cứu của cụ Tritri ( www.vietnambuysell.com/ ).
    Đây là một đại yếu quyết rất cần cho một phong thủy sư.
    dienbatn xin cảm ơn cụ Tritri và trân trọng giới thiệu.
    Để xem rõ hơn, các bạn bấm vào hình ảnh sẽ thấy rõ hơn. Thân ái. dienbatn.


    [​IMG]

    [​IMG]


    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]
     
    #42
  3. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]
    BÁT SƠN QUYẾT PHÁP
    CỬU CUNG, BÁT SƠN
    TỔNG LUẬN
    Nhà Địa lý Thái Cửu Thăng nói: Người đời nay nói về Lý Khí ở trong miền Bình dương, đại để là không ngoài hai môn: Cửu Cung và Bát Sơn. Cửu Cung thì lấy Bản cục tinh nhập Trung Cung, phi ra 8 phương, lấy phương Sinh Khí và Vượng kHí làm phương tốt lành. Bát Sơn thì lấy Bản cục quái, khởi sao Liêm Trinh, lấy Tham Lang, Cự Môn, Vũ khúc là 3 sao ở ba phương đó làm tốt lành.Về định cục và biện quái của hai môn thì cùng như nhau, nhưng so sánh cái Cát và cái Hung ở 8 phương thì không giống hệt như nhau. Tức là bất đồng. Xem ra thập Can thì chỉ có 1,2 cái là đồng còn 8,9 cái là bất đồng. Vì thế nên người theo môn Cửu Cung thì bảo Cửu Cung là phải; người theo phái Bát Sơn thì cho Bát Sơn là phải. Hai bên mâu thuẫn và tranh cãi rất nhiều, NHƯNG, thực ra, thì do cả hai phái đều chưa thấu đáo cái LÝ bên trong. Họ có biết đâu Địa Vận có lúc Thịnh, lúc Suy; đắc Vận thì Hưng Vượng, thất Vận thì suy bại. Nếu không tường môn Cửu Cung thì không biết khi nào hưng thịnh, khi nào suy bại, vì Cửu Cung chính là cách xem Khí Vận của Địa cục. Phương vị thì có tinh thuần, có bác tạp.Cho nên mới có câu:
    " Âm, Dương tương kiến nhi cát
    Âm, Dương tương thừa nhi hung"
    ( nôm na là có khi Âm, Dương gặp nhau thì Cát; có khi Âm, Dương gặp nhau lại Hung)
    Và không có Bát Sơn thì không thể biết khi nào Cát, khi nào Hung vậy.
    Bát Sơn là cách xem Thủy định Hướng, nếu không thông tỏ Bát Sơn thì không biết phương vị đó là Cát hay Hung được. Không am hiểu Cửu Cung thì không biết lúc nào Vận Vượng, lúc nào Vận Suy.
    Vậy cả hai môn hỗ tương cho nhau, cùng dùng cả, chẳng thể thiếu một. Nên khi xét phương hướng định vị thì lấy Bát Sơn làm chủ, lấy Cửu Cung để hỗ trợ. Tỷ như Bát Sơn có Cát Địa, Cát Thủy cũng phải đợi đến lúc Vận Vượng mới ứng nghiệm mà phát được.
    Nói vậy cũng có nghĩa là: Khi xem xét Khí Vận phải lấy Cửu Cung làm chủ, mà Bát Sơn hỗ trợ thêm. Tỷ như Cửu Cung đã gặp Vận Hưng, nhưng cũng phải có Cát Sơn, Cát Thủy thì mới phát Phú Quý được.
    Cho nên, cả hai môn cũng như Thể, Dụng đi đôi với nhau, không thể tách rời.
    Xét về ứng dụng thì thế, xét về phạm vi thì Cửu Cung luận cái Tổng Quát, đại lược của bố cục thôi; còn Bát Sơn thì phải đến trên Huyệt mà định 8 quẻ, mỗi quẻ phân ra ba sơn, xem Thủy, xét phương một cách chi tiết hơn. Cả hai môn không thể trộn lẫn mà dùng một cách hỗn tạp, mà phải có từng cái Dụng riêng, do đó không có tình trạng dẫm chân nhau như người của hai phái này thường tranh luận. Vậy ta cũng thấy hai môn đâu hề mâu thuẫn nhau, chỉ có người học không đến nơi, hiểu không đến chốn mới bình phẩm cái này đúng, cái kia sai, không hề có việc cái này phải, cái kia trái khi xét một cuộc đất giửa hai môn này.
    Đại sư Lại Bố Y cho rằng: Bát Sơn dụng Ngũ Quỹ quái, ở trong cái Âm, Dương thuần tịnh có Liêm Trinh; ở cái Âm , Dương bác tạp có Phụ Tinh; chỗ thuần tịnh chẳng phải lúc nào cũng toàn Cát, chỗ bác tạp chẳng phải lúc nào cũng toàn Hung. Âm, Dương cùng gốc, họa phúc cùng chịu. "Cực tắc bất biến" chính là "Thiên đạo chi diệu dã" vậy (Vật đến chỗ cùng cực tất sẽ biến đổi, đó mới đúng là đạo thật hay). Lý này của Ngài chẳng khác nào Ý Dịch mà NCD mình đã nhiều lần nói với các anh chị, các bạn "Dịch không có tốt, không có xấu, mà tốt xấu cùng một chỗ", cũng như vòng tròn Lưỡng Nghi, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, khi đến Thái Dương tất sẽ sinh Thiếu Âm, đến Thái Âm tất sẽ sinh Thiếu Dương vậy.
    Theo Ngọc Xích Kinh nói thì miền Bình dương (đồng bằng) chỉ có Tiểu vận thôi, cho rằng ở miền Bình Dương chỉ có Địa cuộc nhỏ sẽ không đắc Đại vận được, nên chỉ luận Tiểu vận. Nếu các anh chị, các bạn còn nhớ, trong bài "Thánh vật sông Tô Lích", NCD mình đã từng nói ở miền Bình dương đa phần là Huyệt Phú, ít có Huyệt Quý, nhưng nếu có thì Huyệt kết sẽ lớn không kém miền sơn cước. Bởi ở vùng đồng bằng cũng có Đại Cán Longkết Huyệt vậy, chẳng những thế, Lực của nó rất lớn, Khí dồi dào, phải lấy Đại vận mà suy xét sự Hưng, Suy của nó vậy.
    Tiểu Vận thì lấy 20 năm, đổi thay một sao vào giửa Trung Cung mà phi đi.
    Đại Vận thì lấy 60 năm ( tương đương một Nguyên) cũng lấy một sao chủ Đại Vận nhập vào Trung Cung mà thuận phi đi.
    Muốn luận đất là Đại địa hay Tiểu Địa phải xem xét cái Địa Cục đó lớn hay nhỏ, dày hay mỏng mà quyết định Sao vào Trung Cung là của Tiểu Vận hay Đại Vận, có vậy mới khỏi lầm lạc khi quyết đoán sự Cát Hung khi 8 sao phi đến tám phương.
    NGỌC XÍCH CHÍNH KINH
    SƠN, THỦY, KIẾN, PHÁ ĐỊNH CỤC LUẬN.
    Đến bất kỳ Hình cục nào, thấy có Sơn thì xem theo Sơn, thấy có Thủy thì xem theo Thủy. Sơn thì xem theo cái thế nó dẫn lại, phải định rõ được đâu là Tổ Sơn (trong Dương Trạch đô thị, thì xem những Cao Ốc lớn là Tổ Sơn), có thế mới xác định được Mạch đi theo Hướng nào đến. Thủy thì xem chỗ nó triều lại, hay nơi nước hội tụ, hay nơi gần Thủy.
    Sơn tuy là gốc khởi phát Tinh-phong, nhưng Bản cục mà ta chọn thường xem chỗ kết cục, tức Long dẫn vào. Nếu gần nơi Hình cục không có sơn phong khởi chỏm lên, thì lấy chỗ Lai Long, tức là lấy hướng Mạch lại Huyệt trường. Nếu có sơn phong (núi cao lên) thì Bản cục phải theo chỗ phong khởi mà định.
    Thủy tuy gốc ở chỗ Lưu nguyên (phát xuất của nguồn nước), nhưng Bản cục định ở chỗ góc nó triều vào, không có Hợp thủy thì lấy chỗ Thủy hoành nhiễu (quấn quanh ngang mặt). Nếu có chổ Thủy hội họp, thì bản cục lấy ở chỗ hội họp ấy mà quyết.
    Vậy thì ở chốn đồng bằng, đô thị lấy chỗ cao hơn làm Sơn, chỗ thấp hơn làm Thủy. Chỗ Sơn khởi phong cao lên gọi là Kiến, chỗ Thủy gặp nhau gọi là Phá. Kiến làm Chủ, Phá làm Khách, Chủ-Khách phối với nhau thì ra quẻ.
    Sau khi biết được quẻ gì, sao gì thì lấy đó nhập Trung Cung, phi thuận ra 8 phương để xem Sinh, Vượng, Quan Sát và đoán Cát Hung.
    Nói thì khó hiểu, nhưng để mình ví dụ cho dễ hiểu hơn : Tỷ như phương Ly có Thủy thì ta định là Khảm Sơn, phương Càn có Thủy thì ta định là Tốn Sơn
    Sơn xuyên Kiến, Phá yếu phân minh
    Kiến thanh hồ, Phá yếu ninh
    Cánh trị sơn phương vô khắc sát
    Chủ sơn đắc vận, họa nan sinh

    Dịch nôm na đại ý thế này: Núi, sông, Kiến, Phá phải rõ ràng, tinh tường. Ở phương Kiến cần phải thanh, sảo, không nên thô ngạnh; phương Phá cần yên tĩnh. Nếu như phương chủ sơn (quẻ, cục) ấy không bị phương ấy khắc sát. Thì lúc chủ sơn đắc vận, tai họa khó mà xâm hại đến được.
    Ở nơi núi cao thì lấy chỗ cao làm Kiến, chỗ thấp làm Phá. Nơi đất bằng thì lấy Tọa sơn làm Kiến, hướng triều vào làm Phá. Kiến là Chủ thì nên triều vào và tú lệ, thanh quang. Phá là Khách thì nên vòng cong ôm lại.
    Nếu thấy phương Sinh có Cao Sơn mà Thủy uốn vòng quanh, thì con cahú có phước lộc, nếu được chủ Kiến đắc Vận thì đại phát phú quý.
    Cũng phân như Cửu Cung trong Huyền Không :
    Cửu cung Bát Quái thử trung phân
    Nhất Bạch Tham Lang , Khảm Thủy thần
    Cửu Tử Hữu Bật, Ly Hỏa diệm
    Tứ Lục Văn Xương, Tốn Mộc thân.
    Lục Bạch Vũ Khúc, Càn thuộc Kim
    Bát Bạch Cấn Thổ, Tả Phù tinh
    Thất Xích Phá Quân, Đoài Kim quản
    Tam Bích Chấn Mộc, Lộc Tồn sinh
    Ngũ Hoàng Liêm Trinh, Trung cung Thổ
    Nhị Hắc Khôn Thổ, Cự Môn hình
    Cửu cung ngôi vị tường minh bạch
    Cát Hung quyết đoán dữ phân minh.

    Tức là : Nhất Bạch sao Tham Lang là Khảm Thủy, Nhị Hắc sao Cự Môn thuộc Khôn Thổ, Tam Bích sao Lộc Tồn thuộc Chấn Mộc, Tứ Lục sao Văn Xương thuộc Tốn Mộc, Ngũ Hoàng sao Liêm Trinh chiếm Trung cung Thổ, Lục Bạch sao Vũ Khúc thuộc Càn Kim, Thất xích sao Phá Quân thuộc Đoài Kim, Bát Bạch sao Tả Phù thuộc Cấn Thổ, Cửu Tử sao Hữu Bật thuộc Ly Hỏa.
    Trên là phần giới thiệu về Cửu tinh và cách lập cục, tiếp đến chúng ta tìm hiểu thế nào là Sinh, Sát, Thoái, Tử, Vượng Khí của Cửu tinh
    CỬU TINH SINH KHẮC CA.
    Sinh Khí nguyên lai, sinh ngã thân
    Sát tinh khắc ngã, tiệp sinh sân
    Ngã nhược sinh tha, vi Thoái khí
    Lâm ngộ khắc giã thị Tài thần
    Đản vi Tử khí, phi toàn lợi
    Dữ ngã tương đồng, Vượng khí chân

    Tức là : Nếu nó sinh ta thì đó là Sinh Khí, nó khắc ta là Sát Khí, ta sinh nó là Thoái Khí, ta khắc nó thì đó Tài Khí tuy nhiên đó là phương Tử Khí thì cũng chẳng ích lợi gì, cùng ngũ hành với ta đó là Vượng Khí.
    Khi đến Cuộc thế đất, ta xem phương khởi phong (núi cao lên), xem nơi nào gần nước thì lấy chỗ đó mà định quái cục Quái cục đã định được rồi thì lấy Sao bản quái đó nhập vào Trung cung, thuận phi 8 phương, xem phương nào Sinh , Khắc,...
    Ví dụ : Ta có phương Ly gần nước, tức lấy Bản quái cục là Khảm. Xem trên kia thì thấy " Nhất Bạch Tham Lang, Khảm Thủy Thần", vậy thì ta lấy Nhất Bạch nhập Trung Cung thuận phi đi 8 phương, Nhị Hắc ở Càn là Sát Khí phương, Tam Bích ở Đoài là Thoái Khí phương, Tứ Lục đến Cấn cũng là Thoái Khí phương, Ngũ Hoàng đến Ly là Sát Khí phương, Lục Bạch đến Khảm là Sinh Khí phương, Thất Xích đến Khôn là Sinh Khí phương, Bát Bạch đến Chấn là Sát Khí phương, Cửu Tử đến Tốn là Tử Khí phương.
    Sao tại Trung Cung làm chủ, các sao phi đến các phương đều so đối với nó mà xét sự Sinh, Khắc, Sát, Tử, Thoái. Cho nên khi so đối ra, Nhị Hắc đến Càn không phải so với bản cung Càn Kim đó, mà so với Nhất Bạch ở Trung Cung, Thổ khắc Thủy, nên đó mới là phương Sát Khí. Các cung , sao khác cũng tương tự vậy mà tính.
    CỬU TINH ĐẠI CỤC
    Đây là thực tế chúng ta thấy nhiều nhất : Cũng trên Trái Đất như nhau, cũng cùng 1 thời điểm, mà Đông, Tây, Nam, Bắc khác nhau; nơi là ngày, nơi là đêm, nơi là trưa, nơi là chiều, nơi thì nóng, nơi thì lạnh, nơi mát mẻ, nơi ấm áp, nơi mưa rào, nơi khô hạn,....điều này thì có lẽ ai cũng lý giải được. Và câu đơn giản nhất để trả lời là : Trời Đất xoay vần.
    Đúng vậy. Chính do Trái Đất còn xoay, Vũ Trụ còn biến di nên Tinh tú chuyển dời. Cũng chính vì vận hội độ số do Thiên, Địa tuần hoàn ấy mà Âm phần có khí Vượng Suy, Dương Trạch có lúc hưng phát, lúc phế bại, cũng vì vậy mà ảnh hưởng đến con người chúng ta. Đã biết đấy là quy luật tuần hoàn của Thiên Địa, ảnh hưởng đến cả muôn loài, muôn vật, thì tất cả đều không tránh khỏi quy luật " Cấu, Tạo, Hóa, Thành" của Dịch, và " Sinh, Lão, Bệnh, Tử" của Đạo tự nhiên, nhất giai đồng thụ, chẳng riêng loài nào. Chỉ có những ai am hiểu Lường Thiên Xích, thông tỏ Thiên Văn Địa Lý mới có thể biết trước : gặp vận tốt thì phước hạnh sẽ tăng thêm, gặp vận rủi thì ẩn thoái để giảm thiểu hung tai. Vận tốt tức là Địa cục gặp được Sinh Khí, Vượng Khí. Vận xấu là gặp Sát Khí, Tử Khí dẫn lại. Chỉ có những người vô tri, không hiểu biết mới lo sợ, bởi người hiểu biết thì đối diện với vận xấu, nương theo nó mà Chiết giải.
    Vận là luân thứ của Cửu Tinh cai quản 8 sơn, phân làm Tam Nguyên, mỗi nguyên có 60 năm.
    _ Thượng Nguyên
    _ Trung Nguyên
    _ Hạ Nguyên
    THƯỢNG NGUYÊN : Do sao Nhất Bạch thống trị, 2 sao Nhị Hắc và Tam Bích là phụ lực.
    TRUNG NGUYÊN : Do sao Tứ Lục thống trị, Ngũ Hoàng và Lục Bạch là 2 sao phụ lực
    HẠ NGUYÊN : Do sao Thất Xích làm chủ, Bát Bạch và Cửu Tử là 2 sao phụ lực.
    Trong Nguyên là Chính Vận Khí, ngoài Nguyên là Dư Khí. Dư Khí là Khí đã hết, thì dẫu là Đại địa cũng nghỉ, không phát phúc nữa. Nếu Long Mạch kết Huyệt hùng hậu, thì còn được bình bình, không gặp tai họa; nếu Long Mạch bạc nhược, nhỏ yếu thì còn biến động, tai họa bất thường.
    Đa số thấy những nhà chỉ có 1 ngôi Âm Phần hay 1 ngôi Dương Cơ kết phát thôi, nhưng trước sau hưởng phước khác nhau, người không hiểu thì nghi ngờ, cho là Địa lý không đủ để tin. Họ có biết đâu Mộ, Trạch không thay đổi, nhưng Nguyên, Vận tự chuyển biến theo thời gian tất có sự thay đổi họa, phước trước sau.
    NGUYÊN VẬN : Thượng Nguyên Giáp Tý thì sao Nhất Bạch ở Khảm làm chủ thống trị, Nhị Hắc là Khôn và Tam Bích là Chấn là phụ trị trong suốt 60 năm. Sao Nhất Bạch quản 20 năm đầu, tức 10 năm thuộc về Giáp Tý, 10 năm thuộc về Giáp Tuất; kế đến là sao Nhị Hắc quản 20 năm kế, tức 10 năm thuộc Giáp Thân và 10 năm thuộc Giáp Ngọ; sau cùng là sao Tam Bích quản 20 năm cuối, tức 10 năm thuộc Giáp Thìn và 10 năm thuộc Giáp Dần. Đến năm Quý Hợi thì đủ 60 năm, hết Thượng Nguyên. Tuy nhiên, trong cùng 1 Nguyên Vận mà phát phúc cũng có trước sau, nhiều ít bất đồng, là do Địa cục đó thừa Vượng Khí ở Bát Sơn thế nào.
    Trung Nguyên Giáp Tý thì Tứ Lục là Tốn làm chủ thống trị, Ngũ Hoàng Trung Cung và Lục Bạch Càn là 2 sao phụ trị. Cách quản trong Trung Nguyên cũng chia như trên.
    Hạ Nguyên Giáp Tý thì sao Thất Xích ở Đoài sẽ thống trị, và 2 sao Bát Bạch ở Cấn và Cửu Tử ở Ly phụ trị.
    Xét các Địa cục trước nay theo lịch sử thì Khảm Ly là Trung khí của Thiên Địa, là phương vị thuộc về Trung nam, Trung nữ. Khảm Ly ở Hậu Thiên cũng chính là Càn Khôn ở Tiên Thiên, vì Mậu-Kỷ là Chân Thổ tàng trú ở trong đó, nên thấy rất nhiều đất ở 2 Địa cục này vượng cả 3 Nguyên không suy bại.
    Chấn cục thuộc Mộc thì lấy là "bản tráng, căn thâm" (gốc lớn mạnh, rễ sâu). Đoài thuộc Kim thì lấy là nhỏ bé mà bền cứng, vả lại là cửa ngõ của vòng Nhật, Nguyệt, tượng trưng là khí hậu ôn hòa của mùa xuân, mùa Thu. So sánh với Khảm Ly cũng là thứ hạng.
    Cấn thuộc Thổ thì tượng trưng là Sơn, mà núi thì không thể di dịch, vì chất kiên cố, nên cũng bền lâu ví với Chấn, Đoài.
    Kiền là "lão cang chi kim" (vàng già cứng), Khôn là "ký sản chi thổ" ( đất đã sinh sản rồi), Ngũ Hoàng Trung Cung là "liêm trinh chi hỏa" ( lửa nóng dữ) cũng không có căn nguyên, chỉ nương tựa vào vật khác mà cháy bùng lên và dễ tàn lụi, nên tất cả đều không được bền lâu.
    Tốn là "trĩ mộc kỳ hoa" ( cây non, hoa đẹp) sáng sủa, xinh tươi, nhưng không quen chịu gió mưa, nên dễ suy tàn.
    Trong Long Mạch Âm Phần của Cửu Cung có khác so với Dương Cơ. Những Long Mạch thuộc về Thượng Nguyên đều vượng về Trung Nguyên, những Long Sơn thuộc về Trung Nguyên cũng Dự Vượng về Thượng Nguyên, những Long thuộc về Hạ Nguyên thường có Dư Lực vượng về Thượng Nguyên. Đây là Định Vận, Long vận tuy định nhưng cũng cần phải xem rõ cái Địa lực,, Long Mạch hùng hậu thế nào, và Phiên Tinh quái phải thuần khiết, dẫu gặp vào vận bại cũng chỉ là nghỉ, không phát phước nhưng còn tự giử được. Nếu Địa mạch nhược bạc, Tinh Quái lại hỗn tạp, dẫu gặp Vận vượng, dù có phát phước cũng gặp nhiều nghiêng ngã bất ngờ, ngũ phước không trọn vẹn..
    Xưa nay đã thấy : Chỉ có 1 ngôi Âm Phần, Dương Cơ kết phát, khi hết Vượng vận thì thường không thể khiên chế nổi. Nếu có 2 ngôi, 1 ngôi suy, 1 ngôi Vượng thì 2 cái lại đương đối, khống chế lẫn nhau, cũng được hưởng phước lộc bình thường, NHƯNG cũng phải nhận rõ Lực Địa của 2 ngôi lớn nhỏ thế nào để quyết định cho chính xác, 1 cái Vượng chẳng chống nổi 2 cái Suy, thì cái Suy hay tác hại; 1 cái Suy, 2 cái Vượng thì cái Suy không địch nổi, thì cái Vượng vẫn hay phát phúc. LƯU Ý : Cái Đại Cát thì mới có thể quét sạch được cái Tiểu Hung.
    Vậy được mộ cha, ông rồi, cũng cần thiết đến cả những mộ Tổ Tiên ở 4,5 đời trước, thì phước ấm mới mỹ mãn bền lâu, không bị biến đổi; nếu không cũng phải xét đến ngôi Dương Cơ mình đang trú ngụ, không được tính toán sai lầm về Nguyên Vận, Phiên Quái cho Bát Sơn.
    Tóm lại, tìm được cái Đại Địa mà không đúng Nguyên Vận không bằng tìm được cái Tiểu Địa mà đắc vượng khí. Bởi đời người chúng ta chỉ có 60 năm, đợi hết Nguyên suy đền Nguyên vượng...60 năm (có thể hơn nữa) mà hưởng phước e không thể, lúc đó chắc đã "gia phá thân vong" mất còn đâu. Cho nên các bậc Thầy Địa lý xưa hay chỉ người ta khai mở chỗ này, lấp chỗ kia, hầu tìm chỗ đắc Vượng Khí trong Bát Sơn mà phát phúc.
    ***Riêng bản thân mình nhìn thấy nhiều cuộc mộ Tốn cục vẫn phát phúc lâu dài, không như Tiền nhân luận định trong sách, mình không dám Vọng Ngữ phê phán các bậc tiền nhân là sai lầm, chỉ đưa ra để các anh chị, các bạn để ý xem thử thế nào hầu rút kinh nghiệm.
    BÁT SƠN SUY VƯỢNG TẾ PHÁP
    Lục Bạch: Vượng Tướng tại Thượng Nguyên
    Thất, Bát hưng long tại Hạ Nguyên.
    Tam, Tứ lưỡng sơn trùng lục thập.
    Khôn sơn trung vị hạ đầu liên.
    Duy hữu Cửu Tử dữ Nhất Bạch
    Thượng vỉ, Trung đầu, Ngũ thập niên.

    _ Thượng nguyên Nhất Bạch chủ sự: Khảm Chấn Tốn Khôn cát, Ly hung.
    _ Trung nguyên Tứ Lục chủ sự: Ly Khảm Càn Đoài cát, Khôn Cấn hung
    _ Hạ nguyên Thất Xích chủ sự: Khảm Ly Khôn Cấn Đoài cát, Chấn Tốn hung.
    Giải nghĩa:
    Xét kỹ về phép Suy và Vượng ở Bát sơn tức là tám phương:
    _ Lục Bạch thuộc về Càn thì Vượng về Thượng nguyên.
    _ Thất Xích thuộc về Đoài, Bát Bạch thuộc về Cấn, tức Đoài Cấn hai phương thì hưng long về Hạ nguyên
    _ Tam Bích thuộc về Chấn, Tứ Lục thuôc về Tốn , tức Chấn Tốn hai phương thì hưng vượng về 60 năm ở Trung nguyên
    _ Khôn phương thì Vượng về cuối ở Trung Nguyên và đầu Hạ nguyên
    _ Chỉ có Ly phương và Khảm phương là hai phương cùng Vượng về cuối Thượng nguyên và đầu Trung nguyên.
    Thượng nguyên thì sao Nhất Bạch cầm đầu trị sự cả 60 năm, thì phương Khảm Chấn Tốn Khôn phương tốt lành, phương Ly thì hung bại.
    Trung nguyên thì sao Tứ Lục đứng đầu trị sự cả 60 năm, thì phương Ly Khảm Càn Đoài bốn phương tốt lành, Khôn Cấn là hai phương hung bại
    Hạ nguyên thì sao Thất Xích đứng chủ quyền trị sự cả 60 năm thì phương Khảm Ly Khôn Cấn Đoài là năm phương tốt lành, Chấn Tốn hai phương hung hại.
     
    #43
  4. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    BÁT SƠN SINH SÁT KHÍ PHÁP
    Về phép Sinh hay là Sát của 8 phương thì lấy Sao Chủ Vận làm chủ:
    _ Khắc Chủ Vận gọi là Tử khí
    _ Sinh Chủ Vận gọi là Thoái khí
    _ Chủ Vận sinh vào mình thì gọi là Sinh khí
    _ Chủ Vận khắc vào mình thì gọi là Sát khí
    _ Cùng hoà với Chủ Vận gọi là Vượng khí
    Vì dụ như: Hiện nay là Bát Bạch đang làm Chủ Vận, thì Càn cục, Đoài cục làm Sinh Khí; Cấn Khôn cục là Vượng Khí; Khảm cục là Sát Khí; Chấn Tốn cục là Tử Khí; Càn Đoài cục là Sinh Khí; Ly cục là Thoái Khí.
    Trên đây là Sinh, Sát...Khí lấy Chủ Vận tinh phân ra. So với cái Sinh, Sát...Khí của 8 phương phân ra thì khác, không cùng một phép. Xin hãy nhận chân cho rõ!
    TINH PHÙ THIÊN
    Khí hoá lưu hành suốt trong bầu trời, quả đất và các vì tinh tú chuyển vần...vv... hết thảy đều do Cửu Tinh chủ trị cả.
    Danh hiệu của Cửu Tinh:
    _ Thiên Hoàng Đại Đế tức Tôn Tinh.
    _ Tử Vi Đại Đế tức Đế Tinh.
    _ Bắc Đầu thứ nhất tức Tham Lang Tinh.
    _ Bắc Đẩu thứ nhì tức Cự Môn Tinh.
    _ Bắc Đẩu thứ ba tức Lộc Tồn Tinh.
    _ Bắc Đẩu thứ tư tức Văn Khúc Tinh.
    _ Bắc Đẩu thừ năm tức Liêm Trinh Tinh.
    _ Bắc Đẩu thứ sáu tức Vũ Khúc Tinh.
    _ Bắc Đẩu thứ bảy tức Phá Quân Tinh.
    Hai vị Tôn Tinh và Đế Tinh lại hoá ra hai sao Tả Phù và Hữu Bật, hai sao kèm ở hai bên ngôi Vũ Khúc, đều là ở ngoài ngôi cao của Tử Vi Viên mà làm chủ tể cả Thiên Địa, quay chuyển Tạo Hoá, dưới thì thi hành ở Địa cầu hoá sinh muôn vật. Tất cả những việc liên quan đến Thỏ, Yểu, Cùng, Thông trong sinh mệnh của con người đều hệ thuộc ở đó mà ra cả. Cái Địa Khí tuy phát sinh dưới lòng đất, nhưng thực ra nó cũng hợp nhất với Thiên Khí trên trời. Do vậy, cái hay, dỡ của đất đai địa cục phải theo ở Cửu Tinh mà xét đoán, cho nên mới gọi là Huyền Không Bát Quái Ngũ Hành pháp. Như Kiền, Khôn, Cấn Tốn, Khảm, Ly, Chấn, Đoài cái thứ tự hào quái của nó tự nhiên đã có như thế, không phải người tạo ra mà được. Tuy thấy điên đảo thác loạn mà cùng hợp bên trong, trong cái bất đồng lại có cái qui hợp đại đồng (điều này cũng tương ứng trong Ý Dịch, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, thấy tốt mà ẩn cái xấu, thấy xấu mà tàng chứa cái tốt, tốt xấu cùng một lúc, "vạn thù qui nhất bổn, nhất bổn tán vạn thù").
    Quái thì lấy Kiền Khôn làm Phụ Mẫu, lấy lục hào làm Tử tôn. Hai mươi bốn phương vị lại lấy Bát Quái làm Phụ Mẫu, lấy Can Chi nạp giáp vào mà làm Tử tôn vậy.
    Bởi Long Mạch là Địa Khí, mà Địa Khí thì nặng và đục, nên ba phương vị qui vào một quái. Tinh là Thiên Khí, mà Thiên Khí thì nhẹ và trong, nên hai mươi bốn phương vị tự phân hành đi nhưng vẫn lệ thuộc vào quái nạp giáp, lấy cách một cung làm Địa Mẫu Quái. Mà Địa và Mẫu vốn mang tính chịu đựng, thu nạp (như chúng ta đổ nước hoa xuống đất, đất có khen thơm chăng? Chúng ta xả rác xuống đất, đất cò chê hôi hay phiền trách chăng?), nên Lập Hướng lấy Nạp Thuỷ làm chủ yếu.
    Lấy bản cung đối xứng làm Thiên Phụ Quái, Thiên và Phụ vốn là tính trải ra, phản hồi (như chúng ta thả khói ô nhiễm vào bầu trời, tất lãnh ngay hậu quả phản hồi "lỗ thủng tầng ô zôn"), nên Tiêu Thuỷ làm chủ yếu.
    Tham, Cự, Vũ, Phụ ở Thiên Phụ Quái. Văn, Lộc, Phá, Liêm ở Địa Mẫu Quái. Người biết Thu được cái Thuỷ của Tam Cát (Tham, Cự, Vũ), biết tiêu được cái Ác khí của Tứ Hung (Phá, Lộc, Văn, Liêm) thì bất kỳ cục địa nào cũng có thể trở nên tốt lành. Vậy ở hai bên trái phải của quái như có Sa, Thuỷ Cát tú thì nên ở phía trước, không nên ở đằng sau. Điều này cũng ví như bầy tôi với vua chúa vậy, hướng chầu vào vua là kẻ phò tá, trung thần; quay lưng vào vua là phản bội, gian thần vậy. Sa, Thuỷ, Long, Hướng chỉ nên thu cái tam Cát và Phụ Bật thôi, không nên làm phạm vào phương vị của Tứ Hung.
    Cái Thuỷ Lai ở những phương Cát ấy phải cực thanh. Nếu cả hai cái Thuỷ Cát Hung cùng đến Huyệt, thì cái Thuỷ Cát ứng Cát, cái Thuỷ Hung ứng Hung. Nếu cả Cát và Hung cùng hợp vào một cung mà dẫn vào Huyệt, thì trong cái tốt có cái xấu, bán Cát bán Hung.
    Còn cái Ảnh diệu, tức cái bóng ánh nước chiếu, nếu không trông thấy nước ở Nội Minh Đường, hay ngắn gọn hơn, không thấy ánh nước chiếu vào Huyệt, là ẩn mà không thấy, thì cái Phước, cái Hoạ chưa ứng nghiệm. Chính vì Thuỷ là cái gốc gây ra Phước, Hoạ cho Địa Huyệt vậy.
    Thường có cái nhà nhỏ, thấp của người nghèo lại phát phước dần dần; mà cái nhà lầu cao của người giàu lại thoái bại dần, là do bới thấy cái Hung Thuỷ ở bên ngoài vậy. Có nhiều cái Huyệt thuở ban đầu không phát, sau trồng cái cây cao, hay tự nhiên có cây cao mọc lên mà phát quý, đó là do cái Cát Thuỷ bên ngoài ứng chiếu vào vậy.
    Còn cái Chuyển diệu, là cái sao luân chuyển đi, khiến sinh có cái Hướng Cát mà trở thành Hung, có cái Hướng Hung mà phản lại thành Cát. Trong cái Hướng mà có Thuỷ Lai là hướng Thực, trong cái Hướng mà có Thuỷ Khứ là hướng Hư, nên cái Cát mà thành Hung, cái Hung mà thành Cát là vì thế.
    Vậy cái Tinh quái ở chỗ Khứ Thuỷ phải lấy ở chỗ cửa khẩu Tiêu Thuỷ gần với Nội Minh Đường, lấy chỗ Thuỷ gẫy khúc lần thứ nhất là đúng. Sau chỗ Thuỷ gẫy khúc đã chảy đi rồi, mà trong chỗ Huyệt kết lại thấy cái bóng của Thuỷ Khứ nữa, cái ấy gọi là chỗ Ngoại lưu. Còn cái Khứ Thuỷ mà tiêu đi không hết, là ở chỗ cửa nước tiêu đi, lại khai ra cái vũng chứa nước, hoặc cái đầm, ao để làm cho cái Khứ Thuỷ ấy chứa lại, thì cái Cát Hung tất nhiên cũng có sự điên đảo, nên xem xét cẩn thận, bởi chỗ ấy là Nguyên khí thịnh vượng, nước tiêu đi mà còn trở lại ( Cái này trong Dương Trạch thường rất hay gặp, nhiều nhà hay làm hố ga chưa nước lại trước khi thoát đi ra, cần phải chọn vị trí cho đúng, không khéo mà gặp hoạ . Cẩn thân! Cẩn thận!).
    Đây chính là dụng pháp của Ai Tinh, là cái bí quyết ẩn tàng của Thiên Địa. Xưa có câu: Hữu nhân đắc thức Ai Tinh quyết, chiêu thị phàm phu mộ thị Tiên. Nghĩa là: Có người nào biết được phép Ai Tinh thì buổi sớm là kẻ trần tục, buổi tối đã là bực Tiên rồi. Tức là người nào biết sử dụng được phép Ai Tinh, thì Tạo Hoá ở cả trong bàn tay rồi, hô hấp quán thông đến tận cả trời xanh. Cổ nhân truyền cho cái hay mà không truyền cho cái thuyết, thật là bí hiểm, có lẽ còn theo về Duy Tâm, sơ e Thiên nộ vì tiết lậu Thiên cơ.
    Còn những chổ gần biển, có nước biển dâng lên, rút xuống, thì lấy chỗ cửa ra biển là nơi Thuỷ Khứ. Nghĩa là cái nước Hải Triều chảy ngược lên, không phải là cái Thuỷ Lai. Đó là Lạc Thuỷ Quy Nguyên, ở khoảng đó là Lưu Tinh, đạo lý tự nhiên của Thiên Địa, do sự hô hấp của Âm Dương mà thăng giáng như vậy.
    PHIÊN QUÁI QUYẾT
    LY TỐN KHÔN ĐOÀI
    KIÊN CẤN KHẢM CHẤN
    Khời Tham Lang pháp và Liêm Trinh pháp:
    _ Khôn tòng Ly khởi, Ly tòng Khôn khởi.
    Nghĩa là: Khôn cục thì khởi tinh ở cung Ly, Ly cục thì khởi tinh ở cung Khôn. Đây là pháp cách cung khởi tinh.
    _ Kiền tòng Đoài khởi, Đoài tòng Kiền khởi.
    Nghĩa là: Kiền cục thì khởi tinh ở cung Đoài, Đoài cục thì khởi tinh ở cung Kiền. Đây là pháp đối cung khởi tinh.
    Thu Lai Thuỷ (nước chảy lại) thì lấy bản cục cách một cung khởi tinh. Hễ được Tham, Cự, Vũ, Phụ là Cát tinh thì tốt. Tức là quẻ Ngũ Quỹ tức vị vi khởi Liêm Trinh, đó là khởi Liêm Trinh trước (theo thứ tự Phụ, Vũ, Phá, Liêm, Tham, Cự, Lộc, Văn).
    Tiêu Khứ Thuỷ (nước tiêu chảy đi) thì lấy bản cục đối cung để khởi tinh, hể được Tham, Cự, Vũ, Phụ là Cát tinh thì tốt. Tức là quẻ Thiên Định (Thiên Định Quái) thì khởi Tham Lang trước (Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ).
    Tinh quái định cục:
    _ Quẻ Ngũ Quỹ: Phụ, Vũ, Phá, Liêm, Tham, Cự, Lộc, Văn.
    _ Quẻ Thiên Định: Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ.
    Dưới đây NCD sẽ kê ra sẵn theo từng cục với hai cách phiên tinh của hai quẻ trên, lần lượt theo thứ tự các sao như trên, hàng trên là khởi theo Ngũ Quỷ pháp, hàng dưới là theo Thiên Định pháp (hay còn gọi là Tham Lang pháp):
    ĐOÀI CỤC:
    _ Đoài, Chấn, Khôn, Khảm, Tốn, Cấn, Ly, Kiền.
    _ Kiền, Ly, Cấn, Tốn, Khảm, Khôn, Chấn, Đoài.
    CHẤN CỤC:
    _ Chấn, Đoài, Khảm, Khôn, Cấn, Tốn, Kiền, Ly.
    _ Ly, Kiền, Tốn, Cấn, Khôn, Khảm, Đoài, Chấn.
    KHÔN CỤC:
    _ Khôn, Khảm, Đoài, Chấn, Ly, Kiền, Tốn, Cấn.
    _ Cấn, Tốn, Kiền, Ly, Chấn, Đoài, Khảm, Khôn.
    KHẢM CỤC:
    _ Khảm, Khôn, Chấn, Đoài, Kiền, Ly, Cấn, Tốn.
    _ Tốn, Cấn, Ly, Kiền, Đoài, Chấn, Khôn, Khảm.
    TỐN CỤC:
    _ Tốn, Cấn, Ly, Kiền, Đoài, Chấn, Khôn, Khảm.
    _ Khảm, Khôn, Chấn, Đoài, Kiền, Ly, Cấn, Tốn.
    CẤN CỤC:
    _ Cấn, Tốn, Kiền, Ly, Chấn, Đoài, Khảm, Khôn.
    _ Khôn, Khảm, Đoài, Chấn, Ly, Kiền, Tốn, Cấn.
    LY CỤC:
    _ Ly, Kiền, Tốn, Cấn, Khôn, Khảm, Đoài, Chấn.
    _ Chấn, Đoài, Khảm, Khôn, Cấn, Tốn, Kiền, Ly.
    KIỀN CỤC:
    _ Kiền, Ly, Cấn, Tốn, Khảm, Khôn, Chấn, Đoài.
    _ Đoài, Chấn, Khôn, Khảm, Tốn, Cấn, Ly Kiền.
    Chẳng lẽ mỗi lúc cần xem lại lấy bảng này ra xem, hay phải nhớ thứ tự của cả bảng 8 cục với hai cách tính, thật là khó khăn, nên NCd sẽ chỉ công thức cho cả hai cách phiên quái này, các anh chị, các bạn chỉ cần biết cách tính, còn nhớ thì chỉ cần nhớ thứ tự sao theo thứ tự mỗi lần biến là đủ.
    1/. Cách tính cho quẻ Thiên Định:
    Lần thứ nhất biến hào thượng.
    Lần thứ nhì biến hào trung.
    Lần thứ ba biến hào hạ.
    Lần thứ tư biến hào trung.
    Lần thứ năm biến hào thượng.
    Lần thứ sáu biến hào trung.
    Lần thứ bảy biến hào hạ.
    Lần thứ 8 biến hào trung trở về Nguyên vị.

    Ví dụ: Càn cục khởi quái: Lần thứ nhất biến hào thượng thành quẻ Đoài, lần thứ nhì biến hào trung thành quẻ Chấn, lần thứ ba biến hào hạ thành quẻ Khôn, lần thứ tư biến hào trung thành quẻ Khảm, lần thứ năm biến hào thượng thành quẻ Tốn, lần thứ sáu biến hào trung thành quẻ Cấn, lần thứ bảy biến hào hạ thành quẻ Ly, lần thứ tám biến hào trung trở về Nguyên vị là quẻ Càn.
    2/. Cách tính cho quẻ Ngũ Quỹ:
    Lần thứ nhất giử nguyên vị.
    Lần thứ nhì biến hào trung.
    Lần thứ ba biến hào hạ.
    Lần thứ tư biến hào trung.
    Lần thứ năm biến hào thượng.
    Lần thứ sáu biến hào trung.
    Lần thứ bảy biến hào hạ.


    Lần thứ tám biến hào trung.
    Ví dụ: Cũng là Càn cục khởi quái: Lần thứ nhất giử Nguyên Vị quẻ Càn là Phụ, lần thứ nhì biến hào trung thành quẻ Ly là Vũ, lần thứ ba biến hào hạ thành quẻ Cấn là Phá, lần thứ tư biến hào trung thành quẻ Tốn là Liêm, lần thứ năm biến hào thượng thành quẻ Khảm là Tham, lần thứ sáu biến hào trung thành quẻ Khôn là Cự, lần thứ bảy biến hào hạ thành quẻ Chấn là Lộc, lần thứ tám biến hào trung thành quẻ Đoài là Văn.
    SANH KHÍ QUYẾT
    Sinh Nguyên khí tụ xuất danh thần
    Hiếu hữu trung lương tá thánh quân
    Chập chập tử tôn hành hiếu nghĩa
    tự nhiên phú quý vạn niên xuân

    Nghĩa là: Vị sao làm chủ cái Nguyên ấy là Sinh-bản-cục, mà thấy khí tụ ở ohương ấy tất sanh được bậc danh thần, là người trung lương hiếu nghĩa phò tá vua, giúp nước; con cháu đông đảo, tất thảy đều là người hiếu nghĩa; tự nhiên giàu sang trường thịnh muôn năm vẫn còn.
    Những phương là Sinh Khí, mà có đồi núi cao, hoặc Thuỷ lưu, Thuỷ tụ, tú lệ hữu tình, từ ngoài xa triều lại, là được Khôi tinh tương tá. Những phương Quan sát thấp phục, thì đại phát tài lộc, đời đời làm quan. Sơn cương, Thuỷ lộ đoản, tiểu cũng được tiểu phú quý. Nếu không có Sơn Thuỷ thì bất Cát.
    VƯỢNG KHÍ QUYẾT
    Sơn gia Vượng khí uất Liêm Trinh
    Tú lệ ứng tri Cát sở chung
    Ác diệu, thô ngoan tính phản bối
    Quan tinh xung phá dữ vi hung.

    Nghĩa là: Ở phương là Vượng Khí mà có núi cao ngùn ngụt vót lên, thấy tốt đẹp (tú lệ) thì biết khí chung tụ nhiều lắml nếu là đơn độc, thô xuẩn, to ngạnh và lưng phản lại, và quan tinh xung phá, vậy là hung.
    Ở phương là Vượng Khí, mà có núi nhọn cao, ôm ấp; hoặc có Tú Thuỷ vòng quanh triều vào là Đại Cát lợi. Nếu Sơn xấu, Thuỷ trực thì không phải là tốt đẹp. Nếu gồm cả Quan sát lại xung thì biến làm Hung.
    TỬ KHÍ QUYẾT
    Thuỷ lộ, Sơn cương phạm Tử thần
    Gia môn tịch tịch chủ cô bần
    Lãnh thoái, tai truân, tần nhạ hoạ
    Khan khan hậu đại tuyệt vô nhân.

    Nghĩa là: Nước và núi đồi phạm vào phương Tử khí nên cửa nhà vắng vẻ, bị cô quả, bần hàn, lạnh lẽo, thoái bại cả người lẫn của, tai hoạ gây ra luôn luôn, xem thấy đời sau tuyệt tự không sai
    THOÁI KHÍ QUYẾT
    Thoái khí nguyên lai tối bất lương
    Thời nhân phạm chước hoạ nan đương
    Doanh mưu tất bản, đồ ta thán
    Gia đạo tiêu điều, khởi hoạ ương

    Nghĩa là: Phương Thoái Khí nguyên là phương rất xấu, không lành, người nào bị phạm ứng vào thì tai hoạ khó tránh khỏi, mưu sự buôn bán thì mất cả vốn, luống những than phiền, gia đạo bị tiêu điều, đầy dẫy tai nạn, thiệt hại khởi lên.
    Hai phương Tử Khí và Thoái Khí đều là bất lợi cả, nhưng Sơn củng, Thuỷ nhiễu thì cũng còn không đến nỗi. Tuy không phát quý, nhưng tài lộc còn khá, không bị tuyệt sản nghiệp. Vậy nên Sơn, Sa phải đê phục, bình thản, Thuỷ khộng nên chảy đi ở phương Thoái khí, nếu Trực khứ thì tiết hết cục khí, tức là Ngã thân Tuyệt khí, cực kỳ hung hại. Cẩn thận!
    SÁT KHÍ QUYẾT
    Lục Sát sinh lai thụ thứ ương
    Chỉ nhân định cục khiếm tư lường
    Cấp tư di cải hung vi cát
    Miễn đắc nhi tôn hoạn cửu trường

    Nghĩa là: Phương Lục sát mà sinh lai thì bị tai ương ở chỗ ấy. Chỉ vì khi định cục thiếu suy nghĩ, không biết liệu lượng. Kíp tức thời mà dời đổi, để chuyển cái hung làm cái cát. khiến cho con cháu khỏi phải bị cái nạn lâu dài.
    Những phương Sát khí mà có núi non cao tủng, thuỷ lộ xung xạ gọi là "Sát tinh ngang lộ". Lập hướng nhà ở, hay là lập hướng phần mộ thì Đại Hung. Bình phục hoặc quanh ngang thì lành, phương ấy tối kỵ Thuỷ lai- Thuỷ khứ thì lại được lành.
    XUNG QUAN QUYẾT
    Quan sát tương xung bất khả đương
    Sơn cương, Thuỷ lộ xạ hình đường
    Can thượng tương quan do tự khả
    Chi nội tương quan lập kiến thương

    Nghĩa là: Phương Quan sát tương xung (xung sát lẫn nhau) thì không nên đương đầu, đối diện. NHư là Sơn cương, Thuỷ lộ đâm thẳng vào Minh Đường (là xạ), ở phương Thiên Can mà tương xung thì còn đỡ chútl ở phương Địa Chi mà tương xung thì thấy đao thương ngay (chết về đâm chém bất đắc kỳ tử)
    Quan Sát là phương Ngũ Hoàng, cùng với Bản cục đối xung. Vậy bảo là Quan Sát hung cũng cùng như phương Sát khí.
    QUAN SÁT SINH KHÍ
    (Hỗn tạp quyết)
    Sơn gia Sinh khí phúc phi thường
    Quan Sát hung tai bất khả đương
    Chỉ nhân Thiện, Ác tinh tương tạp
    Cố sử vinh hoa kiến tử thương.

    Nghĩa là: Về Sơn, phương là Sinh Khí, thì cái phước chẳng phải là thường. Quan Sát phương là tai ương, không nên đối xung. Bởi vì là sao dữ, sao lành cùng lẫn lộn, khiến cho người vinh hoa mà bị chết thảm thương.
    Phương Sinh Khí và phương Quan Sát với phương Sát Khí, chỉ hiềm Sơn cương, Thuỷ lộ ôm lại, gọi là nửa lành, nửa ác. NHững chỗ ấy mà làm nhà ở hay phần mộ, đều sinh ra người "khẩu thiện, tâm ác" (là khéo léo ngoài miệng mà trong lòng hiểm độc), hiếu tranh, hiếu tụng, hiếu chiến, hiếu sát, cướp của mọi người làm của mình, nhưng đa thành đa bại. Tuy nhiều con cháu, nhưng khó thoát được tội vạ. Quan tước tuy hiển, mà chẳng được hoàn thiện. Những Sơn, Sa, Thuỷ lộ ở Sát phương phát lai, mà có Sinh phương kết cục, gọi là: Hành Hung, Toạ Thiện. Những chỗ ấy có mộ hoặc nhà ở, thì gặp sự hung có người cứu, gặp nạn rồi lại được phước, ra ngoài làm quan thường bị phi tai đưa về, nhưng ở nhà thì không bị, nhưng cũng khó được lâu dài. Nếu ở Sinh phương dẫn mạch lại, đến Sát phương kết tác, gọi là "Hành Thiện Toạ Hung". Phần mộ hoặc nhà cửa ở chỗ ấy đều là "hảo sự đa ma" (việc tốt hay mà nhiều cái dỡ tiềm ẩn bên trong), làm khéo thành vụng, lợi khách bất lợi chủ, không có mối gì mà vẫn bị tai hoạn phá gia.
    KHÔI TINH QUYẾT
    Khôi tinh trùng điệp khởi cao phong
    Cửu cửu tinh trung đệ nhất long
    Thử địa trình tường sinh kiệt sĩ
    Nhi tôn thế đại nhập triều trung.

    Nghĩa là: Ở phương là Khôi tinh, mà trùng trùng điệp điệp khởi cao phong. Ở trong Cửu cung, và Cửu tinh, hay nhất là Long Mạch ở phương ấy. Đất ấy là tốt lành, sinh ra kiệt sĩ, danh nhân, con cháu đời đời được vào nơi triều đình, tức là làm quan cao , quyền lớn.
    Thổ cục kiến Nhất Bạch, Mộc cục kiến Bát Bạch, Hoả cục kiến Lục Bạch làm Khôi Tinh. Lại nói: Chỉ có Nhất Bạch làm Khôi Tinh thôi, ở phương ấy khởi cao phong, Long sơn từ đằng xa quay lại, mà bát phương triều bão, hộ vệ, đất ấy táng mộ hay làm nhà ở thì sinh ra người thông minh, tài học, đời đời làm quan và hiếu nghĩa, là bực anh hào, phú quý vĩnh viễn. Nếu thấy Sơn, Thuỷ gần, hẹp cũng sinh ra người anh tài, phú quý. Nếu phương ấy là Sinh Khí hay Tài khí, thì cái tốt lành không thể nói xiết. Nhưng nếu là phương Thoái khí thì xuất cao tăng, đạo sĩ, nghệ thuật xuất chúng. Chỉ có là phương Sát khí thì sinh ra người khôn ngoan xảo trá, độc ác hung tàn, nghèo khổ, chết non, khó thoát khỏi hoạn nạn.
    THIÊN DIỆU QUYẾT
    Tam Bạch sinh lai thị tử tôn
    Mạc tương Thoái Khí đẳng nhân ngôn
    Cát tinh lâm chiếu đa hưng vượng
    Dịch dịch quan trường, khánh mãn môn

    Nghĩa là: Sinh lại ba phương Bạch (là Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch) thì phương ấy cũng như là con cháu mình, đừng đem ra mà ngôn luận coi là phương Thoái Khí như người ta nói. Những phương ấy là Cát tinh mà chiếu tới thì hưng vượng lắm, con cháu đời đời nối tiếp mũ áo, cân đai, phước lộc đầy cửa, trâm anh thế phiệt nối dòng.
    Hoả sơn kiến Bát Bạch, Thổ sơn kiến Lục Bạch, Kim sơn kiến Nhất Bạch. Nghĩa là: Hoả cục (Hoả sơn, Hoả quái cũng thế) gặp phương Bát Bạch là Hoả sinh Thổ (Với các trường hợp Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ cũng vậy), thì lấy đó làm con cháu mình (Tử tôn). Ba sao Bạch đó gọi là sao lành (Thiên Diệu), nó hay chế ngự được cái Sát Khí. Vậy những sơn đó mà có Sơn Thuỷ triều củng thì rất là hay (hoá hung vi Cát). Nếu có Chùa, Miếu, Đình, Đền, Chuông, Trống trấn đóng thì đó là Đại Cát Địa, con cháu giàu sang, thông minh, lương thiện.
    TAM CÁT ĐỊA QUYẾT
    Địa hữu Tam Cát thực nghi cầu
    Sinh Khí Khôi tinh tử tế sưu
    Đại cương, đại sơn, tinh xa mã
    Tự, Quán, Chung, Cổ nhất dạng thâu.

    Nghĩa là: Đất có ba điều lành thật là nên cầu. Sinh Khí, Khôi tinh nên cẩn thận xem xét kỹ mà sưu tầm. Như là núi to, gò lớn, xe, ngựa lai vãng, đình, đền, chuông, trống cũng vậy, nên thâu nhận.
    Những phương Sinh Khí, Khôi tinh mà có Đại sơn, Đại Thuỷ triều cố (chầu vào mộ) bốn mùa không dứt, là một cái tốt lành. Có cầu, đường lộ giao thông, xe ngựa đi lại triều vào, là hai cái tốt lành. Có chùa, đền, chuông, trống sớm tối nghe tiếng vang động là ba cái tốt lành. Đất nào có những cái tốt lành như thế thì con cháu thông minh, lương thiện, đinh-tài lưỡng vượng. Nếu ở vào phương Quan Sát thì lại là hung, bị tai hoạ, hình thương, yểu tử, không thể kể xiết.
    TAM NGUYÊN VƯỢNG KHÍ QUYẾT
    Khán sơn, tu khán Chủ Long Tinh
    Thượng Nguyên Nhất Bạch cát nghi minh
    Tứ Lục chi tinh Trung Nguyên cát
    Thất Xích Hạ Nguyên đa hữu tình.

    Nghĩa là: Xem sơn thì phải xem vị sao nào làm chủ Long Sơn. Nên biết rõ là: Về Thượng Nguyên thì sao Nhất Bạch tốt, Trung Nguyên thì sao Tứ Lục tốt, Hạ Nguyên thì sao Thất Xích nắm quyền hành, được vậy thì thịnh vượng.
    NHững Sơn cương, huỷ lộ mà được sao Quản Nguyên Vận (sao làm chủ Nguyên, Vận) triều cố, thì đại lợi trong 60 năm (hay 20 năm). Nếu là phương Sinh Khí thì trước sau Đại Cát. Nhưng là phương Sát Khí thì cũng được 60 năm (hay 20 năm) Tiểu Lợi, nhưng đến Nguyên khác (Vận khác) thì Hung.
    TAM NGUYÊN LONG VẬN QUYẾT
    Tam Nguyên Long Vận lý nghi thông
    Thượng Nguyên Nhất Bạch, Nhị, Tam đồng
    Trung Nguyên Tứ Lục, Trung, Kiền vị
    Hạ Nguyên Thất Xích, Cấn, Ly trung

    Nghĩa là: Long Vận về Tam Nguyên, lý khí nên thông hiểu: Thượng Nguyên thì sao Nhất Bạch, Nhị Hắc, Tam Bích, ba sao cùng ở trong một Nguyên; Trung Nguyên thì sao Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, ba sao cùng ở trong một Nguyên; Hạ Nguyên thì sao Thất Xích, Bát Bạch, Cửu Tử, ba sao cùng ở trong một Nguyên.
    Như Thượng Nguyên gồm 60 năm, thì Giáp Tý và Giáp Tuất, 20 năm thuộc về sao Nhất Bạch quản trị; Giáp Thân và Giáp Ngọ, 20 năm thuộc về sao Nhị Hắc quản trị; Giáp Thìn và Giáp Dần, 20 năm thuộc về sao Tam Bích quản trị. NHƯNG sao Nhất Bạch vẫn làm chủ thống vận cả một Đại Nguyên là 60 năm, nó đều nắm quyền quản trị. Các Nguyên khác luật lệ cũng như thế.
    Mỗi Nguyên lấy một sao Quản Nguyên làm chủ, để luận Sinh, Vượng trong tám phương. Như Thượng Nguyên thì sao Nhất Bạch làm Chủ Nguyên, thì Khảm cục là Vượng Khí, Nhất Bạch Thuỷ sinh Mộc nên Chấn và Tốn cục được Sinh Khí, Thuỷ khắc Hoả nên Ly cục là Sát Khí, Kim sinh Thuỷ nên Kiền và Đoài cục là Thoái Khí, Thổ khắc Thuỷ nên Khôn và Cấn cục là Tử Khí.
    Khắc Nguyên là Tử Khí, được Nguyên sinh là Sinh Khí, bị Nguyên khắc ấy là Sát Khí, tỷ hoà với Nguyên là Vượng Khí, sinh Nguyên là Thoái Khí. Cái Sinh, Sát Khí ở bản cục với cái Sinh, Sát Khí ở trên tám phương không cùng như nhau. Lấy cái bản cục (là chính mình) được cái Sinh, Vượng Khí là Cát; cái Tử, Thoái Khí là Hung, thì dầu có được Địa Cát cũng không phát phước.
    BÁT SƠN SINH VƯỢNG QUYẾT
    Lục Bạch Vượng Tướng tại Thượng Nguyên.
    Thất, Bát hưng long tại Hạ Nguyên.
    Tam, Tứ nhị sơn Trung lục thập.
    Khôn sơn Trung vỹ, Hạ đầu liên.
    Duy hữu Cửu Ly dữ Nhất Khảm Nhất
    Thượng vỹ, Trung đầu, ngũ thập niên.

    Nghĩa là: Phương Kiền (là Lục Bạch) thì Vượng Tướng ở Thượng Nguyên. Thất Xích là Đoài, Bát Bạch là Cấn, thì hưng thịnh ở Hạ Nguyên. Tam Bích là Chấn, Tứ Lục là Tốn, hai sơn này thì Vượng Tướng 60 năm thuộc Trung Nguyên. Khôn sơn là Nhị Hắc thì Vượng về cuối Trung Nguyên và liền với đầu Hạ Nguyên. Chỉ có Cửu Tử là phương Ly và Nhất Bạch là phương Khảm , thì Vượng về cuối Thượng Nguyên và đầu Trung Nguyên, liền suốt 50 năm.
    CHỦ VẬN GIA PHI QUYẾT:
    Như Thượng Nguyên, sau năm Giáp Thân lấy Nhị Hắc nhập trung thuận phi đi tám phương. Xét xem Sinh Khắc ở các phương vị, để đoán Cát, Hung của bản cục.
    Như Nhị Hắc nhập trung, thì Tam Bích gia Kiền, Tứ Lục đấn Đoài, đó là Hạ khắc Thượng; Ngũ Hoàng tới Cấn là tỷ hoà; Lục Bạch tới Ly, Thất Xích tới Khảm, đều là Thượng sinh Hạ,...những cái khác cũng y lệ như thế.
    Hạ khắc Thượng là Chủ khi khách: Chủ nhân tâm bất hoà, hoạ nhẹ thôi.
    Thượng khắc Hạ là Khách khi Chủ: Đó là Sát Khí gia lâm, bách sự bất lợi, tất chiêu hung hoạ.
    Hoặc đất ấy Long, Cục, Sa, Thuỷ bị người phá huỹ, nhưng thấy Thượng sinh Hạ, là ngoại ích nội, thì vẫn đại hưng, đại phát; nếu là Hạ sinh Thượng, là ngoại hao nội, tất lãnh thoái nhân đinh, ở lâu e tuyệt tự.
    Lại lấy Sao Chủ Vận làm chủ để luận bát phương Sinh, Sát, Cát, Hung. Như Thượng Nguyên Nhị Hắc nhập trung, tức lấy Nhị Hắc làm chủ, thì Tam Bích gia Kiền, Tứ Lục gia Đoài, tất hai phương Kiền Đoài là Sát Khí phương, vì khắc với Sao Chủ Vận. Cửu Tử gia Chấn thì Chấn là Sinh Khí phương,...các phương Tử, Thoái, Vượng cũng theo cách ấy mà suy.
    Những Âm phần, Dương trạch là phương Sinh Khí của Sao Chủ Vận, mà có cửa ngõ, lối đi, hoặc đường Thuỷ chảy lại thì Vượng Tài, Thêm đinh. Nếu là phương Sát Khí có chỗ khuyết hãm, vỡ lỡ, thì quyết là biến ra tai hoạ ở ngoài đưa đến. Phương Ngũ Hoàng có đường, ngõ xung động thì đại hung. Thoái phương thì chủ hao tán tiền tài. Là Tử phương thì người bị tổn thương, nặng thì chết người. Ở Vượng phương mà có Lục Sát lại gồm cả Lưu niên Cửu Tử và Ngũ Hoàng phi đến, thì bị kiện tụng, hoả tai, thoái bại. Đây là Sinh Sát Xung Quan, chủ quản 20 năm, tức là Đại Lưu Niên Pháp vậy.
    CHỦ VẬN LƯU NIÊN CỬU TINH
    GIA LÂM CÁT, HUNG QUYẾT.
    Sinh nhập Sát phương khán tật bệnh
    Sát nhập Sinh phương đoán Tử, Sinh
    Tử thượng Sát lai, động điền sản.
    Tài lâm Sát, Thoái, tổn vật sinh
    Sát lâm Quan Sát, xuyên tâm hại!
    Sinh nhập Sinh phương, xứ xứ hưng.

    Nghĩa là: Sinh vào Sát phương thì sinh tật bệnh. Sát vào Sinh phương thì đoán có chuyện sống, chết. Sát lại trên phương vị Tử thì động về chuyện ruộng vườn, đất đai, nhà cửa. Tài vào phương Sát, THoái thì hao tổn súc vật. Sát tới phương Quan Sát thì hại như dao đâm vào bụng (ám chỉ rất nguy hiểm). Sinh vào phương Sinh thì mọi cái đều hưng thịnh. Chỉ có sao Ngũ Hoàng là Chính Thần Sát, cả tám phương, đến phương nào cũng chỉ có sinh tai hoạ thôi.
    Lấy Chủ Vận Tinh và Lưu Niên Tinh phi đi tám phương mà đoán. Như Khảm cục thì lấy Khôn phương làm phương Sinh Khí, nếu trong Thượng Nguyên Giáp Tý 20 năm, lại được Thất Xích gia Khôn , tức là Sinh nhập Sinh phương, các cái khác cũng theo thế mà tính.
    Sinh mà thấy Sinh thì tiến tài, tăng điền sản. Sinh thấy Sát thì tai hoạ về quan tụng, nhưng có người tốt cứu. Sát thấy Sát thì bị hoả tai, tổn người, mọi sự đều bất lợi. Sát thấy Sinh thì được nửa tốt, nửa xấu, nửa năm trên thì lành, nửa năm dưới thì hao tổn nhân đinh. Thoái thấy Thoái thì hoạ hại bệnh hoạn. Sinh thấy Thoái thì tổn lục súc và sinh khẩu thiệt, nhưng sau gặp quý nhân. Lấy ở bản phương có Sơn, Thuỷ, đạo lộ và Lục sự mà đoán xét Hung, Cát.
    NIÊN NGUYỆT CỬU TINH QUYẾT
    (dùng về tu phương hướng)
    Thiên văn Cửu Tinh tuế tuế suy
    Địa lý Cửu Tinh vĩnh bất di
    Phi khứ tương sinh , sinh quý tử
    Phi lại khắc Phục, thị hung kỳ
    Tam Bạch đáo Toạ chủ hoài thai
    Tử, Bạch lâm môn hỷ khí lai
    Hình, Hại, Không Vong, câu bất thực
    Sinh phù ưng đắc quý nhân tài.

    Nghĩa là: Sao Lưu Niên Cửu tinh phi ra thì lấy bản cục phương làm chủ, sao phi đến làm khách. Khách (Phi) sinh Chủ (Phục) thì sinh quý tử. Khách khắc Chủ thì bị hung hoạ. Như Kiền phương là Kim, Bát Bạch gia lâm là khách sinh chủ, Cửu Tử gia lâm là khách khắc chủ. Trong Cửu Tinh thì ba sao Bạch và sao Cửu Tử là Cát tinh, nhưng không khắc bản phương thì mới đoán là Cát.
    Còn Hình hại là gì? Như Nhất Bạch đáo Chấn, là Tý hình Mão, Nhất Bạch đáo Khôn là Tý hại Mùi, các loại khác cũng thế mà suy.
    Không Vong là thế nào? Lấy theo Thái Tuế bản giáp là phương vị Không Vong. Tỷ như Giáp Tý 10 năm thì tại Tuất, Hợi là Không Vong; Giáp Tuất 10 năm thì tạiThân, Dậu là Không Vong; Giáp Thân 10 năm thì tại Ngọ, Mùi là Không Vong... Cát Tinh hay Hung Tinh mà đến cung Không Vong thì đều bị kềm hãm vô lực, dầu Tử, Bạch đến đấy cũng vô dụng. Nếu Tử, Bạch đến cung sinh phù thì là Cát.
     
    #44
  5. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    KHỞI NIÊN BẠCH QUYẾT
    Niên bạch Tam Nguyên, các bất đồng
    Thượng Nguyên Giáp Tý khởi Khảm cung.
    Trung Nguyên Tứ Lục, cung trung khởi
    Hạ Nguyên Thất Xích nghịch hành cung.

    Nghĩa là: Khởi Bạch tinh về niên mỗi vận đều khác. Như Thượng Nguyên năm Giáp Tý thì khởi ở cung Khảm Nhất Bạch. Trung Nguyên thì năm Giáp Tý khởi ở cung Tốn Tứ Lục. Hạ Nguyên năm Giáp Tý thì khởi ở cung Thất Xích Đoài, tất cả đều là đi nghịch.
    Mỗi một Giáp Tý thì đều nghịch hành Cửu tinh ở từng năm, nhưng khi nhập trung cung rồi thì phi thuân. Như Thượng Nguyên năm Giáp Tý thì khởi ở cung Khảm là Nhất Bạch, năm Ất Sửu sẽ là cung Cửu Tử Ly, năm Bính Dần sẽ là Bát Bạch Cấn... Khi nhập trung cung thì năm Giáp Tý Nhất Bạch Khảm nhập trung, thuận phi, Nhị Hắc Khôn đến Càn, Tam Bích Chấn đến Đoài...; năm Ất Sửu thì Cửu Tử là Ly sẽ nhập trung cung, thuận phi, Nhất Bạch Khảm đến Càn, Nhị Hắc Khôn đến Đoài... Các vận khác cũng tính như thế, tuỳ sao của Vận đó khởi từ đâu mà tính tiếp cho các năm sau. Cách dễ nhớ nhất là tính ngược:
    Ví dụ: Thượng Nguyên Giáp Tý là Nhất, thì Giáp Tuất là Cửu, Giáp Thân là Bát, Giáp Ngọ là Thất, Giáp Thìn là Lục, Giáp Dần là Ngũ.
    Đến Trung Nguyên Giáp Tý là Tứ, Giáp Tuất là Tam, Giáp Thân là Nhị, Giáp Ngọ là Nhất, Giáp Thìn là Cửu, Giáp Dần là Bát.
    Đến Hạ Nguyên Giáp Tý là Thất, Giáp Tuất là Lục, Giáp Thân là Ngũ, Giáp Ngọ là Tứ, Giáp Thìn là Tam, Giáp Dần là Nhị.
    Các anh chị, các bạn cũng thấy, tất cả thành một vòng khép kín, từ Thượng Nguyên đến Trung Nguyên rồi Hạ Nguyên, tuy khởi cung khác nhau nhưng khí vận xoay vần tuần tự nối tiếp nhau không chút sai lệch. Cách tính cách cung một tuần Giáp như thế này sẽ tiện cho chúng ta tìm những năm cách xa năm hiện tại.
    Tu tạo, khởi công làm thì Đại Kỵ kiến phương của bản cục. Nghĩa là: Khảm cục thì lấy Nhất Bạch làm Kiến, nếu Nhất Bạch đáo phương Khảm thì không nên làm. Lại kỵ Sát tinh của bản cục ở đấy. Như là Khảm cục kỵ Nhị Hắc và Bát Bạch gia đáo bản cung Khảm. Phạm Kiến thì thương Trạch Trưởng, phạm Sát thì chiêu hoành hoạ (tai hoạ đến bất kỳ). Lại Tam Bạch là Cát tinh đến đấy, dầu khắc bản phương vẫn lấy là Tiểu Cát, còn Ngũ tinh khác thì chỉ lấy sinh bản phương mới làm Cát, nếu không phải là Sinh thì đều là Hung.

    NGUYỆT BẠCH KHỞI CHÍNH NGUYỆT TINH QUYẾT
    Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu Bát Bạch cung
    Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Ngũ Hoàng trung
    Dần, Thân, Tị, Hợi cư hà vị
    Nghịch tầm Nhị Hắc thị kỳ trung.

    Nghĩa là: Năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu thì tháng giêng khởi Bát Bạch. Năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì khởi Ngũ Hoàng. Năm Dần, Thân, Tị, Hợi thì khởi Nhị Hắc. Tất cả đều là nghịch hành theo các tháng, nhưng cung vẫn đi thuận.
    Như năm nay là năm Sửu thì tháng giêng là Ngũ Hoàng, tháng hai là Tứ Lục, tháng ba là Tam Bích, tháng tư là Nhị Hắc... Rồi tháng giêng nhập trung cung là Ngũ, thì Lục đến Càn, Thất đến Đoài, Bát đến Cần... Tháng 8 là Thất Xích nhập trung cung, thì Bát Bạch đến Càn, Cửu Tử đến Đoài, Nhất Bạch đến Cấn... Các năm khác khởi tháng cũng y theo thế mà suy.
    Cái Cát, Hung của năm thì còn chậm, chứ cái Cát, Hung của tháng thì tới mau lắm.

    TAM NGUYÊN NHẬT BẠCH QUYẾT
    Đông Chí Nhất Bạch, Vũ Thuỷ Xích
    Cốc Vũ nguyên tòng Tứ Lục cầu
    Hạ Chí Cửu Tử, Xử Thử Bích
    Sương Giáng tiên tòng Lục Bạch du
    Dương tu thuận khứ, Âm hoàn nghịch
    Đãn cầu Lục Giáp vĩnh vô hưu
    Nhược phùng Tử, Bạch phương vi Cát
    Hoạt pháp tu dương, tử tế sưu.

    Nghĩa là: Những ngày bắt đầu từ sau tiết Đông Chí thì lấy Giáp Tý khởi Nhất Bạch. Những ngày từ sau tiết Vũ Thuỷ thì lấy Giáp Tý khởi Thất Xích. Những ngày sau tiết Cốc Vũ thì lấy Giáp Tý khởi Tứ Lục. Những ngày sau tiết Hạ Chí thì lấy Cửu Tử cho ngày Giáp Tý. Những ngày sau tiết Xử Thử thỉ lấy Giáp Tý khởi Tam Bích. Những ngày sau tiết Sương Giáng thì lấy Giáp Tý khởi Lục Bạch. Dương thì theo chiều thuận, Âm phải theo chiều ngược quay đi. Tìm đúng Lục Giáp thì lâu dài phát phước không nghĩ.
    Ở trên mình chỉ in đâm có một hàng của tiết Đông Chí, chỉ là để nhấn mạnh với các anh chị, các bạn rằng: Đừng lầm tưởng cứ ngày Giáp Tý sau Đông Chí đều là Nhất Bạch. Mà là khởi ngày Giáp Tý là Nhất Bạch. Nếu như ngày giao tiết Đông Chí đó mà ngay ngày Giáp Tý thì không có gì để bàn cãi, NHƯNG nếu như đó không phải ngày Giáp Tý thì tính cách nào?
    Ví dụ: Ngày giao tiết Đông Chí là ngày Canh Dần. Ta cứ khởi Giáp Tý là Nhất Bạch, do từ Đông Chí đến Hạ Chí là Dương khí thịnh, nên thuộc Dương, đi thuận. Giáp Tý là Nhất, Ất Sửu là Nhị, Bính Dần là Tam, Định Mẹo là Tứ...Giáp Tuất là Nhị...Giáp Thân là Tam, Ất Dậu là Tứ, Bính Tuất là Ngũ, Đinh Hợi là Lục, Mậu Tý là Thất, Kỷ Sửu là Bát, Canh Dần là Cửu. Vậy ngày giao tiết Đông Chí, ngày Canh Dần đó là sao Cửu Tử. Muốn động cung nơi nào thì đem Cửu Tử nhập trung, thuận phi đi.
    Các tiết khí kia cũng y theo vậy mà tính.
    Các tiết Đông Chí, Vũ Thuỷ, Cốc Vũ là thuộc Dương, đi thuận ngày, lẫn thuận cung khi nhập trung.
    Các tiết Hạ Chí, Xử Thử, Sương Giáng thuộc Âm, đi nghịch ngày, nhưng vào trung cung vẫn thuận.
    TAM NGUYÊN THỜI BẠCH QUYẾT
    Tam Nguyên thời bạch, nhật tương đồng
    Dương thuận, Âm nghịch nhập trung cung
    Đông Chí Nhất, Tứ, Thất dương kỳ
    Hạ Chí Cửu, Lục, Tam thị tông.

    Nghĩa là: Khởi Bạch của giờ cũng như lệ khởi ngày, Dương thì đi thuận giờ, Âm thì đi nghịch giờ và vào đến trung cung rồi đều thuận phi đi 8 phương. Tiết Đông Chí thì nhớ là khởi Nhất Bạch, Tứ Lục và Thất Xích. Tiết Hạ Chí nhớ là khởi Cửu Tử, Lục Bạch và Tam Bích.
    Quá khó hiểu phải không các anh chị, các bạn. Đọc chẳng biết sau tiết Đông Chí khi nào dùng Nhất, khi nào dùng Tứ và khi nào dùng Thất cả. Thực ra cái này là phân theo nhóm ngày Mạnh, Trọng, Quý thôi. Các ngày Tý Ngọ Mẹo Dậu là nhóm thứ nhất, tương ứng với sao thứ nhất trong cả hai tiết Đông Chí và Hạ Chí. Thìn Tuất Sửu Mùi là nhóm thứ hai, tương ứng với sao thứ hai trong cả hai tiết Đông Chí và Hạ Chí. Dần Thân Tị Hợi là nhóm thứ ba, tương ứng với sao thứ ba trong cả hai tiết Đông Chí và Hạ Chí. Nói đến đây, NCD chắc chắn rằng cũng còn một vài anh chị, bạn nào đó chưa hiểu, ví dụ sẽ thấy ngay thôi.
    Ví dụ: Giờ Thìn của Ngày Thân sau tiết Đông Chí, nhưng chưa đến Hạ Chí.
    Ta thấy Thân trong nhóm thứ ba, vậy thì sao thứ ba trong tiết Đông Chí là gì? Nhất, đến Tứ, đến Thất. Vậy giở Tý của ngày đó sẽ khởi là sao Thất Xích, giờ Sửu là sao Bát Bạch, giờ Dần là sao Cửu Tử.... Giờ Thìn có sao Nhị Hắc nhập trung, thì Tam Bích đến Càn, Tứ Lục đến Đoài, Ngũ Hoàng đấn Cấn...
    Ví dụ: Giờ Ngọ ngày Mùi sau tiết Hạ Chí, trước tiết Đông Chí.
    Ta thấy Mùi trong nhóm thứ hai Thìn Tuất Sửu Mùi, nên tương ứng với sao thứ hai của tiết Hạ Chí, đó là sao Lục Bạch. Vậy giờ Tý ngày hôm đó là sao Lục Bạch quản trị, giờ Sửu là Ngũ Hoàng (nhớ nghen, đây là Âm nên đi nghịch), giờ Dần là Tứ Lục, giờ Mẹo là Tam Bích, giờ Thìn là Nhị Hắc, giờ Tị là Nhất Bạch, giờ Ngọ là Cửu Tử. Ta lấy giờ Ngọ Cửu tử nhập trung, THUẬN PHI, đi 8 phương thì Nhất Bạch đến Càn, Nhị Hắc đến Đoài, Tam Bích đến Cấn...
    Còn một cách nữa là ta nhớ theo Thiên, Địa, Nhân Tam Nguyên Long của Huyền Không. "Thiên Nhất Cửu, Địa Tứ Lục, Nhân Thất Tam". Cứ ngày thuộc Thiên thì tiết Đông Chí lấy Nhất Bạch, tiết Hạ Chí lấy Cửu Tử. Ngày thuộc Địa thì tiết Đông Chí lấy Tứ Lục, tiết Hạ Chí lấy Lục Bạch. Ngày thuộc Nhân thì tiết Đông Chí lấy Thất Xích, tiết Hạ Chí lấy Tam Bích.
    Ta lại để ý, thứ tự các sao trong tiết Đông Chí là Nhất, đến Tứ, đến Thất là các số thuộc nhóm 1-4-7 y như Tam Ban Quái, lớn dần lên theo chiều thuận. Các sao trong tiết Hạ Chí là Cửu, Lục, Tam là các số thuộc nhóm 3-6-9 y như Tam ban Quái nhưng nhỏ dần theo chiều nghịch đi xuống. Ta cứ lấy ba Địa Chi đầu tiên làm chuẩn mà tính sẽ dễ và lẹ rất lẹ: Ngay Tý cứ đọc Nhất Cửu, còn thuộc Đông Chí thì lấy số trên, Hạ Chí lấy số dưới. Ngay Sửu thì cứ đọc Tứ Lục, thuộc Đông Chí lấy số trên, thuộc Hạ Chí thì lấy số dưới. Ngay Dần thì đọc Thất Tam, thuộc Đông Chí thì lấy số trên, thuộc Hạ Chí thì lấy số dưới. Còn nhóm đó chẳng qua là các nhóm Tứ Hành Xung mà NCD nghĩ chúng ta ai cũng biết rồi đó.
    Trên đây cả, năm, tháng, ngày, giờ chỉ có gặp các sao Tử, Bạch Sinh khí thì mới là Đại lợi. Tu tạo ở ba phương Bạch thì không kỵ Thái Tuế, Tướng Quân, Quan Phù, Đại Hao, Tiểu Hao, hành niên bản mệnh được mọi điều Cát. Chỉ có Thiên Cương Tứ Vượng, Sát Đại Nguyệt Kiến thì chẳng nên phạm. Cẩn thận!
    TỔNG LUẬN
    NIÊN, NGUYỆT BẠCH QUYẾT
    Bát Quái sơn đầu số yếu tinh.
    Chiêu nhiên dị kiến, lý nghi minh
    Ai niên, toán nguyệt, bình tai hoạ.
    Huyền huyền thấu lý, quỷ thần kinh.

    Nghĩa là: Cái độ số của tám phương thuộc về Tam Nguyên phi đến bản cục cốt phải tinh tường, rõ rệt dễ thấy, lý luận phân minh. Phải tính tháng và năm của Nguyên Vận tinh phi đến. Tuy huyền bí cao siêu, nhưng Lý Khí mà thấu được thì quỷ thần cũng kinh sợ.
    Những cái Sát khí gia thuỷ cục tất thị phát hung, như là Nhị Hắc gia Khảm cục vậy. Sinh Khí gia Mộc cục tất phát phước, như là Nhất Bạch gia Tứ Tốn vậy. Trước lấy Chủ Vận của Tam Nguyên gia đấy, thì sau định hai mươi năm Cát, Hung. Rồi lại theo năm và tháng , lấy quản trị tinh gia vào đấy, thì cái hạn Cát, Hung có thể quyết đoán được.
    Lại Tam Nguyên độ số đến bản cục, làm Ám Kiến, đối cung làm Ám Phá. Như Thượng Nguyên Giáp Tý, thì năm Bính Dần đáo Cấn, thì Cấn cục làm Ám Kiến, Khôn cục làm Ám Phá. Nguyên là Cát Địa, Mỹ Huyệt thì lay động Bản Long, vậy mọi sự được Cát Tường. Nếu là đất Hung, Huyệt sai lầm thì mọi sự Đại Hung.
    Những Can Chi của Thái Tuế ở bản vị làm Minh Kiến, đối cung làm Minh Phá. Như năm Giáp Tý, Giáp ở cung Chấn làm Can Minh Kiến, Tý ở Khảm cung làm Chi MInh Kiến. Vậy thì Đoài làm Can Minh Phá, Ly làm Chi Minh Phá. Năm Mậu, Kỷ thì Can Kiến Phá đều ở Trung cung. Phạm vào Can Kiến, Phá thì hoạ, phước giảm một nửa. Phạm vào Chi Kiến, Ph1 thì Đại Hung, không nên phạm.
    CỬU TINH KHẮC ỨNG QUYẾT
    Nhất Bạch tinh bản thuộc Thuỷ
    Chấn, Tốn tu tạo mỹ
    Khan khan Thất, Bát, Cửu nguyệt lai
    Giao tiến Nam phương ngoại khí tài.
    Nhị Hắc tinh bản thuộc Thổ
    Kiền, Đoài phùng chi tu tạo mỹ
    Thả đãi Nhị, Bát nguyệt giao lai
    Tiến nhập Đông, Bắc, Tây phương tài
    Tam Bích tinh bản thuộc Mộc
    Dư cung mạc tạo Tác
    Giáo quân Nam phương dụng trước thời
    Tây phương hoá vật lục tuần chí (Tứ Lục tinh đồng).
    Ngũ Hoàng tinh trung Thổ tôn
    Tây Bắc chính tương thân
    Thử tinh d6ãn khả tu Kiền, Đoài
    Thất, Bát, Cửu nguyệt ngoại tài lâm (Bát Bạch cánh Cát).
    Lục Bạch tinh nguyên thuộc Kim
    Khảm sơn dụng chi phước dĩ thâm
    Đãn giao Tứ, Lục, Thất, Bát nguyệt
    Đông Nam hỷ chí, lạc hân hân (Thất Xích tinh đồng).
    Cửu Tử bản thuộc Hoả
    Khôn, Cấn nhị phương tu tạo khả
    Trực đãi Dần, Tị, Ngọ nguyệt niên
    Bắc phương tài sản lai, phi toả.

    Nghĩa là:
    Sao Nhất Bạch vốn thuộc Thuỷ, về phương Chấn và phương Tốn tu tạo (đặt táng hay làm nhà) thì tốt đẹp. Xem thấy tháng 7, tháng 8, tháng 9 liền lại, thì có ngoại tài ở phương Nam tiến tới.
    Sao Nhị Hắc vốn thuộc Thổ, về phương Đoài và phương Kiền, gặp được lúc tu tạo thì tốt, và đợi đến tháng 2 và tháng 8 khí giao lai, thì có của ở phương Đông Bắc và phương Tây tiến đến.
    Sao Tam Bích vốn thuộc Mộc, các cung khác không nên tạo tác. Chỉ có phương Nam mà dụng làm thì có của cải ở phương Tây đưa đến, chỉ 60 ngày là đưa đến => Mau phát. (Sao Tứ Lục cũng như sao này).
    Sao Ngũ Hoàng thuộc Thổ, là sao tôn trọng ở Trung cung, phương Tây Bắc chính là tương thân. Sao này chỉ nên tu tạo ở hai phương Kiền và Đoài, các tháng 7, 8, 9 thì có ngoại tài đến (sao Bát Bạch gặp cũng tốt lành).
    Sao Lục Bạch nguyên thuộc Kim, phương Khảm mà gặp được, tạo tác thì phước càng lâu bền, to dầy. Nhưng đợi tháng 4, 6, 7 giao khí đến, thì có vui mừng ở phương Đông Nam đến (sao Thất Xích cũng như sao này).
    Sao Cửu Tử vốn thuộc Hoả, gặp hai phương Khôn và Cấn thì nên tu tạo. Đợi đến tháng hoặc năm Dần, Tị, Ngọ thì tốt, sẽ có tài sản ở phương Bắc đem đến, chẳng phải khoá cửa.
    THÁI TUẾ SƠN ĐẦU BẠCH TINH QUYẾT
    Tý niên Nhất Bạch nhập Trung cung.
    Ngọ tái tương phùng Cửu Tử đồng.
    Mẹo tuế Trung cung Tam Bích hội.
    Dậu niên Thất Xích thị tinh tông.
    Mùi, Thân nhị niên câu Nhị Hắc
    Thìn, Tị hồi lai Tứ Lục trung.
    Tuất, Hợi Trung cung khởi Lục Bạch.
    Sửu, Dần Bát Bạch chính tương phùng.
    Bạch đáo sơn đầu nghi tác dụng
    Âm phần, lập Trạch, tử tôn vinh.
    Bạch trung hữu sát nghi hồi tị.
    Phạm giả tu giao lập kiến hung.

    Nghĩa là: Năm Tý thì sao Nhất Bạch nhập Trung. Năm Ngọ thì sao Cửu Tử nhập Trung. Năm Mẹo thì sao Tam Bích nhập Trung. Năm Dậu thì sao Thất Xích nhập Trung. Năm Mùi và năm Thân thì lấy sao Nhị Hắc nhập Trung. Năm Thìn và năm Tị thì lấy sao Tứ Lục nhập Trung. Năm Tuất và năm Hợi thì khởi sao Lục Bạch nhập trung.
    Năm Sửu và năm Dần thì sao Bát Bạch nhập Trung. Những sao Bạch đến cung Tọa, Hướng thì nên làm nhà, hay làm mộ phần thì con cháu được hiển vinh. Ở trong phương mà sao Bạch phi đến lại bị Sát thì nên tránh đi không dùng, nếu phạm vào thì lập tức thấy ngay cái Hung.
    Trên đây là 12 năm, năm nào lấy sao gì nhập Trung cung để phi ra Bát phương. Tìm 3 sao Bạch đến phương nào thì phương ấy tốt, nên tu tạo. Nhưng bị Sơn sát thì tránh không nên làm.
    Ví dụ như năm Tý, ta lấy Nhất Bạch nhập Trung cung, thì Tứ Lục đến Cấn, là Mộc khắc Thổ, nếu làm tại Cấn Sơn, Phương (Động Thổ, Tu Tạo) thì 4 người bị thương. Phạm Nhất Bạch sát thì bị thương 1 người, phạm sao Nhị Hắc sát thì bị thương 2 người... Lấy số của sao mà suy đoán.
    Cốt là biết ứng vào thời điểm nào. Như sao Tứ Lục thì có thể là 40 ngày, là 4 tháng; xa thì lấy năm Thìn, năm Tị hoặc năm tương xung là năm Tuất, năm Hợi sẽ ứng..
    Cần biết là người nào bị tổn thương, thì lấy Địa Chi ở phương phạm ấy, ứng vào đó. Như Cấn phương là Sửu, Dần thì ứng vào người tuổi Sửu, tuổi Dần...
    Phép đoán tháng cũng cùng như năm. Như năm Dần lấy Bát Bạch nhập Trung. Bạch trung sát giả, là Ám Kiến Sát, Lục Tiệp Sát, Xuyên Tâm Sát, Đấu Ngưu Sát, Giao Kiếm Sát, Thụ Khắc Sát, những phương phạm Sát đều chẳng nên phạm.
     
    #45
  6. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    Nhất Bạch đáo Ly phi vi Cát.
    Nhị Hắc hoàn phùng Khảm thượng hung.
    Tam Bích, Tứ Lục_ Khôn, Cấn phạm.
    Ngũ Hoàng, Bát Bạch_ Khảm, Trung hung.
    Lạu Bạch, Thất Xích_ Chấn, Tốn kỵ.
    Cửu Tử tương hình Kiền, Đoài trung.
    Bạch trung hữu Sát thiểu nhân tri.
    Đa, thiếu thời sư hội bất thông
    Đãn đáo Mộc Bạch vi Sinh Khí,
    Hắc, Hoàng, Bích, Lục, Xích hà Hung.

    Nghĩa là: Sao Nhất Bạch phi đáo cung Ly thì không phải là Cát. Nhị Hắc gặp đến phương Khảm thì Hung. Tam Bích, Tứ Lục mà đến hai phương Khôn, Cấn thời Hung. Ngũ Hoàng, Bát Bạch đến cung Khảm là Hung. Lục Bạch, Thất Xích đến hai phương Chấn Tốn thì kỵ. Cửu Tử đến hai phương Kiền, Đoài thì hình hung. Ở trong phương Bạch bị Sát ít có người biết, phần nhiều là các người làm thầy lúc còn ít tuổi không biết được thông đạt cái lý này. Nhưng đáo cung Mộc thì Nhất Bạch là Sinh Khí; Nhị Hắc, Ngũ Hoàng, đáo cung Kiền, Đoài hay Tam Bích Mộc đến đến cung Tốn cũng là Mộc thì đâu phải là Hung?
    Nhất định kỵ Sát Khí nhập Trung. Như Khảm sơn kỹ Nhị Hắc, Bát Bạch nhập trung, thì Đại kỵ tu tạo.
    Nhất định kỵ Sát tinh đáo phương. Như là Cửu Tử phi đáo Kiền, Đoài phương cũng kỵ tu tạo cả, nếu phạm thì bị phi tai hoàng họa, như là hỏa tai, đạo tặc, kiện tụng, tù ngục, ôn hoàng, dịch lệ, Đại hung. Cả Tam Nguyên và năm tháng ngày giờ, Bạch tinh cùng kỵ như nhau.
    Tý niên Kiền, Khảm, Chấn phương khai.
    Sửu, Dần, Trung, Đoài, Cấn, Ly lai.
    Mão niên, Khôn, Cấn, Chấn, Tốn cát.
    Thìn, Tị, Ly, Khôn, Chấn, Đoài tài.
    Ngọ, Khôn, Kiền, Tốn, Ly, Trung, Đoài.
    Mùi, Thân, Khôn, Khảm, Tốn, Trung, Ly.
    Duy hữu Dậu niền Kiền, Cấn cát.
    Tuất, Hợi thủ cung Cấn, Đoài suy.
    Hoàn hữu Chấn, Kiền vi tiểu lợi.
    Phân minh chỉ dẫn hậu nhân tài.

    Bài này tức là lấy Bát Bạch đáo sơn đầu, định cục tốt. Như là năm Tý thì lấy Nhất Bạch nhập Trung, phi tá thì Nhị Hắc gia Kiền là Sinh Khí, Lục Bạch gia Khảm là Sinh Khí, Bát Bạch gia Chấn là Cát Khí, nên mới bảo rằng Kiền, Khảm, Chấn phương khai.
    Như năm Sửu, Dần thì lấy Bát Bạch nhập Trung, thì Trung Cung là tốt rồi, Nhất Bạch đáo Đoài là Sinh Khí, Nhị Hắc đáo Cấn là Cát Khí, Tam Bích đáo Ly là Sinh Khí, nên mới bảo rằng Sửu, Dần_ Trung, Đoài, Cấn, Ly lai là thế.
    Các năm khác cũng theo đó mà suy.
    ***Theo NCd mình nhận thấy trong yếu quyết trên có phần lẫn lộn, có thể do sách in sai: Vì như năm Tý thì khi Bát Bạch đến Chấn là Cung khắc Tinh không thể là Cát, năm Sửu, Năm Dần khi Nhất Bạch đến Đoài là Cung sinh Tinh cũng chẳng thể là Cát.
    NIÊN ĐẦU CỬU TINH QUYẾT
    Thập nhị niên đầu phân chính vị
    Tổng lĩnh vạn vật chủ cùng, thông
    Thế nhân bất tín chiêu hung cữu
    Tôn thử, tương vi tế thế công.

    Nghĩa là: Mười hai năm phân ra chính vị của sao đứng đầu. Tóm lãnh cả muôn vật hay và dỡ. Người đời không biết thì bị tai họa mãi. Biết cái ấy mà tôn trọng, đem ra làm thì có công tế thế khắp cả thế gian.
    Nói sát nghĩa nghe thì có vẻ khó hiểu, nhưng thực ra ý đoạn văn trên muốn nói trong Cửu Tinh, thì mỗi năm sẽ có 1 Cát Tinh hay Hung Tinh làm chủ trị của năm đó. Cụ thể là: Năm Tý thì sao Tham Lang. Năm Sửu, năm Hợi thì sao Cự Môn. Năm Dần, năm Tuất thì sao Lộc Tồn. Năm Mẹo, năm Dậu thì sao Văn Khúc. Năm Thìn, năm Thân thì aso Liêm Trinh. Năm Tị, năm Mùi thì sao Vũ Khúc. Năm Ngọ thì sao Phá Quân. Mỗi năm lấy sao Chủ trị của năm đó nhập vào Trung Cung, thuận hành tìm Tứ Cát tinh đáo phương thì Đại Lợi.
    Ngoài ra, mỗi năm có 1 sao làm Đế Tinh, nếu phương vị ta định làm mà được ngay Đế Tinh đó đến thì Cát Lợi vô cùng. Cụ thể là:
    Năm Thân, Tý, Thìn thì sao Tham Lang làm Đế Tinh.
    Năm Dần, Ngọ, Tuất thì sao Cự Môn làm Đế Tinh.
    Năm Tị, Dậu, Sửu thì sao Phá Quân làm Đế Tinh.
    Năm Hợi, Mẹo, Mùi thì sao Lộc Tồn làm Đế Tinh.

    Tứ Đế Tinh đáo Sơn, Phương thì lợi tạo táng, đáo phương nào thì lợi việc tu phương ở nới nơi ấy.
    Qua đây, ta mới thấy rõ: Không phải chỉ có Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc là Tam Cát Tinh, mà tùy thời tùy lúc mà Hung Tinh cũng trở thành Cát. Xem phải tường, biết phải tận là vậy.
    NIÊN ĐẦU TAM CÁT QUYẾT
    Tý niên Chấn, Đoài, Tốn sơn khai
    Sửu, Dần_ Cấn, Đoài, Tốn, Trung tài.
    Mẹo tuế Kiền, Ly, Khôn vi Thổ
    Thìn, Tị_ Đoài, Chấn, Cấn kham tài.
    Ngọ niên cánh hữu Tốn, Cấn, Đoài.
    Mùi, Thân_ Khôn, Khảm, Kiền thượng lai.
    Dậu tuế Ly, Kiền, Khảm thượng đối.
    Tuất, Hợi_ Khảm, Khôn, Ly diệc khai.

    Nghĩa là: Theo phép lấy Thái Tuế đối quái làm chủ, theo Thiên Định Quái phiên Cửu tinh, lấy ba phương Cát làm Khai.
    Như năm Tý thì Tý thuộc Khảm, đối quái là Ly. Theo Thiên Định Quái đối Ly là Chấn, thì lấy Chấn khởi Tham Lang phi đi, Đoài là Cự Môn, Tốn là Vũ Khúc, ba Cát Tinh tới ba phương ấy, nên mới bảo " Tý niên Chấn, Đoài, Tốn sơn khai" là thề. Trong năm Tý nếu ba phương ấy mà tu phương và tạo táng thì đắc lơi. Các năm khác cũng theo cách này mà suy ra vậy.
    DƯƠNG TRẠCH QUYẾT
    Bàn cổ thủ khai, Thiên dữ Địa
    Phục Hy hoạch quái, đồ dĩ bị
    Hiên Viên thủ sáng lập cung thất
    Trụ cơ phong thủy, kham bằng dư.
    Truyền cập Tấn triều Quách Cảnh Thuần
    Tạo trạch, doanh Phần tri xu, tị
    Ư kim phù hợp, quỷ thần cơ
    Tử Bạch tinh thần, suy cao nghệ
    Tiên tu chưởng thưởng thượng bãi Cửu Cung.

    Nghĩa là: Từ thuở đầu tiên, đời Bàn Cổ mở ra Trời và Đất. Đến Phục Hy đã vạch ra đủ quái đồ. Đến đời Hiên Viên mới bắt đầu sáng lập cung điện, cung thất. Lấy Quái đồ ấy làm trụ cốt của phong thủy, để làm bằng cứ. Tuyền tới Quách Cảnh Thuần đời nhà Tấn. Tạo tác nhà cửa, phần mộ, biết lấy đó mà xu Cát, tị Hung. Đến đời nay, cho đó là phù hợp Huyền cơ của Quỷ Thần.
    So sánh các Tinh Thần, thì Tử Bạch là cao nghệ, nên trước hết bày ra Cửu Cung.
    Đoạn văn trên chỉ tóm lược khởi nguyên của Phong Thủy, và qua đó nhấn mạnh đến Tứ Cát Tinh trong Phong Thủy cần nên tận dụng nó trong Cửu tinh.
    Xét kỹ xem phương nào khởi phong, phương nào gần Thủy để định Quái cục. Sau đó lấy Quái tinh nhập Trung cung, thuận phi ra tám phương để luận Cát Hung. Trước lấy Sinh Khí, Sát Khí.... xem Sa, Thủy ở cục ngoài. Rồi lấy Sát Khí, Sinh Khí... phân ra từng khoảng của bố cục trong nhà. Xem mọi cái Sinh Khí, Sát Khí... thấy ở trên phương nào. Những phương mà rtrên đó thấy Sinh Khí, Vượng Khí thì tốt, nhưng không phải là Hình, Hại với Bản phương thì mới là toàn mỹ. Cái khí Tử, Sát với Bản phương hình khắc nhau thì hung họa, cần tránh.
    Lại lấy phương trường Sinh, Đế Vượng của bản cục làm phương Hữu Khí; phương Tử, Bệnh, Mộ, Tuyệt làm phương Vô Khí. Nội, ngoại cục đều cần luận cả.
    Thứ tương Thái Tuế lâm phương vị
    Tài vấn kỳ gia tạo tác niên
    Thứ độ khai ngôn, vô sai dị.
    Nghĩa là: Lần lượt đem Thái Tuế tới phương vị, rồi mới hỏi đến năm tuổi của nhà tạo tác đó, cứ thứ tự ấy mà khai ngôn thì mới không bỏ sót, và đừng làm sai khác.
    Xem Dương Trạch những năm nào hưng, phế thì lấy ngay bản niên Giáp Tý khởi xử, để tra tìm Trị niên tinh nhập trung, thuận hành bát phương, trước xem ở trên bản cục được Tinh gì, là Sinh, là Khắc so với bản cung để đoán Cát, Hung một nhà.
    Thứ xem các phương, Tinh nào Sinh, Tinh nào khắc, để đoán các phòng Hung, Cát. Như Nhất Bạch gia Tốn, là Sinh Khí thì Tốn cục, Tốn phương Cát; Nhị Hắc gia Khảm, thì Khảm cục, Khảm phương Hung.
    Bản cục tinh làm Thống lâm, bản phương Tinh làm Chuyên lâm. Thống lâm Cát mà Chuyên lâm Hung thì bản phòng chẳng khỏi Hung. Thống lâm Hung mà Chuyên lâm Cát, thì bán phòng không bị mất Cát. Nếu cùng đều là Hung thì rất Hung, cùng là Cát thì rất là lành.
    Lại xem Đại tượng cả 10 năm, đương lấy Quản Giáp Tinh nhập trung, thuận hành bát cục, để tra cái Sinh, cái Sát mà đoán Cát, Hung.
    Quản Giáp Tinh như Thượng Nguyên Giáp Tý là Nhất Bạch, thì Giáp Tuất là Cửu Tử, vậy lấy Cửu Tử làm Quản Giáp Tinh cả 10 năm của tuần Giáp Tuất. Tức là trong 10 năm đó Cửu Tử làm Quản Giáp Tinh Thống lâm. Thái Tuế Tinh sẽ là Chuyên lâm. Thống lâm Cát đến Chuyên lâm Cát thì phát đại phước. Thống lâm Hung đến Chuyên lâm Hung nữa thì tai họa đến.
    Xem Dương Trạch lại phải hỏi xem tạo tác về thời nào? thuộc Nguyên nào? Làm chủ Nguyên là Tinh gì? Và hỏi chủ nhân tuổi mệnh gì? thì sự hưng hoặc phế có thể biết được. Như Thượng Nguyên 60 năm thì 20 năm đầu Nhất Bạch làm chủ Vận, 20 năm kế Nhị Hắc làm chủ Vận, 20 năm cuối Tam Bích làm chủ Vận. Như Nhất Bạch làm chủ Vận thì Khảm, Chấn, Tốn ba cục được Sinh Khí là Đại Cát; Kiền, Đoài, Khôn, Cấn cục là Tử, Thoái khí; Ly cục là Sát khí. Đều ở trong 20 năm ấy mà Hung, Cát bất đồng vậy.
    Đến khi Nhị Hắc làm chủ Vận thì 4 cục Kiền, Đoài, Cấn, Khôn trước Hung nay lại biến thành Sinh, Vượng khí thành Cát; Khảm cục lại biến thành Sát khí mà Hung. Đây là một nhà mà lại có cái hay, dỡ khác nhau.
    Vậy cái nhà tạo tác ở bản Nguyên Giáp Tý, trong bản Nguyên tuy có cái bất Cát, chưa đến Đại Hung, đến sau ra Nguyên khác quản trị, mà bị Tử, Sát khí thì sự hung bại không thể cứu được.
    Lại lấy chủ Vận tinh nhập Trung cung, thuận hành, xem trên bản cục được Tinh gì, để biết rõ Cát, Hung. Nếu được bản Vận là Sinh, Vượng Khí mà gia lâm chỗ bất Cát, thì trong cái Cát có cái Hung. Bản vận là Sát, Tử khí mà gia lâm lai sinh thì còn có phước nhỏ. Như Khảm cục ở trong Vận của Nhị Hắc, thì phương Khảm bất Cát. Nhưng lấy Nhị Hắc nhập trung được Thất Xích gia Khảm, là Kim sinh Thủy, làm Sinh khí thì Cát.
    Lại xem cái tuổi mệnh của chủ nhân nạp âm, mà được cái Sinh, Vượng khí của bản vận thì Cát, bị là Tử, Sát khí thì Hung. Được cả Mệnh và nhà ở đều Cát thì phước to lắm, nếu đều là Hung thì đại bại.
    Chu, Huyền, Thanh, Bạch tứ thú thần
    Tường sát tả, hữu, tiền, hậu trụ
    Tam Bạch, Cửu Tử lệ phi đồng
    Tương hợp, tương sinh, quân tu ký
    Đãn năng thừa thử Cát cung hành
    Phân phòng động tác giai vi tá
    Hắc, Hoàng, Bích, Lục tuy vận Hung
    Nhược phòng Sinh khí Cát vô cùng
    Hoặc ngộ Thoái Sát, hà tu thử
    Đãn tri Vượng vị chủ phú vinh

    Nghĩa là: Chu Tước, Huyền Vũ, Thanh Long, Bạch Hổ là tứ thú thần. Vậy phải xem rõ, bên tả, bên hữu, đằng trước, đằng sau như là Tứ Trụ vậy. Ba phương vị Bạch tinh và Cửu Tử tinh thể lệ không đồng nhau. Những cái tương sinh, tương hợp phải nên nhớ rõ. Chỉ hay thừa được cái ấy mà đi đến Cung Cát. Phân ra từng phòng để tu tạo thì đều giúp sức cả. Nhị Hắc, Ngũ Hoàng, Tam Bích, Tứ Lục tuy nói rằng Hung. Nhưng gặp được Sinh khí thì lại tốt vô cùng. Gặp Thoái, Sát khí thì chẳng nên lấy. Nhưng gặp được Trị Tinh là Vượng vị thì giàu có vinh hoa.
    Dương Trạch phân phòng thì lấy Bản cục tinh nhập trung, thuận phi để xem Sát khí, Sinh khí ở từng phương một mà đoán Cát, Hung riêng từng phòng. Nhưng ở bản phương cũng tự có chia ra từng phần vị Sinh, Vượng, Tử, Thoái Cát, Hung khác nhau. Phi đáo mà khắc bản vị là Sát, bản vị mà khắc phi đáo là Tử, phi sinh bản vị là Sinh, bản vị sinh phi là Thoái, tương tỷ với nhau là Vượng. Hợp với cái Sinh, Vượng ở Trung cung, mà bạn vị lại tự là Sinh, Vượng, chẳng phải tương hình, tương hại thì Đại Cát. Hợp với Sinh, Vượng ở Trung cung, mà bản phương lại là Thoái, Sát thì Cát, Hung tương bán (tuy nói thế nhưng kinh nghiệm NCD thấy thì kiểu này về lâu về dài thì thoái bại). Không được cái Sinh, Vượng của Trung cung, mà bản phương tự là Sinh, Vượng, chẳng tương hình, tương xung thì lại là Cát. Nếu như thế cốt Trợ khởi bản phương, mỗi phương thì lấy cái giường nằm trong phòng ấy làm chủ, định cái cục ấy để luận Sinh, Khắc; lại lấy Phòng sàng tinh (sao chủ của phòng đặt giường) nhập trung, thuận phi ra các cửa, ngõ, bếp, phòng xí...vv.. chọn lấy cái Sinh, Vượng, tránh cái Quan Sát, rất kỵ là Cửa buồng với Cửa Bếp xung nhau, nếu có xung khắc thì nên đổi một đi.
    Định cục luận phương đều có cái tốt, cái xấu, cái Sinh, cái Khắc, đại để được nhiều cái Cát thì tốt lành, nhiều cái Hung thì Hung hại, không nên lấy.
     
    #46
  7. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    MỘT SỐ QUY TẮC CỦA CỔ DỊCH HUYỀN KHÔNG.
    1/ BÀN VỀ ĐỊA VẬN VÀ NHẬP TÙ.
    [​IMG]
    Trong 216 bảng sắp xếp sao để lập quẻ, mỗi bảng đều ghi thời gian dài ngắn của Địa vận.Thời gian địa vận này được xác định nghư thế nào ? Người ta quan niệm : độ dài ngắn của Địa vận là do mối quan hệ giữa Sao ở trung cung và sao Hướng quyết định . Trong 24 Sơn và Hướng , mỗi cặp sao Sơn và Hướng đều có quan hệ giữa sao nhập trung cung và sao Hướng riêng biệt.
    Vào ngục: cũng có thể nói là khí vận hành tận. Nếu một ai đó phạm pháp phải vào tù, thì không thể nói đến chuyện người đó có thể làm được gì, bởi họ đã bị khống chế trong một không gian cố định. Đinh tinh vào ngụ, nhân đinh không vượng. Hướng tinh vào ngục, tức là một loạt các tai hoạ sẽ xảy ra, chủ nhà phá sản, chết chóc thương tâm. Nếu vận vào ngục, thì thường nhìn thấy những người trong gia đình phải chết. Đối với thế cục mà song tinh hội hướng, dựa vào hướng phi tinh di chuyển tới vận của toạ sơn là thời điểm phải vào tù.
    Ví dụ : Sơn Tý - Hướng Ngọ : tại vận 1, sao Nhất bạch thủy nhập trung cung , sao Hướng là Ngũ Hoàng , trong đó các vận 1,2,3,4 cứ mỗi vận 20 năm, tổng cộng là 80 năm. Tứ đó về sau : Bất cứ sao nào nhập trung cung , địa vận đều là 80 năm.
    Các địa vận :
    *Sơn Tý - Hướng Ngọ - Địa vận 80 năm.
    * Sơn Quý - Hướng Đinh - Địa vận 80 năm.
    * Sơn Nhâm - Hướng Bính - Địa vận 80 năm.
    * Sơn Ngọ - Hướng Tý - Địa vận 100 năm.
    Sơn Đinh - Hướng Quý - Địa vận 100 năm.
    * Sơn Bính - Hướng Nhânm - Địa vận 100 năm.
    * Sơn Càn - Hướng Tốn - Địa vận 160 năm.
    * Sơn Hợi - Hướng Tỵ - Địa vận 160 năm.
    * Sơn Tuất - Hướng Thìn - Địa vận 160 năm.
    * Sơn Tốn - Hướng Càn - Địa vận 20 năm.
    * Sơn Tỵ - Hướng Hợi - Địa vận 20 năm.
    * Sơn Thìn - Hướng Tuất - Địa vận 20 năm.
    * Sơn Dậu - Hướng Mão - Địa vận 20 năm.
    * Sơn Tân - Hướng Ất - Địa vận 140 năm.
    * Sơn Canh - Hướng Giáp - Địa vận 140 năm.
    * Sơn Mão - Hướng Dậu - Địa vận 40 năm.
    * Sơn Ất - Hướng Tân - Địa vận 40 năm.
    * Sơn Giáp - Hướng Canh - Địa vận 40 năm.
    * Sơn Khôn - Hướng Cấn - Địa vận 60 năm.
    * Sơn Thân - Hướng Dần - Địa vận 60 năm.
    * Sơn Mùi - Hướng Sửu - Địa vận 60 năm.
    * Sơn Cấn - Hướng Khôn - Địa vận 120 năm.
    * Sơn Dần - Hướng Thân - Địa vận 120 năm.
    * Sơn Sửu - Hướng Mùi - Địa vận 120 năm.
    Như vậy ta thấy rằng, khi phân kim điểm hướng, bất kể các hướng tốt như Vượng Sơn - Vượng Hướng, Toàn cục hợp Thập hay các hướng xấu như thượng sơn - Hạ Thủy thì các tính chất tốt xấu chỉ nằm trong thời gian của Địa vận . Vượt quá thời gian của Địa vận thì Hướng tinh sẽ nhập trung cung và nó sẽ bị mất tác dụng.
    Ví dụ : Nhà lập sơn Tý - Hướng Ngọ vận 1. Hướng tinh của nó là Ngũ Hoàng.
    Đến vận 5, Ngũ Hoàng nhập trung cung, lúc đó hướng mà nó xác lập ban đầu không còn ý nghĩa nữa. Hiện tượng này gọi là " Vô khả hướng " - Nghĩa là không còn hướng nào có thể chọn làm hướng được nữa.
    Hiện tượng này còn gọi là " Hướng tinh nhập tù" . Nhà mà hướng tinh nhập tù thi cả Đinh ( người ) và tài đều suy, khó cứu vãn nổi. Chỉ có một trường hợp nhập tù mà nếu môi trường bên ngoãi tốt đẹp thì tuy nhập tù không bị suy bại.
    Ví dụ : Nếu trên phương để lập hướng có sông , hồ lớn, hoặc lối đi trước cửa rông thênh thang, luốn lượn có tình thì nhập tù cũng không hãm nổi. Còn có trường hợp là Hướng vượng được xác lập khi vận 5 , Ngũ Hoàng nhập trung cung . Hướng này tất yếu Ngũ Hoàng là hướng tinh của hướng đó. Bởi vì Ngũ Hoàng Thổ thuộc trung ương , uy nghiêm, cao nhất nên không xem là nhập tù. Trường hợp này chỉ có tại vận 5 với 12 sơn - Hướng sau "
    Vận 5.
    * Sơn Tý- Hướng Ngọ.
    * Sơn Quý - Hướng Đinh.
    * Sơn - Ngọ - Hướng Tý.
    * Sơn Đinh - Hướng Quý.
    * Sơn Tuất - Hướng Thì,
    * Sơn Thìn - Hướng Tuất.
    * Sơn Sửu - Hướng Mùi.
    * Sơn Mùi - Hướng Sửu.
    * Sơn Mão - Hướng Dậu.
    * Sơn Dậu - Hướng Mão.
    * Sơn Ất - Hướng Tân.
    * Sơn Tân - Hướng Ất.
    Tất cả các sơn hướng trên tại vận 5 đều có hướng tinh là Ngũ Hoàng.
    Các địa vận thời gian dài nhất là 160 năm, ngắn nhất là 20 năm. Tổng hợp lại 160 + 20 = 180 năm gọi là Địa vận Tam nguyên nhỏ. Nếu địa mạch kéo dài liên miên , khí thế bao la hùng vĩ , trong 8 phương có 2 cung thành môn , tả hữu đầy đủ , lại là toàn cục hợp thập thì Địa vận có thể kéo dài 540 năm hoặc 1080 năm. Thông thường nhà chỉ cần địa vận tốt , vượng trong khoảng 100 năm là đủ. Tuy nhiên nếu là mồ mả thì phải cần địa vận có thời gian dài hơn. Để có thể kéo dài Địa vận lên tới 1080 năm như trường hợp Long mạch mộ Tổ Vũ Hồn của dòng họ Võ - Vũ Việt Nam , cần hội tụ rất nhiều điều kiện. Đây cũng chính là nguyên nhân dienbatn hay làm các mộ có hình bát quái hoặc tròn kết hợp với Trận đồ bát quái . Việc này dienbatn sẽ giải thích rõ ràng ở phần Phong thủy Huyền môn .

    2/ BÀN VỀ 2 CUNG THÀNH MÔN.
    a/ Phương pháp thành môn là phép phụ trợ cho việc tọa Sơn lập Hướng.

    Quẻ Thành môn có 2 loại : Thành môn chính và Thành môn phụ.

    Về lý Khí , Thành môn chính hỗ trợ cho chính hướng 60 % Khí.
    Thành môn phụ hỗ trợ cho chính hướng 40 % Khí.
    Dựa vào Lạc thư, khi biết hướng nhà thì 2 quẻ 2 bên hướng là quẻ Thành môn.
    Thành môn chính là quẻ kết hợp được với số của Hướng sẽ phù hợp tạo thành hành.

    [​IMG]
    VÍ DỤ : Hướng số 1.

    1 Thủy, 6 Kim . Kim sinh Thủy nên cung 6 là quẻ Thành môn chính.
    1 Thủy , 8 Thổ . Thổ khắc Thủy nên cung 8 là quẻ Thành môn phụ.

    Dựa theo nguyên vận khác nhau để xây dựng nhà ở , tọa Sơn lập Hướng là phải tìm được " Vượng Sơn - Vượng Hướng " , làm cho gia nghiệp thịnh vượng . Nếu lập được " Vượng Sơn - Vượng Hướng " , sẽ co được một loại vượng Khí phụ trợ , giúp đỡ thêm thì đã vượng lại càng thêm vượng. Nếu nhà lập được không phải " Vượng Sơn - Vượng Hướng " , nhưng được Khí của 2 bên hướng trợ giúp , thì dù hướng không đẹp vẫn có thể phát đạt, giống như đang khó khăn nhận được sự giúp đỡ. . Sức mạnh phụ trợ này chính là tìm được vượng Khí của thành môn bằng phương pháp Thành môn.


    b/ Vượng Khí của Thành môn đến từ phương nào ?

    Vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ của 2 bên hướng .
    * Lập hướng Ly , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Khôn và quẻ Tốn.
    *Lập hướng Khảm , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Càn và quẻ Cấn .
    * Lập hướng Đoài , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Càn và quẻ Khôn.
    * Lập hướng Chấn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Cấn và quẻ Tốn.
    * Lập hướng Cấn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Chấn và quẻ Khảm.
    * Lập hướng Khôn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Ly và quẻ Đoài.
    * Lập hướng Càn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Khảm và quẻ Đoài.
    * Lập hướng Tốn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Chấn và quẻ Ly.

    Bát quái có tất cả 24 Sơn, Hướng , mỗi quẻ có 3 hướng , mỗi hướng phải chọn 2 bên nó làm Thành môn . Lập Hướng theo Nguyên long nào thì quẻ Thành môn phải chọn 2 bên thuộc nguyên long đó .

    Ví dụ : Lập Hướng thuộc Thiên nguyên long thì phải chọn 2 bên Thiên nguyên long đó làm Thành môn.
    Có như vậy mới giữ được " Khí thuần cùng nguyên " . Khí phải thuần nhất, cùng nguyên , không pha tạp mới có hiệu quả , nếu không dễ gặp tai họa.
    * Lập hướng Tý, Thành môn chính ở Càn , Thành môn phụ ở Cấn.
    * Lập hướng Quý, Thành môn chính ở Hợi, Thành môn phụ ở Dần.
    * Lập hướng Nhâm , Thành môn chính ở Tuất , Thành môn phụ ở Sửu.
    * Lập hướng Càn , Thành môn chính ở Tý , Thành môn phụ ở Dậu.
    * Lập hướng Hợi , Thành môn chính ở Quý , Thành môn phụ ở Tân.
    * Lập hướng Tuất , Thành môn chính ở Nhâm , Thành môn phụ ở Canh.
    * Lập hướng Dậu , Thành môn chính ở Khôn , Thành môn phụ ở Càn.
    * Lập hướng Tân , Thành môn chính ở Thân, Thành môn phụ ở Hợi.
    * Lập hướng Canh , Thành môn chính ở Mùi, Thành môn phụ ở Tuất.
    * Lập hướng Khôn , Thành môn chính ở Dậu , Thành môn phụ ở Ngọ.
    * Lập hướng Thân , Thành môn chính ở Tân , Thành môn phụ ở Đinh.
    * Lập hướng Mùi , Thành môn chính ở Canh , Thành môn phụ ở Bính.
    * Lập hướng Ngọ , Thành môn chính ở Tốn , Thành môn phụ ở Khôn.
    * Lập hướng Đinh , Thành môn chính ở Tỵ, Thành môn phụ ở Thân.
    * Lập hướng Bính , Thành môn chính ở Thìn , Thành môn phụ ở Mùi.
    * Lập hướng Tốn , Thành môn chính ở Ngọ , Thành môn phụ ở Mão.
    * Lập hướng Tị , Thành môn chính ở Đinh , Thành môn phụ ở Ất.
    * Lập hướng Thìn , Thành môn chính ở Bính , Thành môn phụ ở Giáp.
    * Lập hướng Mão , Thành môn chính ở Cấn , Thành môn phụ ở Tốn.
    * Lập hướng Ất, Thành môn chính ở Dần , Thành môn phụ ở Tị.
    * Lập hướng Giáp , Thành môn chính ở Sửu , Thành môn phụ ở Thìn.
    * Lập hướng Cấn , Thành môn chính ở Mão , Thành môn phụ ở Tý.
    * Lập hướng Dần , Thành môn chính ở Ất , Thành môn phụ ở Quý.
    * Lập hướng Sửu , Thành môn chính ở Giáp , Thành môn phụ ở Nhâm.
    c/ Không phải hai bên của hướng nào cũng có Thành môn đáng chọn.
    Về nguyên tắc, 2 bên của một Hướng xác định , đều tốn tại Thành môn chính và Thành môn phụ. Nhưng vì âm , dương của Hướng tinh Thiên bàn bay đến 2 bên khác nhau sẽ tạo ra 3 tình hướng :
    * Một là hai bên của Hướng tồn tại Thành môn chính và thành môn phụ.
    * Hai là Chỉ có 1 bên của Hướng có Thành môn chính hoặc phụ, còn bên kia không có .
    * Ba là 2 bên đều không có Thành môn nào có thể chọn .
    Tại sao lại xuất hiện 3 tình hướng này ? Đó là do nguyên nhân tương quan của 2 bên tạo nên.
    a/ Thứ nhất là do Tam nguyên của Hướng được xác lập tạo nên . Hướng được lập có tam nguyên là một trong cac nguyên ( Thiên - Địa - Nhân nguyên long ) . Nếu hướng là Thiên nguyên long cũng sẽ đòi hỏi Thành môn 2 bên Hướng là Thiên nguyên long. Các trường hợp Hướng là Nhân nguyên long và Địa nguyên long cũng tương tự như vậy.Chỉ khi đạt được yêu cầu đó mới có thể giữ được một thứ khí cùng nguyên..
    b/ Thứ 2 là do tính chất âm - dương của cung gốc Hậu Thiên bát quái của phi tinh Thiên bàn hai bên quyết định.
    Ví dụ : Lập sơn Tuất - Hướng Thìn , Thành môn 2 bên hướng Thìn là Giáp và Bính , cùng là Địa nguyên long đảm bảo chắc chắn được một loại khí cùng nguyên.

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]
    Tính Thành môn vượng hay suy .
    Ví dụ : Nhà tọa Canh - Hướng Giáp - Vận 3.

    [​IMG]
    Thành môn chính đưa số 6 nhập trung cung.


    Thành môn phụ đưa số 2 nhập trung cung.
    Thành môn chính và Thành môn phụ đều vượng khí.

    Luận : 1/ Thướng Sơn - Hạ Thủy ( xấu ).
    2/ Phục ngâm Sơn tinh.
    3/ Hướng thủ đoạt hồn( gây chết chóc ).
    4/ Nhà này muốn tốt cần phải mở cửa tại cung Tốn ( 2 ) , xung quanh có đường đi để khí vào vì Thành môn chính và Thành môn phụ đều vượng khí, để hỗ trợ cho hướng chính.
    Thành môn ngầm : Hướng có số 5 ở bên phải hoặc bên trái hướng nhà gọi là Thành môn ngầm.

    Thành môn quyết: là thông qua tứ vị khởi cha mẹ, nhìn ra cách bí mật của mạch để lập toạ hướng. Quyển sách này vốn dựa vào hướng thượng tả và hữu hai cung, những vận phi lâm khác có thể dựa vào nghịch ái đương lệnh vượng khí đến cung này, tức là có thể dùng " Thành môn quyết". Phương pháp này là dùng để bổ cứu cho sơn hướng mà không phải đương nguyên; âm trạch dùng để thu nhân thuỷ, dương trạch dùng để mở cửa, an phúc thần, bàn làm việc. Nếu sử dụng những điều này thì phát tài rất nhanh chóng. Căn cứ vào kinh nghiệm của tác giả, lấy vượng khí và sinh khí của hướng tinh, những phương của nước mà sao di chuyển tới có, mới là " Thành môn quyết" chuẩn nghiệm nhất. "Thành môn quyết" thực sự là tác giả dùng để khảo cứu long mạch, định toạ hướng. Người đọc cần suy nghĩ cẩn thận " Ngọc chiếu kinh". "Ngũ tinh nhất quyết phi chân thuật, thành môn nhất quyết tối vi Cấn; Khi nhận biết được ngũ tinh Thành môn quyết, thì việc xây dựng nhà cửa hay yên phần mồ mả mới là cát.
    Đoạn sau đây của Vanhoai - http://huyenkhonglyso.com dienbatn thêm vào.

    Phép mở cửa dùng “thành môn quyết”


    Đối với những nhà ở hoặc cơ sở kinh doanh có hướng bị kiêm hướng, hướng không có vượng khí tới hướng hoặc có vượng khí tới hướng nhưng muốn mở thêm cửa phụ tại những cung có hướng tinh là sinh, tiến khí thì ta cần dùng “thành môn quyết” còn gọi là "bí quyết thành môn" để mở cửa.

    Điều cần lưu ý là khi dùng “ thành môn quyết”để mở cửa phụ là vấn đề hoà hợp âm dương. Thí dụ: cửa chính tại sơn dương thì cửa phụ tại sơn âm và ngược lại. Có như thế thì mới được lâu dài, bằng không thí chỉ được lúc đầu mà thôi.
    Ngoài ra còn một số trường hợp sau:
    1)_ Nhà bị kiêm hướng hoặc hướng không có vượng khí. Thí dụ: nhà GIÁP hướng CANH vận 8. Khi an hướng bàn thì tử khí tam bích(3) tới hướng. Nếu mở cửa tại CANH thì gặp tử khí. Nay dùng bí quyết thành môn xét cung DẬU: Vận tinh 1 nhập trung cung, DẬU là thiên nguyên, thiên nguyên của 1 là TÝ, TÝ tính chất là âm nên 1 đi nghịch, vượng khí 8 tới DẬU. Vậy nếu mở cửa tại dậu thì sẽ có vượng khí tới cửa. Điều này sẽ làm vượng những nhà có hướng không vượng hoặc bị kiêm hướng. Cần lưu ý cửa chỉ để trọn trong cung đó mà thôi, không nên cho lấn qua cung khác vì lúc đó âm dương lẫn lộn mà mất đi cái tốt đẹp.
    2)_ Nhà qua vận sau không còn vượng khí. Thí dụ: Nhà TUẤT hướng THÌN vận 7 có cửa tại TUẤT được vượng sơn vượng hướng, nay qua vận 8 thì 7 trở thành thoái khi. Nếu có đổi vận thì cũng không tốt đẹp vì tinh bàn vận 8 tử khí 6 tới hướng. Nay không dùng cửa tại THÌN nữa mà mở cửa khác tại TỐN (hoặc TỴ), dùng bí quyết thành môn với vận bàn 8 nhập trung cung, vận tinh tại TỐN là 7, TỐN là thiên nguyên, thiên nguyên của 7 là ĐOÀI, ĐOÀI âm nên 7 đi nghịch, vượng khí 8 tới TỐN
    3)- Nhà có hướng tinh là sinh vượng khí nhưng mở cửa không đúng cách thì cũng không nhận được vượng khí vào nhà mà làm ăn suy bại. Thí dụ: nhà tọa Càn hướng Tốn. Thay vì mở cửa ở Tốn hay Tị, nay lại mở ở Thìn. Xét cung Đông Nam vận 8 có vận tinh 7. Thìn là địa nguyên long, Địa nguyên long của thất xích là Canh. Canh dương nên đi thuận thì tử khí lục bạch đến cung Thìn. Vậy nhà không nhận được vượng khí.

    4)- Nhà Tuy không được vượng khí đến hướng nhưng nếu mở cửa có khí thành môn thì vẫn không đến nỗi suy bại. Thí dụ nhà tọa Thìn hướng Tuất vận 8. bị Thướng sơn hà thủy, có hướng tinh 1 đến hướng. 1 tuy là tiến khí nhưng còn xa. Nếu mở cửa tại cung Càn hoặc Hợi thì vẫn tốt đẹp một thời.

    5)_ Nhà đã được cửa có vượng khí nay muốn mở thêm cửa phụ tại hướng có hướng tinh là sinh hoặc tiến khí. Thí dụ: Nhà SỬU hướng MÙI vận 8. Tinh bàn có vượng tinh 8 tới hướng, sao sinh khí 9 tới hướng BẮC. Nay muốn mở cửa tại BẮC ta áp dụng bí quyết thành môn. MÙI thuộc địa nguyên long, địa nguyên long tại hướng BẮC là NHÂM. Vận tinh tại BẮC là 4, lấy 4 nhập trung cung bay nghịch (địa nguyên long của 4 là THÌN, tính chất của THÌN là âm) vượng khí 8 tới NHÂM. Để ý ta thấy tính chất của MÙI là âm và tính chất của NHÂM là dương
    Để tìm cung có vượng khí trong nhà hầu đặt bếp hoặc đặt thủy kích tài, Ta cũng cần dùng "bí quyết thành môn".
    Trong vận 8 này các cung có vượng khí theo "thành môn quyết" là:
    - Hướng Nam: Ngọ, Đinh
    - Hướng Tây Nam: Mùi
    - Hướng Tây: Dậu, Tân
    - Hướng Tây Bắc: Càn, Hợi
    - Hướng Bắc: Nhâm
    - Hướng Đông Bắc: Sửu
    - Hướng Đông: Giáp
    - Hướng Đông Nam: Tốn, Tị
    Thí dụ: Nhà Nhâm hướng Bính vận 8. Cung Đông Bắc có (1-6), nay muốn đặt nước kích tài thì cung đặt nước có tác dụng mạnh nhất là trong cung Sửu. Hướng Bắc có cặp (8-8), nay muốn đặt bếp thì vị trí tốt nhất là cung Nhâm. Đối với các vật khí khác cũng vậy...
     
    #47
  8. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    3/ Bàn về quẻ Tam ban.
    Quẻ nối liền nhau được hình thành trên cơ sở hai cung Sơn và hướng hợp thành 10 gọi là quẻ Tam ban.Hai cung cùng nhau sinh thành như Nhất và Lục , Nhị và Thất , Tam và Bát, Tứ và Cửu, Ngũ và Thập là các số Thiên tiên bát quái sinh thành. Hai cung cùng nhau hợp thành 10 như Khảm nhất - Ly cửu; Khôn nhị - Cấn bát;Chất Tam - Đoài thất ; Tốn tứ - Càn lục; là các cung đối nhau của Hậu thiên bát quái. Các cung hợp nhau thành 10 tức là 2 khí thông nhau. Trên cơ sở này sinh ra 2 quẻ là loại quẻ " Tam ban liền số " và một loại quẻ " Tam ban phụ mẫu ".
    * Quẻ Tam ban liền số có 9 loại : 1-2-3; 2-3-4; 3-4-5; 4-5-6; 5-6-7; 6-7-8; 7-8-9; 8-9-1; 9-1-2.
    Các loại quẻ Tam ban này thích hợp dùng với hai loại Linh thần và Chính thần.
    Thí dụ: Vận 1, sơn Tý hướng Ngọ. Vì là vận 1 nên Chính thần ở tại cung Khảm 1 còn Linh thần ở tại cung đối chiếu qua Trung-cung là cung Ly 9. Nơi cung tọa là cung Khảm (Tý nằm trong cung Khảm) có phi tinh của Tọa và Hướng là 2 (Nhị-hắc) và 9 (Cửu-tử) trong khi ở cung hướng là cung Ly (Ngọ nằm trong cung Ly) có phi tinh là 1 (Nhất-bạch) và 1 (Nhất-bạch). Bốn phi tinh ở 2 cung tọa và hướng hợp thành quẻ Tam ban quái là Cửu Nhất Nhị (9, 1, 2). Quẻ Tam ban này có thể thông khí 3 vận Cửu, Nhất và Nhị. Một vận vượng thì 2 vận kia đều vượng.

    * Quẻ Tam ban phụ mẫu như : 1-4-7 ; 2-5-8 ; 3-6-9 ; Các loại quẻ Tam ban này lấy sự sinh thành của Sơn và Hướng làm cơ sở , bao hàm hợp thành 10 trong đó. Phụ mẩu Tam ban quái là các bộ 3 số cách khoảng nhau là 3: Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát hay Tam Lục Cửu. Khi các cung Ly với Càn Chấn, Khảm với Tốn Ðoài đều có Phụ mẫu Tam ban quái tới thì gọi là đồng liệt. Như Hướng ở cung Ly có Nhất-bạch, ở cung Càn có Tứ-lục và ở cung Chấn có Thất-xích chứ không phải ở mổi cung Ly, Càn, Chấn đều phải có Vận, Tọa và Hướng tạo thành Phụ mẫu Tam ban quái làm thông khí trong cả Tam Nguyên Cửu Vận. Loại quẻ này lấy hợp số sinh thành của tọa và hướng của các cung Ly và Khảm làm cơ sở. Như Nhất Tứ Thất là khí của vận 1, 4 và 7 thông nhau nên đương vận có thể rút mượn khí của 2 vận kia để dùng trước...
    Sau đây là giảng giải rỏ hơn về Phụ mẫu Tam ban quái:
    Cung Càn là Thiên-môn, cung Tốn là Ðịa-hộ là 2 cung quan trọng trong phép đả kiếp. Trong trường hợp vượng tinh đáo hướng:
    a) Phi tinh ở cung Càn và cung Ly tương hợp với cung Chấn thành Phụ mẫu Tam ban quái gọi là chân đả kiếp. Tức là chân hợp thì tự phát vì lệnh tinh ở đầu hướng.
    b) Phi tinh ở cung Tốn và cung Khảm tương hợp với cung Ðoài thành Phụ mẫu Tam ban quái gọi là giả đả kiếp. Tức là giả hợp.
    Số ở Trung-cung là số sinh (còn gọi là số lập cực), trong khi số thành là:
    a) số ở cung Khảm trong các vận 1, 2, 3, 4 và
    b) số ở cung Ly trong các vận 6, 7, 8, 9.
    Hợp số sinh thành là số sinh hợp với số thành tạo thành một trong các cặp sau đây:
    a) Nhất Lục (cùng họ),
    b) Nhị Thất (đồng đạo),
    c) Tam Bát (bạn bè),
    d) Tứ Cửu (bằng hửu),
    Ðây còn gọi là các cặp số đồng một khí vì là “cùng họ” hoặc “đồng đạo” hoặc “bạn bè” hoặc “bằng hửu” nên hợp nhau. Các cặp số này là các cặp số sao của các chòm sao của 4 hướng của Hà-đồ.
    Sau đây là những phân tích từ thấp đến cao về phép này:
    1. Bất cứ ở vận nào, số của Vận ở Trung-cung đều hợp với cung Ly hay cung Khảm thành cặp số có cùng một khí vì Vận-bàn được bày bố theo chiều thuận của Lường-Thiên-Xích. Cho nên số sinh thành của tiên thiên bát quái là số của Trung cung hợp với cung Khảm hoặc với cung Ly.
    2. Nếu số ở Hướng (hay Tọa) của Trung-cung có thể hợp với số ở Hướng (hay Tọa) của cung Ly và Tọa (hay Hướng) ở Trung-cung có thể hợp với Tọa (hay Hướng) của cung Khảm cùng một lúc thì 3 cung hợp thành số của Tiên-thiên Bát-quái. Như vậy tọa và hướng cùng thông khí với Trung-cung. Trường hợp tổng số của Hướng (hay Tọa) ở cung hướng, cung tọa hay Trung-cung là 10 (hợp thập) cũng được coi là thông khí giửa các cung này.
    3. Khí của quẻ trước, giửa và sau liên thông nhau sẻ xuất hiện sự liên thông khí của Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên nên các nguyên đều dùng được. Như những cuộc mà ở cung hướng có các sao ở Tọa và Hướng là Nhất + Nhất có thể dùng để thông khí của vận 4 và 7, tức là hợp thành quẻ Tam ban Nhất Tứ Thất. Nhị + Nhị có thể dùng để thông khí của các vận 5 và 8 tức là hợp thành quẻ Tam ban Nhị Ngủ Bát...
    4. Muốn biết ba loại quẻ Phụ Mẫu Tam ban là Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu xuất hiện ở các cung vị nào thì phải xem cung có song tinh đáo hướng. Nếu song tinh đáo hướng xuất hiện ở cung Ly 9 tức là Cửu, là vận 9 Hạ-nguyên nên nguyên và vận mà nó đối ứng là vận 3 Thượng-nguyên (cung Chấn) và vận 6 Trung-nguyên (cung Càn). Tức là Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Chấn Càn Ly. Như vậy:
    a. Khảm 1 hay Tốn 4 hay Ðoài 7 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Khảm Tốn Ðoài. Còn gọi là Khảm cung đả kiếp.
    b. Khôn 2 hay Trung-cung 5 hay Cấn 8 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Khôn Trung-cung Cấn. Còn gọi là Khôn Cấn đả kiếp hay Tam-ban xảo quái.
    c. Chấn 3 hay Càn 6 hay Ly 9 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Chấn Càn Ly. Còn gọi là Ly cung đả kiếp.
    Ngoài ra còn có trường hợp toàn cuộc hợp thành quẻ Phụ Mẫu Tam ban tức là Vận, Tọa và Hướng của mổi cung hợp nhau lại thành Phụ Mẫu Tam ban quái. Trường hợp này không cần điều kiện song tinh đáo hướng. Thí dụ: Vận 2, sơn Cấn hướng Khôn.
    5. Trong cách tuyễn chọn hướng thì sau đây là các cách tuyễn chọn có công dụng tốt từ cao xuống thấp:
    a) Phụ Mẫu Tam-ban xảo quái: có thể thông khí cả 3 nguyên nên có được tốt lành lâu đời, phồn vinh, hưng thịnh mà không bị giới hạn Thướng Sơn Há Thủy. Nếu có thể đảo ngược cách kỵ long thì càng tuyệt diệu.
    b) Toàn cuộc hợp thập.
    c) Phụ Mẫu Ly cung đả kiếp.
    d) Vượng sơn vượng hướng (Ðáo sơn đáo hướng) có 2 cung Thành-môn.
    e) Vượng sơn vượng hướng.
    f) Phụ Mẫu Khảm cung đả kiếp.
    g) 2 cung Thành-môn.

    I/ Từ vận 1 đến vận 9 , bất cứ sao nào nhập vào trung cung đều hình thành với Khảm hoặc Ly một số sinh thành Tiên thiên bát quái . Nhất nhập trung cung hợp với Khảm thành Nhất - Lục, Nhị nhập trung cung hợp với Khảm thành Nhị - Thất , Tam nhập trung cung hợp với Khảm thành Tam - Bát, Tứ nhập trung cung hợp với Khảm thành Tứ - Cửu , Lục nhập trung cung hợp với Ly thành Lục - Nhất Thất nhập trung cung hợp với Ly thành Thất - Nhị , Bát nhập trung cung hợp với Ly thành Bát - Tam , Cửu nhập trung cung hợp với Ly thành Cửu - Tứ. Do vậy số sinh thành của Thiên tiên bát quái phải là cung chính giữa với cung Khảm hoặc cung chính giữa với cung Ly cùng hợp với nhau.
    II/ Nếu cung chính giữa hợp với cung Khảm lại hợp với cung Ly , 3 cung hợp lại thành số Tiên thiên bát quái thì Sơn và Hướng nhất quán với khí quẻ của trung cung , cùng thông Khí trước sau. .
    III/ Sự liên thông Khí của quẻ trước, quẻ giữa và quẻ sau sẽ xuất hiện việc liên thông Khí của Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên , do đó các Nguyên đều dùng được.
    IV/ Ba loại quẻ Tam ban 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9 gọi là quẻ Tam ban xảo số. Ba sao nói trên ( 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9 ) đóng cùng một cung giống như một chuỗi ngọc đính liền nhau nên người ta gọi là " Tam châu liên thành cách " , tạo thành cách tốt đẹp , rực rợ.
    Trong trạch bàn mà cung nào tam thông như vậy gọi là quẻ Tam ban xảo số.
    Tam ban xảo số ở cung nào thì cung đó đại cát. Tam ban xảo số toàn bàn thì toàn bàn đại cát.
    Trong 1944 cục của Huyền không phi tinh chỉ có 16 cục có Tam ban xảo số toàn bàn . Tam ban xảo số toàn bàn đẹp hơn rất nhiều cục Cung Ly đả kiếp và cục cung Khảm đả kiếp .
    Theo sắp xếp của Huyền không học như sau :
    1/ Tam ban xảo số . ( Đẹp gấp 3 mục 2 )
    2/ Đáo Sơn đáo Hướng. ( Đẹp gấp 2 mục 3 ).
    3/ Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp .
    Ví dụ : Nhà tọa Sửu - Hướng Mùi vận 6.

    [​IMG]
    Nhà này được Tam ban xảo số toàn bàn.
    5-8-2; 1-4-7; 3-6-9; 4-7-1; 6-9-3; 8-2-5; 9-3-6 ; 2-5-8; 7-1-4.
    Nhà này đa cát tiểu hung.
    4/ Cung Ly đả kiếp .
    Điều kiện để có Cung Ly đả kiếp là : Có song tinh ra hướng nhà , ba cung đó liên thông : LY- CHẤN - CÀN , tạo thành một trục tam giác liên hoàn khí giữa các khí ( 1-4-7, 2-5-8 ; 3-6-9 ). Ly cung đả kiếp có thể chống lại Phản, Phục ngâm, biến suy tinh của Sơn và Hướng thành Vượng tinh.
    Trong 24 Sơn, Hướng, 216 cục ( Nếu bao gồm cả quẻ thay thế có 432 cục ) , phàm là cục Hạ thủy mà song tinh đáo hướng , đều có thể dùng phép " Đả kiếp " . Còn cục " Thượng Sơn - Hà Thủy " của 2 cung Khôn - Cấn đều có Tam ban xảo quái.
    LY CUNG ĐẢ KIẾP CÁC VẬN.
    * Sơn Tý - Hướng Ngọ vận 1 : 1-4-7.
    Vận 3 : 3-6-9.
    Vận 6 : 3-6-9.
    Vận 8 : 2-5-8.
    * Sơn Dậu - Hướng Mão : Vận 2 : 2-5-8.
    Vận 9 : 3-6-9.
    * Sơn Thìn - Hướng Tuất : Vận 1 : 1-4-7.
    Vận 4 : 1-4-7.
    * Sơn Canh - Hướng Giáp : Vận 1 : 1-4-7.
    Vận 8 : 2-5-8.
    * Sơn Nhâm - Hướng Bính . Vận 2 : 2-5-8.
    Vận 4 : 1-4-7.
    Vận 7 : 1-4-7.
    Vận 9 : 3-6-9.
    * Sơn Tân - Hướng Ất : Vận 2 : 2-5-8.
    Vận 9 : 3-6-9.
    * Sơn Quý hướng Đinh . Vận 1 : 1-4-7.
    vận 3 : 3-6-9.
    Vận 6 : 3-6-9.
    Vận 8 : 2-5-8.
    * Sơn Tốn - Hướng Càn. Vận 6 : 3-6-9.
    Vận 9 : 3-6-9.
    * Sơn Tỵ - Hướng Hợi , Vận 6 : 3-6-9.
    Vận 9 : 3-6-9.
    5/ Khảm cung đả kiếp.
    Khảm cung đả kiếp chỉ hình thành khi song tinh ra hướng nhà , tạo được 3 cung : KHẢM - TỐN - ĐOÀI , tạo thành một trục tam giác : 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9. Khảm cung đả kiếp có thể chống lại Thướng Sơn hoặc Hạ thủy.
    Lưu ý : Nếu Thướng Sơn hoặc Hạ thủy đi cùng với Phản ngâm, Phục ngâm thì không chống được.
    KHẢM CUNG ĐẢ KIẾP CÁC VẬN .
    * Sơn Ngọ - Hướng Tý . Vận 2 : 2-5-8.
    Vận 4 : 1-4-7.
    Vận 7 : 1-4-7.
    Vận 9 : 3-6-9.
    * Sơn Mão - Hướng Dậu. Vận 1 : 1-4-7.
    Vận 8 : 2-5-8.
    * Sơn Tuất - Hướng Thìn . Vận 6 : 3-6-9.
    Vận 9 : 3-6-9.
    * Sơn Giáp - Hướng Canh . Vận 2 : 2-5-8.
    Vận 9 : 3-6-9.
    * Sơn Bính - Hướng Nhâm . Vận 1 : 1-4-7.
    Vận 3 : 3-6-9.
    Vận 6 : 3-6-9.
    Vận 8 : 2-5-8.
    * Sơn Ất - Hướng Tân . Vận 1 : 2-4-7.
    Vận 8 : 2-5-8.
    * Sơn Đinh - Hướng Quý . Vận 2 : 2-5-8.
    Vận 4 : 1-4-7.
    Vận 7 : 1-4-7.
    Vận 9 : 3-6-9.* Sơn Càn - Hướng Tốn . Vận 1 : 1-4-7.
    Vận 4 : 1-4-7.
    * Sơn Hợi - Hướng Tỵ . Vận 1 : 1-4-7.
    Vận 4 : 1-4-7.
    TAM BAN XẢO QUÁI CÁC VẬN.
    * Sơn Cấn - Hướng Khôn . Vận 2 - Toàn cục.
    Vận 5 : Toàn cục.
    Vận 8 : Toàn cục.
    * Sơn Khôn - Hướng Cấn : Vận 2 - Toàn cục.
    Vận 5 : Toàn cục.
    Vận 8 : Toàn cục.
    * Sơn Dần - Hướng Thân : Vận 2 - Toàn cục.
    Vận 5 : Toàn cục. Vận 8 : Toàn cục.
    * Sơn Sửu - Hướng Mùi : Vận 4 ; Toàn cục.
    Vận 6 : Toàn cục.
    * Sơn Mùi - Hướng Sửu : Vận 4 : Toàn cục.
    Vận 6 : Toàn cục.
    Như vậy trong cửu vận : Quẻ Tam ban Ly cung đả kiếp có 24 cục, Quẻ Tam ban Khảm cung đả kiếp có 24 cục, quẻ tam ban xảo quái cung Cấn có 16 cục . Công lại tất cả là 64 cục.

    QUẺ TAM BAN ĐẢ KIẾP LY CUNG VÀ KHẢM CUNG.
    Mỗi quẻ có 3 cục phạm phản , phục ngâm nên không thể xử dụng.

    * Sơn Tốn - Hướng Càn - Vận 6 - Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.
    * Sơn Tỵ - Hướng Hợi - Vận 6 - Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.
    * Sơn Nhâm - Hướng Bính - Vận 9 - Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.
    * Sơn Bính - Hướng Nhâm - Vận 1 - Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.
    * Sơn Càn - Hướng Tốn - Vận 4 - Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.
    * Sơn Hợi - Hướng Tỵ - Vận 4 - Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

    Phép Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp được xử dụng khi khó chọn địa hình của âm hay dương trạch. So với phép vượng Sơn - Vượng Hướng , hai cung Thành môn, và toàn cục hợp thập thì phép đả kiếp đã cung cấp thêm cho ta một cách nữa để lựa chọn.Nó trội hơn phép vượng Sơn - Vượng Hướng và ngang công hiệu với toàn cục hợp thập. Trong 64 cục kể ở trên thì có quẻ Tam ban xảo quái hình thành trên 2 cung Cấn và Khôn là khó gặp nhất nhưng có giá trị nhất. 16 cục này gọi là toàn cục hợp thành quẻ Tam ban , có thể thông khí cả 3 nguyên là Thượng, Trung, Hạ nguyên , dùng nó tốt lành, đời đòi phồn thịnh. Quẻ Tam ban như thế không bi giới hạn của Thướng Sơn - Hạ thủy , nhưng nếu có thể dùng cách đảo ngược kỵ Long thì càng tốt đẹp. Sử dụng quẻ Tam ban cần phải phối hợp với cách cục của môi trường , phải có đắc Sơn để chế ngự Thủy , phải có đắc Thủy để thu hồi Sơn , hợp với Ngũ hành sinh khắc , bằng không sẽ phản tác dụng . Bỏi vậy các Phong Thủy Sư phải hết sức lưu ý và làm cho thuần thục.
    Trong Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp , công hiệu của Ly cung đả kiếp mạnh hơn. Phong thủy gọi là " Chân đả kiếp" ( Cướp đoạt thật sự ) , còn Khảm cung đả kiếp thì công hiệu nhỏ hơn gọi là : Giả đả kiếp " ( cướp giả ) .
     
    #48
  9. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    4/ 16 CÁCH CỤC HUYỀN KHÔNG.
    ( Trần Mạnh Linh ).
    [​IMG]
    Nhất vị - Nhị Hướng. Vị là nơi đặt, Hướng là theo bản mệnh ( Bản cung ). Cục là sự kết hợp giữa Sơn tinh và Hướng tinh , vận hành trong cửu cung đồ trạch gồm có 16 cục như hình trên.

    Ghi chú:
    1- Nhất bạch, 2 - Nhị hắc, 3 - Tam bích, 4 - Tứ lục, 5 - Ngũ hoàng, 6 - Lục bạch,
    7 - Thất xích, 8 - Bát bạch, 9 - Cửu tử.
    Song tinh chính khí bao giờ cũng tại hướng hoặc tại sơn.
    - Tại hướng tạo ra vượng tài cách (hoặc hạ thuỷ cách)
    - Tại sơn là vượng đinh cách (hoặc thướng sơn cách).
    Sau khi lập trạch bàn, trong 16 cục nếu:
    - Sinh Vượng hay hợp cách gặp sinh nhập và khác nhập là cát.
    - Suy Tử gặp sinh xuất, khắc xuất thì hung
    Sinh nhập: Khách sinh chủ
    Khắc nhập: Khách khắc chủ
    Cát
    Sinh xuất: Chủ sinh khách
    Khắc xuất: Chủ khắc khách
    Hung

    GIẢNG NGHĨA:
    (1) Khôi tinh cung (1 + 4):
    Vượng: thành “Đăng khoa đoạt kim bảng cách”, thuận lợi cho học hành thi cử,
    thông minh, anh kiệt, tuấn tú: đặt các tiết minh (bàn học, bàn làm việc, giường ngủ của
    trẻ em...).
    Suy: Học tài thi phận.
    (2) Phúc đức (còn gọi là Tử tức cung):(4 + 9)
    Vượng: Đem lại phúc cho gia đình, cho trạch, đông con, nhiều cháu, gia đình
    hoà thuận anh em sum họp. Muốn cầu con đặt giường ngủ vào cung này (kết hợp với
    xoay bếp) để đến năm, ngày giờ nó sinh nhập thì được.
    Suy: Hiếm nhân đinh, anh em bất hoà.
    (3) Thôi quan cung (1 + 6; 6 + 8):
    Vượng: Chủ quan chức, địa vị, danh tiếng, sự nghiệp. Tốt đẹp cho công việc,
    cho quá trình phát triển sự nghiệp, công danh của mình (đặt phòng làm việc hoặc
    cửa...)
    Suy: quan vận bất hanh thông, hay bị gẫy đổ, điều tiếng, thị phi, dời đổi trong
    quan trường.
    (4) Tật ách cung (1 + 2; 1 + 5;2 + 5; 3 + 5; 4 + 5):
    Ốm đau, bệnh tật, tai hoạ.Nên đặt bất tiết minh (Nhà tắm, vệ sinh, nước thải...)
    4 + 5 vượng thành “Hồi lộc chi tai” cách (lộc đến kèm tai họa), suy là hoạ hại.
    2 + 5 nếu suy thành “Nhị hắc ôn thần sát”
    (5) Đào hoa cung (4 + 7):
    Vượng: Hỷ khí, chủ sự may mắn, sớm thành đạt, được nhiều người giúp đỡ, tình
    cảm, tình duyên, sinh ra người đẹp, khôi ngô, có duyên (Người chưa có gia đình nên
    đặt cửa, bàn làm việc vào đây, thanh niên mới đi làm đặt bàn làm việc vào đây thì tốt.
    Kỵ với người có gia đình, con cái, bàn thờ, giường đặt vào; không tốt hay sinh sự).
    Suy: Hoạ đào hoa sát (tai hoạ vì tình cảm không trong sáng, không lành mạnh).
    (6) Tài lộc cung (1 + 7; 3 + 9; 7 + 8; 8 + 9):
    Vượng: Chủ tiền tài, giàu có. Tăng tài tiến lộc, làm ăn thịnh vượng phát tài. Đẹp
    nhất là đặt cửa ra vào (tài lộc lâm môn là đẹp nhất), hoặc cầu thang (vì động khí
    mạnh), phòng làm việc, phòng ngủ, bếp nhưng phải xem chủ khách để phụ hoạ thêm vì
    bếp hành hoả (ví dụ 1-7 đặt bếp thì tốt, nhưng 7-8 thì tài lộc vẫn có nhưng lại ngộ song
    hao thoát vợi tiền). Nếu mà ra Tuế sát thì có lộc nhưng hay gặp tai hoạ, nếu Tuế hình là
    lộc chi hình thì có lộc nhưng hay bị hình, rắc rối.
    Suy: làm ăn khó khăn hơn, có tiền nhưng hay hao hụt (giống như Lộc ngộ song
    Hao).
    (7) Kiếp tài cung (3 + 7):
    Phá sản, mất mát, suy bại, làm ăn khó phát triển, không thịnh vượng, nếu phát
    triển cũng dễ phá sản. Nên để nhà vệ sinh, nhà tắm, kho hoặc những nơi tĩnh, không
    động (vì càng động càng kiếp tài mạnh). Suy là “Xuyên tâm sát”
    Phải làm cho kiếp tài giảm bớt cái xấu:
    Ví dụ: vận 7, cửa ra vào có 3+7 (kiếp tài), số 7 là chủ, số 3 là khách, kim khắc
    mộc là khắc xuất hung. Tức là hung vượng thì phải làm cho con số 3 vượng là chủ, số
    7 là khách, 7 khắc nhập là cát, khi cát tăng thì hung sẽ giảm. Muốn vậy phải trấn để
    cho 7 là khách thì phải có sơn: đắp một hòn giả sơn.
    (Trong 9 cung của nhà thì Cửa là giá trị nhất, sau đó đếng Hướng và sau mới
    đến Sơn.)
    (8) Vô tự cung (5 + 7; 5 + 8):
    Không có con cái, hay là có sinh nhưng chết yểu “hữu sinh vô dưỡng”, hoặc chỉ
    có con gái không có con trai.
    (9) Dịch mã cung (2 + 6; 4 + 6):
    Vượng: chủ đi lại, nhanh nhẹn, năng động, thuận lợi trong công tác, thành đạt và
    hay phải đi lại nhiều hoặc sống ở nước ngoài, hỗ trợ cho các cung khác để hưng khởi
    hơn.
    Suy: chủ tai nạn giao thông, khó khăn trong đi lại, xuất ngoại, sinh người ham
    chơi lười nhác. (Nếu gặp Tuế sát, Tuế hình là xấu đi lại có khi bị tai nạn ở chân).
    (10) Cô Quả cung (2 + 9; 5 + 6):
    Chủ cô đơn (như sao Cô thần, Quả tú) nam chậm lấy vợ, nữ chậm lấy chồng.
    Mỗi người sống một nơi, có khi già vẫn cô đơn con cái không ở cùng.
    (11) Hoạ hại cung (1 + 3; 3 + 6; 5 + 9; 6 + 7; 7 + 9):
    Chủ về tai hoạ vận hạn, tai bay vạ gió, điều tiếng và ốm đau. Nên đặt bất tiết
    minh (nhà tắm, vệ sinh...).
    5 + 9 vượng thành “Hồi lộc chi tai” cách (lộc đến kèm tai họa), vượng thích hợp
    với nghề Y, Dược, suy là hoạ hại với thảo dân thành “Cửu hoàng độc chiêu sát”.
    7 + 9 suy là “Lưỡng hoả sát”.
    6 + 7 suy là “Giao kiếm sát”, sát chủ trộm cướp (7 + 7 suy là “song kiếm sát”).
    (12) Điền trạch cung (1 + 8; 2 + 7; 2 + 8):
    Vượng: Thuận lợi cho đất cát, điền trang, địa ốc và phát triển bất động sản (Điền
    trạch nhập môn mệnh có Thái âm miếu vượng nên đi buôn đất)
    Suy: Hay mất mát đất cát, khó khăn khi tạo dựng bất động sản. 2 + 7 biến thành
    “Thiên hoả sát” rất xấu.
    (13) Đoạt hồn cung (2 + 4; 3 + 8; 4 +8):
    Chỉ về cái chết, giống Tuyệt mệnh (bệnh tật, tai nạn...) Tránh đặt cửa, bàn thờ.
    Nên để những cái tĩnh, ít động, bất tiết minh (nhà tắm, vệ sinh...).
    4 + 8 nếu vượng và trạch bàn tốt với người có đức thì là “ân tình phù trợ cách”

    (14) Tụng đình cung (2 + 3):
    Chủ sự cãi vã, kiện tụng, tranh chấp (nếu có thêm cột điện hay là sơn cao thì
    suốt ngày kiện tụng).
    Vượng: Kiện cáo, tranh chấp thường là mình đứng nguyên đơn (đi kiện người).
    Suy: Ta là người bị kiện.
    Vượng hay suy đều là “Đấu ngưu sát”. Thường tốt với người làm công tác pháp
    luật, khi đó được gọi là “Tụng đình cung”.
    (15) Hoan lạc cung (3 + 4):
    Vượng: chủ sự vui vẻ, hoan hỷ, hay có khách, đặt bếp thì nhậu nhẹt, ăn uống
    suốt ngày.
    Suy: hay gặp hoạ vì hoan hỷ, cãi nhau, hay cờ bạc, chơi bời, trai gái, nghiện hút.
    (16) Diên thọ cung (1 + 9; 6 + 9):
    Chủ tuổi thọ cao, phúc đức (hai cung Diên thọ và Phúc đức thích hợp đặt bàn
    thờ). Nếu bàn thờ ở cung này mà cửa ra Tật ách thì sống lâu mà bệnh tật suốt lại là
    khổ.
    ( Trần Mạnh Linh ).

    5/ LỤC DIỆU BÁT SƠN TÁC TÁO.

    ( 6 diệu pháp đặt bếp ).

    Lục diệu : Lục diệu này kỵ Bát sát và Hoàng tuyền ).

    Căn cứ vào Tọa Sơn ngôi nhà . Nếu bếp tách hẳn ra khỏi nhà thì xác định theo tọa Sơn của nhà bếp.
    1/ Nhất Long. Cát.
    2/ Nhị Vũ . Hung.
    3/ Tam Âm . Hung.
    4/ Tứ Hổ . Cát.
    5/ Ngũ Xà - Hung.
    6/ Lục Trận . Hung.
    Từ tâm của nhà, kéo một đường thẳng đến tâm của bếp lò, chia làm 3 loại :
    a/ Tọa Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Giáp , Canh , Nhâm , Bính.
    Ta có :
    Nhâm, Tý - Nhất Long.
    Quý, Sửu - Nhị Vũ.
    Cấn, Dần - Tam Âm.
    Giáp , Mão - Tứ Hổ.
    Ất, Thìn - Ngũ Xà.
    Tốn , Tỵ - Lục Trấn.
    Bính, Ngọ - Nhất Long.
    Đinh , Mùi - Nhị Vũ.
    Khôn , Thân - Tam Âm.
    Canh, Dậu - Tứ Hổ.
    Tân , Tuất - Ngũ Xà .
    Càn , Hợi - Lục Trấn.
    Lưu ý :
    Tọa Mão kỵ Nhâm Tý ( Đào hoa sát ).
    Tọa Ngọ kỵ Giáp Mão ( Đào hoa sát ).
    Tọa Dậu kỵ Bính Ngọ ( Đào hoa sát ).
    Tọa Tý kỵ Canh Dậu ( Đào hoa sát ).

    b/ Tọa Dần , Thân , Tỵ , Hợi, Càn , Khôn, Cấn , Tốn .

    Nhâm , Tý - Lục Trấn.
    Quý , Sửu Nhất Long.
    Cấn , Dần - Nhị Vũ.
    Giáp , Mão - Tam Âm.
    Ất , Thìn - Tứ Hổ.
    Tốn , Tỵ - Ngũ Xà.
    Bính , Ngọ - Lục Trần.
    Đinh , Mùi - Nhất Long.
    Khôn , Thân - Nhị Vũ.
    Canh , Dậu - Tam Âm.
    Tân , Tuất - Tứ Hổ.
    Càn , Hợi - Ngũ Xà.

    Lưu ý :

    Khảm ( Nhâm , Tý , Quý kị Thìn vì phạm bát sát.
    Khôn ( Mùi , Khôn , Thân ) kị Mão vì phạm bát sát.
    Chấn ( Giáp , Mão , Ất ) kị Thân vì phạm bát sát.
    Tốn ( Thìn, Tốn , Tị ) kị Dậu vì phạm bát sát.
    Càn ( Tuất , Càn , Hợi ) kị Ngọ vì phạm bát sát.
    Đoài ( Canh, Dậu, Tân ) kị Tị vì phạm bát sát.
    Ly ( Bính , Ngọ , Đinh ) kị Hợi vì phạm bát sát.

    c/ Tọa Thìn , Tuất , Sửu, Mùi, Ất , Tân , Đinh, Quý.

    Nhâm, Tý - Nhị Vũ.
    Quý, Sửu - Tam Âm.
    Cấn, Dần - Tứ Hổ.
    Giáp , Mão -Ngũ Xà
    Ất, Thìn - .Lục Trấn.
    Tốn , Tỵ - Nhất Long.
    Bính, Ngọ -Nhị Vũ.
    Đinh , Mùi - Tam Âm.
    Khôn , Thân - Tứ Hổ.
    Canh, Dậu - Ngũ Xà .
    Tân , Tuất - Lục Trấn.
    Càn , Hợi - Nhất Long.

    Ví dụ : Nhà Tọa Ất - Hướng Tân .

    Vị trí tốt đặt bếp tại cấn, Dần, Tốn , Tỵ. Ta chọn đặt bếp tại Tỵ để tránh Hoàng tuyền.
     
    #49
  10. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    6/ KHỞI THẾ QUÁI.

    [​IMG]

    a/ KHÁI NIỆM :
    Trong tất cả các phần ở những bài trước, khi phân cung , điểm hướng nhà hay mộ phần, chúng ta toàn sử dụng trong những trường hợp là CHÍNH HƯỚNG. Trong khi đó , đa phần những trường hợp chúng ta gặp trên thực tế đều là không phải chính hướng.

    Tám cung Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn và Ðoài còn được chia ra làm 24 sơn tức là mổi cung được chia ra 3 sơn như sau đây:

    1. Cung Càn (Tây-bắc) có các sơn:

    a. Tuất: nằm trong giới hạn từ 292.5 đến 307.4 độ. Chính Tuất 300 độ.
    b. Càn: nằm trong giới hạn từ 307.5 đến 322.4 độ. Chính Càn 315 độ .
    c. Hợi: nằm trong giới hạn từ 322.5 đến 337.4 độ. Chính Hợi 330 độ.
    2. Cung Khảm (Bắc) có các sơn:
    a. Nhâm: nằm trong giới hạn từ 337.5 đến 352.4 độ. Chính Nhâm 345 độ .
    b. Tý: nằm trong giới hạn từ 352.5 đến 7.4 độ. Chính tý 0 độ .
    c. Quý: nằm trong giới hạn từ 7.5 đến 22.4 độ. Chính Quý 15 độ .

    3. Cung Cấn (Ðông-bắc) có các sơn:

    a. Sửu: nằm trong giới hạn từ 22.5 đến 37.4 độ. Chính Sửu 30 độ .
    b. Cấn: nằm trong giới hạn từ 37.5 đến 52.4 độ. Chính Cấn 45 độ .
    c. Dần: nằm trong giới hạn từ 52.5 đến 67.4 độ. Chính Dần 60 độ .

    4. Cung Chấn (Ðông) có các sơn:

    a. Giáp: nằm trong giới hạn từ 67.5 đến 82.4 độ. Chính Giáp 75 độ .
    b. Mảo: nằm trong giới hạn từ 82.5 đến 97.4 độ. Chính Mão 90 độ .
    c. Ất: nằm trong giới hạn từ 97.5 đến 112.4 độ. Chính Ất 105 độ .

    5. Cung Tốn (Ðông-nam) có các sơn:

    a. Thìn: nằm trong giới hạn từ 112.5 đến 127.4 độ. Chính Thìn 120 độ ,
    b. Tốn: nằm trong giới hạn từ 127.5 đến 142.4 độ. Chính Tốn 135 độ .
    c. Tỵ: nằm trong giới hạn từ 142.5 đến 157.4 độ. Chính Tỵ 150 độ .

    6. Cung Ly (Nam) có các sơn:

    a. Bính: nằm trong giới hạn từ 157.5 đến 172.4 độ. Chính Bính 165 độ .
    b. Ngọ: nằm trong giới hạn từ 172.5 đến 187.4 độ. Chính Ngọ 180 độ .
    c. Ðinh: nằm trong giới hạn từ 187.5 đến 202.4 độ. Chính Đinh 195 độ .

    7. Cung Khôn (Tây-nam) có các sơn:

    a. Mùi: nằm trong giới hạn từ 202.5 đến 217.4 độ. Chính Mùi 210 độ .
    b. Khôn: nằm trong giới hạn từ 217.5 đến 232.4 độ. Chính Khôn 225 độ .
    c. Thân: nằm trong giới hạn từ 232.5 đến 247.4 độ. Chính Thân 240 độ .

    8. Cung Ðoài (Tây) có các sơn:

    a. Canh: nằm trong giới hạn từ 247.5 đến 262.4 độ. Chính Canh 255 độ .
    b. Dậu: nằm trong giới hạn từ 262.5 đến 277.4 độ. Chính Dậu 270 độ .
    c. Tân: nằm trong giới hạn từ 277.5 đến 292.4 độ. Chính Tân 285 độ .
    [​IMG]
    Mỗi tọa Sơn hay lập Hướng chỉ chiếm 15 độ. Dùng đường trung tuyến chia đôi thì mỗi nửa của Sơn hay Hướng chỉ chiếm 7,5 độ . Khi lệch với chính hướng nhỏ hơn 3 độ thì ta vẫn coi là chính hướng. Nhưng khi lệch so với chính hướng lớn hơn 3 độ thì lúc này tạp Khí rất nhiều , nên phải thay thế quẻ bằng quẻ khác mới điều chỉnh được Khí quẻ.

    Khi phân cung mà gặp trường hợp không được chính hướng ( gọi là nhà kiêm hướng - Sai lệch so với chính hướng từ lớn hơn 3 độ đến 7 độ ), ta phải lập theo một phương pháp đặc biệt gọi là THẾ QUÁI.

    [​IMG]
    B / Quẻ thay thế có 3 trường hợp :
    1/ Quẻ thay Sơn tinh.

    2/ Quẻ thay Hướng tinh.
    3/ Quẻ thay cả Sơn tinh và Hướng tinh.
    Đó là ba trường hợp, đại để là Hướng nếu tìm được sao thay thế thì thay Hướng tinh, nếu không tìm được sao thay thế thì thay Sơn tinh. Đối với trường hợp tìm được sao thay thế cả Sơn lẫn Hướng thì ta thay thế cả

    C/ Có một số sơn, Hướng tuy lệch từ lớn hơn 3 độ đến 7 độ, nhưng khi lập Hướng , hai sao Sơn và Hướng đều không tìm được sao thay thế :


    Người ta vẫn dùng 2 sao Sơn và Hướng cũ , lần lượt nhập trung cung, tuy được vượng Sơn vượng Hướng nhưng vẫn xem là không vượng Sơn vượng Hướng , bởi phạm phải âm - dương sai lệch hoặc phạm vào quẻ xuất Hướng.


    D/ QUẺ THUẦN :


    Dùng quẻ thay kiêm Hướng sẽ xuất hiện 8 trường hợp vô cùng đặc biệt , đó là 8 quẻ thuần. Loại quẻ này phi tinh của Sơn và Hướng chữ nào cũng giống nhau , không hề biến đổi - Đó là quẻ đại hung mà trong 216 cục không có . Quẻ này cũng còn gọi là quẻ phản phục ngâm . 8 quẻ thuần trong 216 cục , chỉ có 6 cục đều phát sinh ở hai cung Khôn và Tốn tại Vận 5. Đặc điểm của 8 quẻ thuần là Càn gặp càn, Tốn gặp Tốn, Cấn gặp Cấn, Khôn gặp Khôn ...., Sơn tinh và Hướng tinh cùng một chữ.


    E/ VÌ SAO KIÊM HƯỚNG PHẢI DÙNG QUẺ THAY THẾ :


    Kiêm Hướng có 3 trường hợp :

    a/ Kiêm Hướng đồng tính :
    Thiên nguyên long và Nhân nguyên long cùng thuộc tính dương hay âm có thể kiêm dùng.
    Tý, Quý, Mão, Ất , Ngọ, Đinh , Dậu , Tân cùng thuộc tính âm nên 2 quẻ kiêm cùng tính âm. Cấn, Dần, Tốn, Tị , Khôn , Thân, Càn , Hợi cùng thuộc tính dương , nên 2 quẻ cùng tính dương.
    b/ Kiêm hướng khác tính :
    Thiên nguyên long và Địa nguyên long là âm dương tương kiêm. Tý và Nhâm , Cấn và Sửu, Mão và Giáp, Tốn và Thìn, Ngọ và Bính, Khôn và Mùi , Dậu và Canh, Càn và Tuất là một âm một dương kiêm dùng với nhau.
    c/ Kiêm tương quẻ xuất .
    Quẻ Khảm và quẻ Cấn là Quý Sửu tương kiêm, quẻ Cấn và quẻ Chấn là Dần Giáp tương kiêm, quẻ Chấn và quẻ Tốn là Ất Thìn tương kie6mque3 Tốn và quẻ Ly là Tị Bính tương kiêm, quẻ Ly và quẻ Khôn là Đinh Mùi tương kiêm, quẻ Khôn và quẻ Đoài là Thân Canh tương kiêm, quẻ Đoài và quẻ Càn là Tân Tuất tương kiêm, quẻ Càn và quẻ Khảm là Hợi Nhâm tương kiêm,
    Ngược lại : Khảm và Càn, Càn và Đoài , Đoài và Khôn, Khôn và Ly, Ly và Tốn, Tốn và Chấn , Chấn và Cấn, Cấn và Khảm cũng là quẻ xuất tương kiêm .
    Đã là quẻ xuất tương kiêm thì Khí quẻ không thuần , tạo thành tạp khí hỗn loạn , chiêu lấy hung họa. Do vậy mà ta cần phải dùng phương pháp quẻ thay thế để điều chỉnh tạp khí, tránh được hung sát.
    Nếu chính hướng không tìm được vượng Sơn vượng Hướng , nhưng có Thành môn thì ta có thể dùng quẻ thay kiêm hướng cho vượng tinh đáo thành môn , thu hút được khí tốt của núi sông .

    G/ CÁCH KHỞI THẾ QUÁI .
    Bước 1 : Lập vận bàn.
    Bước 2 : Xác lập mũi tên ( Chiều ) Sơn và Hướng.
    Bước 3 : Nhập trung cung Sơn tinh và Hướng tinh.
    Bước 4 : Xác định Tam nguyên long để biết chiều thuận hay nghịch của phi tinh.
    Bước 5 : Căn cứ vào Tam nguyên long của Sơn tinh và Hướng tinh, nhìn vào vòng số 6 trên La kinh ( 24 Sơn ) để lấy Thế tinh.
    Lưu ý : Âm - Dương phi thuận nghịch lấy theo số của Sơn và Hướng tinh gốc.

    [​IMG]


    Nhắc lại một chút kiến thức Huyền không :

    * QUẺ CÀN :
    Tuất Sơn - Địa nguyên long.
    Càn Sơn - Thiên nguyên long.
    Hợi Sơn - Nhân nguyên long.
    * QUẺ KHẢM .
    Nhâm Sơn - Địa nguyên long.
    Tý Sơn - Thiên nguyên long.
    Quý Sơn - Nhân nguyên long.
    * QUẺ CẤN.
    Sửu Sơn - Địa nguyên long.
    Cấn Sơn - Thiên nguyên long.
    Dần Sơn - Nhân nguyên long.
    *QUẺ CHẤN.
    Giáp sơn - Địa nguyên long.
    Mão Sơn - Thiên nguyên long.
    Ất Sơn - Nhân nguyên long.
    * QUẺ TỐN.
    Thìn Sơn - Địa nguyên long.
    Tốn Sơn - Thiên nguyên long.
    Tỵ Sơn - Nhân nguyên long.
    * QUẺ LY.
    Bính Sơn - Địa nguyên long.
    Ngọ Sơn - Thiên nguyên long.
    Đinh Sơn - Nhân nguyên long.
    * QUẺ KHÔN.
    Mùi Sơn - Địa nguyên long.
    Khôn Sơn - Thiên nguyên long.
    Thân Sơn - Nhân nguyên long.
    * QUẺ ĐOÀI.
    Canh Sơn - Địa nguyên long.
    Dậu Sơn - Thiên nguyên long.
    Tân Sơn - Nhân nguyên long.

    VÍ DỤ :
    Nhà tọa Hợi - Hướng Tị ( kiêm 4,5 độ ) kiêm Càn Tốn\ Nhâm Bính - Vận 7.
    [​IMG]
    Hướng Tị - Thuộc Nhân nguyên long - Sao địa bàn là số 6 , quẻ số 6 là Càn. Quẻ Càn ( Tuất Sơn - Địa nguyên long. Càn Sơn - Thiên nguyên long. Hợi Sơn - Nhân nguyên long ) . trên vòng La kinh Hợi là Vũ Khúc số 6. Đặt số 6+ vào trung cung bên phải.Vận hành theo chiều thuận.
    [​IMG]
    Tọa Hợi là Nhân nguyên long - Sao địa bàn là số 8 , quẻ số 8 là Cấn . Quẻ Cấn ( Sửu Sơn - Địa nguyên long.Cấn Sơn - Thiên nguyên long.Dần Sơn - Nhân nguyên long ) . Có Nhân nguyên Long là Dần. Tại vòng La kinh số 6 Dần là sao Hữu bật số 9. Đặt số 9 + vào trung cung bên trái. Vận hành theo chiều thuận.

    Lưu ý : Âm - Dương phi thuận nghịch lấy theo số của Sơn và Hướng tinh gốc.

    Giải thích : Lục đáo Hướng. Nhân nguyên long của Lục là Hợi - Sao Vũ Khúc. Vẫn dùng Lục của Vũ Khúc nhập trung cung. Hợi là dương nên vận hành thuận.

    Bát đáo Sơn . Nhân nguyên long của bát là Dần - là sao Hữu bật , nên không nhập Bát vào trung cung mà nhập Cửu vào trung cung . Dần là dương nên Cửu hành theo chiều thuận.
    Quẻ này Thành môn ở phương Ất.
    Các bạn có thể tra cứu 216 quẻ thay kiêm hướng tại cuốn Cổ dịch Huyền không học của Hồ Kính Quốc.
     
    #50
  11. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    NGHỆ THUẬT ĐIỂM THẦN SÁT .
    ( Tác giả Trần Mạnh Linh )

    Căn cứ để an Thần sát :
    1/ Xác định Tọa .( Phân kim) .
    2/ Xác định Hướng ( Phân kim ) .
    3/ Xác định Đại môn ( Phân kim ) .
    I/ MÔN KHÍ CỬU CUNG ĐIỂM THẦN SÁT :
    ( Môn Lầu cửu cung điểm Thần sát ) .
    Có thể nói rằng cát, hung, phúc, họa của ngôi nhà đa phần liên quan đến khẩu Môn là Cổng và Cửa. Một căn nhà nếu đã có hướng, tọa tốt mà lại có vị trí Cổng, Cửa tốt để đưa được: Lộc, Mã, Quý nhân vào cổng, vào trong cửa và không phạm bát đại Không vong thì chủ nhà sẽ có Tài lộc và Quý nhân phù trợ là rất tốt . Đây là phép tìm Địa khí, một phép linh diệu trong Phong Thủy. Để tìm được Địa khí các nhà Phong Thủy phải Phân kim Hướng nhà và Cửa - Đại Môn, Ngoại môn. Nếu theo phân kim Đại môn, Ngoại môn, theo chủ địa khí và Môn khí mà cửa hay cổng được: Lộc, Mã, Quý nhân lại gặp thêm Hoan lạc hay Phúc đức, hoặc các sao tốt trong vòng sao Phúc Đức, tránh bị Đại Sát, Thiên hình, Vô tự...lâm Môn là ngôi nhà có Cửa, cổng hoàn hảo.
    - Cổng và Cửa đặt theo phép “Khai môn – Nghệ thuật phân cung điểm Thần sát”
    Đây là phép bí truyền của Địa lý cao cấp dương cơ rất linh diệu để xác định các Thần sát trong cửu cung của ngôi nhà.
    Loại tốt có: Dương Quý Nhân, Âm Quý nhân, Thiên Lộc, Thiên mã, Đào Hoa.
    Loại xấu có: Đại sát, Thiên hình, Độc hỏa.( Như Chủ Địa khí)
    Cửu tinh an Thần sát Chủ địa khí và điểm Thần sát Môn khí trong Phong thủy để bố trí các Tiết minh và bất Tiết minh cho phù hợp.
    - Ngoài ra Cổng, Cửa phải Phân kim tìm tuyến chính kim, tránh Bát đại Không vong, trong đó có Tiểu không vong và Đại không vong. Không vong nghĩa là khi Sơn, hướng nhà hoặc tâm Cổng, tâm cửa rơi vào Sát Thần Địa Long trong 60 thấu địa Long. Nếu khi Sơn, hướng nhà hoặc tâm Cổng, tâm cửa rơi vào Bát đại Không vong là tối nguy hại. Nó thường làm cho chủ nhà ốm đau, bệnh tật, Tai nạn, chết người, hao mòn tiền của, nếu ảnh hưởng ít nhất cũng là chậm vợ. Chậm chồng, ly hôn, cô đơn nếu lại có vị là Cô quả.

    Trong thực tế đã chứng minh nếu nhà có Bát đại Không vong sẽ có 99% gia đình bất ổn. Khi đó phải cần phải sửa chữa, sử lý, hay trấn yểm để làm cho không bị tai hoạ khi hướng nhà có phạm Bát đại không vong. Cổng và Cửa thì tất nhiên là tuyệt đối tránh Bát đại Không vong.
    A/ CÁC THẦN SÁT PHẢI AN :
    a/ Thần sát an theo Can của Đại môn bao gồm .
    1/ THIÊN LỘC .
    2/ DƯƠNG QUÝ NHÂN .
    3/ÂM QUÝ NHÂN .
    b/ các Thần sát an theo Chi của Đại môn :
    4/ ĐÀO HOA .
    5/ ĐẠI SÁT .
    6/ THIÊN MÃ.
    7/ ĐỘC HỎA .
    8/ THIÊN HÌNH .
    II/CHỦ ĐỊA KHÍ CỬU CUNG ĐIỂM THẦN SÁT
    A/ CÁC THẦN SÁT PHẢI AN :
    a/ Thần sát an theo Can của Hướng nhà bao gồm .
    1/ THIÊN LỘC .
    2/ DƯƠNG QUÝ NHÂN .
    3/ÂM QUÝ NHÂN .
    b/ các Thần sát an theo Chi của Hướng nhà :
    4/ ĐÀO HOA .
    5/ ĐẠI SÁT .
    6/ THIÊN MÃ.
    7/ ĐỘC HỎA .
    8/ THIÊN HÌNH .

    Ý NGHĨA CỦA THẦN SÁT
    Đại môn là nơi họa phúc tiến vào hoặc ra đi , là nơi động Khí , nơi Âm - Dương - Ngũ Khí gặp nhau mà tạo ra cát hung ." Họa tòng Khẩu xuất - bệnh tòng Khẩu nhập " . Nghĩa là mọi tai họa , bệnh tật đều do từ miệng mà ra . Có thể nói rằng : Cát , Hung , Họa , Phúc của Dương Trạch đa phần có liên quan đến khẩu Môn , mà điều đó người ta có thể tạo ra được thông qua phép KHAI MÔN THỤ KHÍ. Từ đó có thể tạo ra và quyết định vận mệnh của mình .
    1/ THIÊN LỘC :
    Lộc là phương Lâm quan của Tuế Can , tính của Ngũ hành , Lâm quan tới cát . Lâm quan là thời đương thịnh , đang lên phơi phới , là đúng Đạo sinh thành , gần tới Vượng mà là Lộc , bởi đã Vượng thì Thái quá .
    Lộc là cách có Lộc ra chính môn . Nhà có cách này là cát khánh , rất tốt . Lộc ra chính Môn sẽ đem lại nhiều may mắn về tiền bạc , gia sản thăng tiến , điền trang vượng .Thường sinh người béo tốt , thông minh , tuấn tú lại khéo léo , tài năng Kinh doanh giỏi , làm ăn tiến phát . Tuy nhiên cũng cần phải lánh xa Sinh - Vượng Lộc , tránh không vong tử , tuyệt . Nếu Mộ , Không vong , Tử , Tuyệt thì Khí tán , không tụ , là vô dụng . Có Lộc cũng như không . Tài sản dù có như nước , rồi cũng tiêu tan hết . Đó gọi là Tuyệt Lộc . Nếu gặp Thai Khí thì mặc dù vẫn phát đạt , nhưng con trai tài hoa mà kiêu ngạo , con gái nhỏ thì khả ái nhưng ngỗ nghịch . Trong gia đình hay sinh nội loạn , cãi vã , cả ngày ồn ào khiến mọi người bất yên .Lộc cung là Cát cung , vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra , còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ . Tất cả được Lộc đều tốt . Tuy nhiênLộc phải cư đúng cung tài , là Lộc cư Lộc , mới thật là đắc cách , mới thật sự tốt đẹp .
    2/ THIÊN MÃ :
    Mã chủ trạng thái động , là tượng của thay đổi , bôn tẩu .
    Mã ra chính môn thì Gia trạch luôn gặp sự may mắn , tin vui ngất trời , phát tài mau chóng , công việc đều trôi chẩy thuận lợi . Thường sinh ra người khôi ngô , tuấn tú lại hay xuất Ngoại ra ngoài , ăn nên làm ra . Tuy nhiên cũng như Lộc , Mã cần phải Sinh - Vượng , tránh Không vong , Tử , Tuyệt . Gặp Sinh , Vượng thì tốc phát , lại sinh ra người thông minh , cao quý . Gặp Không vong , Tử , Tuyệt thì Giang hồ bôn tẩu nơi xa đểu mưu sinh . Tha phương , cầu thực , công danh thăng giáng thất thường , sự nghiệp thì long đong , lận đận , lại dễ gặp tai nạn về chân tay . Công việc chỉ có đầu mà không có đuôi , thành công ít mà thất bại thì nhiều . Gặp Thoái Khí lại ra cung Đoài trực cùng Đào hoa thì Âm thịnh - Dương suy , con gái dễ phát sinh dâm loạn , con trai chơi bời , nghiện ngập , bại hoại Gia phong .
    Mã cũng là cát cung , vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ đều tốt . Chỉ có giường ngủ của Nữ là không nên đặt tại Mã cung, nếu đặt phải thì Tâm bất an , không ở yên một chỗ .
    3/ QUÝ NHÂN :
    Quý Nhân Thiên Ất là vị Thần đứng đầu cát Thần , hết sức tĩnh mà có thể chế ngự được mọi chỗ động , chí tôn mà có thể trấn được phi phù .
    Nhà có chính môn ra Quý là Đại cát khánh , Gia đạo bình an , hòa thuận , hỉ Khí đầy nhà , luôn gặp may mắn . Quý nhân là sao cứu trợ , là Thần giải tai ách , nên nhà ra Quý nhân là gặp việc có người giúp đỡ , gặp ách có người giải cứu , gặp hung hóa cát. Sự nghiệp hiển vinh , công danh thành đạt , dễ thăng Quan , tiến chức , học hành thi cử nhất nhất đều tốt đẹp . Quý nhân gặp sinh , Vượng , thường sinh người hiếu lễ, khôi nguyên , tướng mạo phi phàm , tính tình nhanh nhẹn , lý lẽ phân minh , không thích mẹo vặt , thẳng thắn mà ôn hòa , khôi ngô tuấn tú . Nếu ngộ Không vong , Tử , Tuyệt thì nguồn Phúc giảm đi nhiều , hoặc nếu có mắc nạn cũng khó tránh , bởi nguồn cứu giải kém hiệu lực , người và gia súc bị tổn thất , kiện cáo , thị phi . Lại hay sinh người tính tình cố chấp , bảo thủ mà suốt đời vất vả , không nên người . Quý nhân ra Thai Khí , nếu lại ngộ Đào hoa thì nam , nữ tuy thông minh , tuấn tú , nhưng nam thì hiếu sắc , nữ thì dâm đãng , làm bại hoại Gia phong , lại hay mắc bệnh tật và trong nhà dễ có người tự ải , tự vẫn vì tình .

    Quý nhân là Cát Khí rất tôn quý , nên gia vào cung nào cũng rất tốt , ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ đều tốt . Đặc biệt bàn thờ đặt trên cung có Âm Quý nhân là đại cát khánh , như vậy sẽ được âm Linh phù trợ . Không được để phòng tắm , nhà vệ sinh vào cung Quý nhân , vì như vậy sẽ bị họa hại liên miên , nữ nhân thiếu máu , động thai , sinh con dù có đẹp đẽ nhưng cũng dấn thân vào con đường ô nhục , làm điếm , cuối cùng phải tự vẫn . Tài sản tiêu tan , yêu ma hoành hành , gia đình có người bị cướp bóc , chém giết máu me thảm khốc , bệnh tật đau khổ triền miên . Nếu để nhầm WC vào cung Âm Quý nhân thì tai họa khủng khiếp khó lường .

    4/ THIÊN HÌNH :
    Chính Môn gia Hình thì hại vô cùng , vì Hình chủ tù , ngục , kiện tụng , là tượng của chém giết , mổ xẻ , châm chích . Hình gia Môn thì Gia đạo thường xuyên gặp tai họa , tai bay m họa gió từ đâu đưa đến . Những người sống trong nhà này , tuổi thọ bị triệt giảm . Trong người hay mang thương tật , lại dễ xảy ra kiện tụng , hoặc những việc liên quan đến ngục hình . Trai khắc vợ , gái sát chồng . Hình gia Môn cũng thường sinh ra người có tính khí hung bạo , liều lĩnh , bướng bỉnh , ngang tàng và gian trá , lại hay mang tật trong mình , lớn lên ắt phá tán Tổ nghiệp , tha phương cầu thực .
    Thiên hình gia cung nào cũng hung , nếu nó thất hãm còn đỡ , chứ nếu Miếu , Vượng thì vô cùng nguy hiểm . Giường ngủ hay bàn học của con trẻ , nếu để vào cung Hình thì dù có giỏi giang sáng dạ cũng không may khi thi cử , điểm số không cao . Thiên Hình mà đóng ở cầu thang , lại gặp Mã thì ra Mã què , chủ gặp khó khăn trong công việc , nhất là các thủ tục liên quan đến giấy tờ , thủ tục hành chính . Nếu Hình Vượng thì chủ gặp tai nạn Giao thông , tai nạn thương tích chân , tay . Hình , Lộc đi cùng nhau , chủ hay bị mất cắp , làm ăn đổ bể , thất tài , phá sản , hoặc do làm ăn bất chính mà dính dáng tới Pháp luật . Thiên Hình chỉ nên đặt tại nhà WC , phòng tắm , để yểm , trấn là tốt . Khi ấy Hình không còn hiệu lực tác phát , trở thành vô họa .

    5/ ĐẠI SÁT :
    Đại sát là sát của Âm Khí , đó là loại đặc biệt độc . Đại sát thường đóng ở tứ Quý . Đất của Tuế sát không thể phạm vào , phạm vào ắt thương tổn .
    Nhà có chính Môn gia Sát là phạm vào cách hung họa nhất , chủ tai nạn chết chóc , ốm đau , bệnh tật . Tai nạn giáng xuống liên miên . Nặng thì mất mạng toàn Gia và chết đến một cách rất thê thảm , khủng khiếp . Nhẹ thì cũng Quan trường bãi miễn , gia sản lụng bại , bần cùng . Tuế Sát mà Gia Môn thì thường sinh ra người yểu tử ( Hữu sinh vô dưỡng ) , hoặc sinh ra người tính tình ương ngạnh , hiếu thắng , hung tơn , nham hiểm , bất nhân nhưng có đầu óc kinh doanh , thủ công , mỹ nghệ . Tuy nhiên vẫn suốt đời vất vả , thường hay mắc nhiều tai ách và chẳng làm nên công cán gì . Loại nhà này chẳng thể ở lâu , phải mau chóng sửa , trị kịp thời .
    Đại Sát là một sao đại hung họa , nên vào cung nào cũng hung . Giường ngủ hay bàn học của con trẻ , nếu để ở cung Đại Sát , được Sinh , Vượng Khí , thì học tài thi phận , thi cử không may . nếu gặp Tử , Tuyệt thì lười biếng , ham chơi lại hay nói dối .
    Đặc biệt tối kỵ đặt bàn thờ vào cung Đại Sát , lúc đó sẽ có người điện khùng , hoảng loạn , cũng có thể sinh ra người cờ bạc , nghiện hút , đổ đốn , hư hỏng . Cung Đại Sát chỉ có thể đặt WC hay phòng tắm mà thôi .
    6/ ĐỘC HỎA :
    Độc Hỏa là khí Hỏa thịnh vượng , là Hỏa khí do sự biến đổi của Âm - Dương tạo ra . Nó chính là khí Liêm Trinh nên mang nhiều sát khí . Độc Hỏa lâm môn thì Hỏa khí vượng , khiến dễ bị Hỏa tai hay bị Hỏa khí bốc lên đầu , mà sinh ra bệnh tật , đồng thời khiến cho những người sống trong nhà hay bị hồ đồ , lỗ mãng . Độc Hỏa lâm môn hay sinh ra những người nóng tính , liều lĩnh , hung bạo , thường làm những chuyện rồ dại . Độc Hỏa lâm môn cũng đồng nghĩa thóai tài , nghèo khổ .
    Độc Hỏa là hung tinh nên khi đến cung nào cũng không tốt . Tuy vậy , Độc Hỏa là hung tinh nhưng không quyết liệt như Đại sát , Thiên Hình . Do vậy , Độc Hỏa chỉ thật sự gây tác hại khi đến cung đặt bàn thờ hay bếp . Những trường hợp khác có thể châm chước được . Bàn thờ và bếp là hai cung phát hỏa nên không bao giờ đặt bàn thờ và bếp vào cung có Độc Hỏa .

    7/ ĐÀO HOA.


    KHAI MÔN ĐIỂM THẦN SÁT:
    1. Bước 1:
    Đo toạ hướng của nhà, hướng của cửa (môn khí, đo từ tâm nhà đến tâm của cửa)
    lấy phân kim theo vòng 60 thấu địa long.
    Ví dụ: (xem hình vẽ)
    [​IMG]

    2. Bước 2:
    Trên địa bàn, theo Can của toạ sơn dùng “Ngũ hổ độn” để nạp Can cho 12 địa chi.
    3. Bước 3:
    Căn cứ vào Can Chi phân kim của hướng cửa (đại môn), an các thần sát cho 12
    chi, nạp âm theo Can Chi của thần sát là hành của nó.
    [​IMG]
    [​IMG]

    4. Bước 4:
    Đặt Can Chi của môn khí vào trung cung chạy thuận đến Can Chi của các thần
    sát.
    Ví dụ 1: Nhà toạ Tý (Canh Tý) hướng Ngọ (Bính Ngọ), cửa mở hướng Tốn (Tân Tị)

    [​IMG]

    Đặt Tân Tị vào trung cung chạy thuận đến Can Chi của địa bàn (bảng trên), các Can Chi rơi vào
    cung nào an thần sát tương ứng tại đó.

    [​IMG]

    Ví dụ 2:Nhà toạ Tý (Canh Tý) hướng Ngọ (Bính Ngọ), cửa mở hướng Tị (Ất Tị) .

    [​IMG]

    Đặt Ất Tị vào trung cung chạy thuận đến Can Chi trong bảng trên, các Can Chi rơi vào cung nào an thần sát tương ứng tại đó.

    [​IMG]

    Ví dụ 3: Nhà toạ Tý (Canh Tý) hướng Ngọ (Bính Ngọ), cửa mở hướng Mùi (Đinh Mùi) .

    [​IMG]

    [​IMG]

    Để cho rõ thêm , dienbatn đăng lại phần bài viết của Vanhoai trên ( http://www.nhantrachoc.vn)
    KHAI MÔN – PHÂN KIM ĐIỂM THẦN SÁT (theo Huyền Không)
    Trong thời gian qua chúng ta đã tìm hiểu về lý thuyết Huyền Không cũng như ứng dụng của nó. Nay tôi xin trình bày ở một mức cao hơn của Huyền Không (cũng có thể gọi là “Huyền Không” cao cấp). Đó là phương pháp khai môn (mở cửa chính hoặc cổng) dùng phân kim để an thần sát (cát hung)
    Nếu chúng ta để ý thì sẻ thấy: hai nhà cùng hướng, cùng nhập trạch trong một vận, nhưng vượng suy khác nhau. Đó là vì cách để cửa và bố trí trong nhà khác nhau.
    Đại môn hay cửa chính là nơi người nhà thường ra vào là nơi động khí mạnh nhất và cũng là nơi rước họa hay đón phúc của mọi người sống trong nhà đó.
    Phép phân kim điểm thần sát là cách xác định vị trí cửa chính hoặc cổng rồi theo đó mà xác định Thần (cát khí) hay Sát (hung khí) vào trong cửu cung
    Trước khi đi vào chi tiết cũng xin nhắc lại: Nếu nhà có cửa được vượng khí thì vẫn vượng nhưng nếu cửa đó hợp cách với cách phân kim thì càng vượng hơn, còn nếu thất cách thì cũng giảm đi nhiều phần. Nếu cửa chính là suy tử mà cách phân kim được đắc cách thì sự “hung” sẽ giảm đi nhiều và ngược lại
    1-) La kinh phân châm:
    a- La kinh thông thường: Ngoài cách phân bổ vòng tròn của la bàn ra làm 24 cung người ta còn phân làm 60 cung , mỗi cung 6’ gọi là “phân châm”.
    [​IMG]
    b- Phân châm theo Huyền Không:
    Cách phân châm theo cách trên có nhược điểm là hay bị vào tuyến “đại không vong” hoặc “tiểu không vong”. Theo Huyền không thì phân châm mỗi cung 3’ vị chi là 120 cung. Cách này được Thẩm trúc Nhưng (tác giả cuốn Thẩm Thị Huyền Không) phát triển và dùng cho tới ngày nay.
    [​IMG]
    Muốn áp dụng phương pháp Phân kim điểm thần sát đòi hỏi người xem phải có kinh nghiệm đồng thời dụng cụ đo đạc cần chính xác vì chỉ cần lệch một chút là đã cho kết quả khác, đặc biệt là tìm tâm nhà. Đặt la kinh vào tâm nhà để xác định TÂM cửa chính nằm trong cung nào.
    2-) Thần Sát:
    Thần sát có hai loại cát, hung. Gồm:
    Cát
    Dương quí nhân
    Âm quí nhân
    Thiên lộc
    Thiên mã
    Đào hoa
    Hung
    Đại sát
    Thiên hình
    Độc hỏa
    3-) Lục thập Hoa Giáp
    Là những cặp phối hợp giữa 10 can và 12 chi, được 60 cặp gọi là Lục Thập Hoa Giáp
    [​IMG]
     
    #51
  12. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    4/ An Thần Sát:
    Thần Sát được tính toán dựa vào:
    - Phân kim tọa sơn nhà
    - Phân kim Đại môn hoặc Cổng (thành môn)
    An Thần Sát gồm hai bước:
    Bước I :
    · Lấy can chi của Đại môn (hay cổng) để tìm chi của thần sát . Như vậy ta sẻ có hai đồ hình, một của đại môn và một của thành môn.
    · Lấy Phân kim của Tọa sơn nhà để tìm can của Thần Sát.
    Can của thần sát dựa trên can phân kim của tọa sơn nhà theo phép Ngũ Hổ độn.
    Phép Ngũ Hổ độn là phép tìm can tháng dựa vào can của năm theo bài ca quyết sau:
    Giáp Kỷ chi niên Bính tác thủ
    Ất Canh chi tuế Mậu vi đầu
    Bính Tân chi tuế tầm Canh thượng
    Đinh Nhâm, Nhâm dần thuận hành lưu
    Duy hữu Mậu Quí hà phương Giáp
    Giáp Dần chi thượng hảo suy cầu
    Có nghĩa là Phân kim tọa sơn là giáp hay kỷ thì can khởi là Bính, can tọa là Ất hay Canh thì can khởi là Mậu, Can tọa sơn là Đinh hay Nhâm thì can khởi là Nhâm, Can tọa sơn là Mậu hay quí thì can khởi là Giáp. Sau đó đặt can khởi tại chi Dần rồi an tiếp các chi còn lại theo vòng “Lục Thập Hoa Giáp”. Thí dụ: Can khởi là Mậu thì đặt vào chi khởi là Dần tức Mậu Dần và các can chi tiếp theo là Kỷ Mão, Canh Thìn,… Hoặc Can Khởi là Canh thì đặt vào chi khởi là Dần tức Canh Dần và các can chi tiếp theo là Tân Mão, Nhâm Thìn,…
    Bước II :
    Đặt phân kim đại môn nhập trung cung rồi an tiếp các can chi tiếp theo của vòng “lục thập hoa giáp” vào cửu cung theo vòng “lường thiên xích” thuận. Cứ hết 9 cung thì lại cho nhập trung cung rồi an tiếp cho tới hết.
    Thay thế can chi bằng Thần sát có can chi đó.
    Nhà mà Phân kim cổng và phân kim đại môn trùng nhau (tức cửa và cỗng thẳng nhau) thì không nói gì. Nếu cổng bố trí khác với đại môn thì việc đặt cổng như thế nào để đại môn ra cát khí: Lộc, Mã, Quí nhân chứ không phải là Đại sát, Thiên Hình, Độc Hỏa đòi hỏi trình độ cao và đặc biệt phân kim đại môn lại được song tinh cát khí (Lộc+Mã), (Lộc+Quí), (Quí+Mã) hay Phân kim cổng và phân kim Đại môn để đại môn ra tam tinh cát khí (Lôc+Mã+Quí Nhân) lại thêm vượng khí đến đại môn hoặc đắc thành môn thì không còn gì bằng, cách này trong khoa địa lý gọi là đắc “tam hội liên châu” cực quí hiển và tốt đẹp.
    5-) Kích Thần, chế sát:
    Ngoài cách bố trí thủy hỏa trong nhà cho phù hợp với Thần sát còn phải biết kích thần, chế hóa sát. Đây là nét độc đáo của Huyền Không.
    Trong Huyền Không , sau khi đã an tinh bàn Ta biết được trong một cung có nhiều sao mang tính chất ngũ hành khác nhau mà sinh hay khắc nhau. Nay ta biết thêm được Thần sát đến cung đó mang tính ngũ hành dựa vào can chi của Thần Sát đó.
    Nếu tính chất ngũ hành trong cung tăng được cho ngũ hành của thần hoặc chế hóa ngũ hành của sát thì thật tốt đẹp. Bằng không ta cần đến vật khí phong thủy hầu kích thần chế sát vậy.
    Thi du: phân kim đại môn là giáp thìn, phân kim của tọa sơn là Đinh hợi
    Phân kim đại môn là giáp thìn, tra bảng
    Can giáp thì chi thần sát:
    Thiên Lộc - Dần
    Âm quí nhân - sửu
    Dương quí nhân - Mùi
    Chi Thìn thì chi thần sát:
    Thiên mã - Dần
    Đào hoa _ Dậu
    Đại sát - Mùi
    Thiên Hình - Thìn
    Độc Hỏa - Tị
    Tọa sơn nhà là Đinh Hợi, dùng Ngũ Hổ độn cho can Đinh thì khởi là Nhâm tức Nhâm Dần rồi an tiếp : Nhâm dần. quí mão, giáp thìn,...
    Như vậy can chi thần sát sẽ là :
    - Thiên lộc - Nhâm dần
    - Âm quí nhân - quí sửu
    - Dương quí nhân - Đinh mùi
    - Thiên mã - nhâm dần
    - Đào Hoa - Kỷ dậu
    - Đại sát - Đinh mùi
    - Thiên hình - Giáp thìn
    - Độc hỏa - Ất tị
    Đặt phân kim đại môn vào trung cung phi thuận theo lường thiên xích ta được:
    Nhâm tý .......Mậu thân .........Canh tuất
    Tân hợi ....Giáp thìn...........Bính ngọ
    Đinh mùi ......Kỷ dậu..............Ất tị
    Rồi lại cho tiếp Quí sửu nhập trung cung rồi phi tiếp ta được
    Tân dậu......Đinh tị........Kỷ mùi
    Canh thân..........Quí sửu........Ất mão
    Bính thìn........Mậu ngọ............Giáp dần
    Rồi lại cho Nhâm tuất nhập trung cung rồi phi tiếp……..
    Thay thế các can chi trên bằng thần sát ta được
    ………..X...........Thiên lộc.................X.......
    ........................Thiên mã
    ............X..........Âm quí nhân.............X.......
    .......................Thiên hình
    Đại sát...............Đào hoa...........Độc hỏa
    Dương quí nhân.
    Cho Giáp thìn nhập trung cung rồi an các can chi trong lục thập hoa giáp theo vòng "lường thiên xích thuận"
    49.....................45............................47............
    48.....................41Giáp thìn..............43............
    44Đinh mùi ......46Kỷ dậu.................42Ất tị
    Rồi lại cho tiếp 50Quí sửu nhập trung cung rồi phi tiếp ta được
    58...........................54....................56...........
    57.......................50Quí sửu............52...........
    53.......................55.........................51
    Rồi lại cho 59Nhâm tuất nhập trung cung rồi phi tiếp……..
    Sau cùng là 35Mậu tuất nhập trung cung
    ...................39Nhâm dần..........................
    ...................35.........................37.............
    38...............40.........................36.............
    Sau cùng thay thế các can chi trên bằng Thần Sát mang can chi đó.
    KHAI MÔN – PHÂN KIM ĐIỂM THẦN SÁT (tiếp theo)
    Nhà tọa Ất hướng Tân 287’ vận 8
    Thành môn ở Hợi 330' (có ngã tư). Cửa mở tại cung Tân và Dậu là có vượng khí.
    Tọa sơn 107’ Quí mão, Cửa chính mở tại 283’ Ất dậu, cổng mở tại 321’ Nhâm Tuất
    1- An Thần sát của phâm kim Ất Dậu
    · Chi Thần sát theo can Ất:
    - THIÊN LỘC : Mão
    - ÂM QUÍ : Tý
    - DƯƠNG QUÍ : Thân
    · Chi Thần sát theo chi Dậu:
    - THIÊN MÃ :Hợi
    - ĐÀO HOA : Ngọ
    - ĐẠI SÁT : Thìn
    - THIÊN HÌNH : Dậu
    - ĐỘC HỎA : Thân
    · Can Thần sát theo can của tọa sơn Quí Mão khởi từ Giáp Dần (51)(can theo ngũ hổ độn của Quí là Giáp)
    - (51) Giáp Dần
    - (52) Ất Mão _ THIÊN LỘC
    - (53) Bính Thìn _ ĐẠI SÁT
    - (54) Đinh Tị
    - (55) Mậu Ngọ _ ĐÀO HOA
    - (56) Kỷ Mùi
    - (57) Canh Thân _ DƯƠNG QUÍ, ĐỘC HỎA
    - (58) Tân Dậu _ THIÊN HÌNH
    - (59) Nhâm Tuất
    - (60) Quí Hợi _ THIÊN MÃ
    - (1) Giáp Tý _ ÂM QUÍ
    Lấy Ất Dậu (22) nhập trung cung bay thuận (vòng 1)
    _ Giáp Ngọ (31) nhập trung cung bay thuận (vòng 2)
    _ Quí Mão (40) nhập trung cung bay thuận (vòng 3)
    _ Nhâm Tý (49) nhập trung cung bay thuận (vòng 4) ta được.
    57……….53………….55
    56……….49………….51
    52……….54………….50
    _ Tân Dậu (58) nhập trung cung bay thuận (vòng 5) ta được
    6………..2…………4
    56……..58……….60
    1………..3………..59
    Thay số bằng thần sát……
    2- An thần sát của phân kim Nhâm Tuất:
    Tương tự như trên ta được:
    - Thiên lộc _ Quí Hợi (60)
    - Âm Quí _ Giáp Tý (1)
    - Dương quí _ Ất Mão (52)
    - Thiên Mã _ Canh Thân (57)
    - Đào Hoa _ Ất Mão (52)
    - Đại sát _ Ất sửu(2)
    - Thiên Hình _ Ất sửu (2) và Kỷ Mùi (56)
    - Độc hỏa _ Quí Hợi ( 60)
    Sau đó cho Nhâm Tuất (59) nhập trung cung bay thuận…………..
    - Phân kim theo cửa Ất Dậu thì cửa chính được THIÊN MÃ.
    - Phân kim theo cổng Nhâm Tuất thì cửa chính được Âm Quí.
    - THIÊN MÃ Có hành là thủy theo hành của Quí hợi. Cung hướng Tây có (8-1-8) là Thổ (8-8) sanh kim (cung đoài) rồi kim sanh thủy (1), như vậy là được THIÊN MÃ vượng.

    [​IMG]

    [​IMG]

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ MÔN KHÍ CỬU CUNG ĐIỂM THẦN SÁT ĐÁNG LƯU Ý :
    * "Theo ngu ý của riêng tôi thì Phong Thủy học của thầy Trần Mạnh Linh mang tính sử dụng tổng hợp các kỹ thuật của các phái: Bát Trạch, Huyền Không, thêm cả chút Lý Số Phong Thủy (Khai Môn Điểm Thần Sát). Thực ra các cái mà bạn thấy ghi là Độc Hỏa, Kiếp Tài, Thôi Quan ...đều là những cách cục Huyền Không mà thôi, các tên này phần thì cũng đã có trong các sách cổ, phần cũng được thấy Mạnh Linh đặt ra để người học dễ nhớ. Còn như phân ra làm 8 cung, cái gọi là Nguyên Khí chính là được Phúc Nguyên của Bát Trạch mà thôi. Còn cái gọi là Khai Môn Điểm Thần Sát thì bắt nguồn từ thuyết Thần Sát có từ đời Hán, thuyết này gây ra nhiều tranh cãi, bởi có rất nhiều Thần Sát không có được lý giải thích hợp, rất có thể do các Phương Sĩ đời xưa đưa ra để hù thân chủ ... :x . Hơn nữa Thần Sát hay được dùng trong Tứ Trụ Toán Mệnh, chứ ít thấy nói đến trong Phong Thủy. Huyền Không chỉ hay nói đến Ngũ Hoàng Liêm trinh, Tam Hợp thì nói Tam Sát ..... Tóm lại tôi thấy sách của Thầy Trần cũng là dùng tổng hợp các kiến thức hiện có của các sách Phong Thủy, Kinh Dịch, Mệnh Lý có ở Việt Nam, nhưng ông đã dùng cách biến hóa tên gọi để làm mới cho sách của mình. Bằng chứng là ông đánh giá rất thấp Bát Trạch, như vậy ông chưa hề biết đến Bát Trạch Chân Pháp. Huyền Không thì ông chỉ dừng ở mức dùng cách cục, chưa thấy sử dụng được Linh thần, Lưu thần...."
    * "Mang cửu tinh đặt đủ thứ tên làm rối người ta. Nào là 4-9 làm Phúc đức; 4-7 làm Đào hoa; 3-7 làm Kiếp tài... Ông ấy không biết rằng Thần-Sát định cát hung, Cửu Tinh đo lường vượng suy. Mang hai cái này ghép lại rồi nói là Nguyên khí, thật hết sức tưởng tượng.
    Tam Hợp quý Âm long mà xem thường Dương long vì Âm long ở được các ngôi tôn quý của Thiên tinh nên phát phú quý lâu dài hơn Dương long, Dương long thì bạo phát bạo tàn. Tuy nhiên nếu Dương long đắc cách còn hơn âm long trung bình. Đây là luận về Âm Dương long của Tam hợp phái. Nói Nguyên khí là khí Âm tĩnh phát chậm lực mạnh so với cách luận của Tam hợp như trên còn quá khiên cưỡng. Chưa nói đến Nguyên khí thực chất là Khí nhất nguyên, nói Khí nhất nguyên là khí Âm là đã sai lắm rồi."

    http://khonggian4chieu.freeforums.org/
    dienbatn : Đây là một tài liệu về Phong thủy cũng đáng để nghiên cứu. Nếu hiểu rõ , chúng ta cũng có được một số kiến thức về Lý Khí.

    7/ CÁCH ĐẶT BẾP .

    DI YÊN HẠ HOẢ (Phép đặt bếp)

    (1) Vị trí đặt bếp (chiếm 5 điểm):
    Chọn các cung tốt trong cửu cung (Lộc, Mã, Quý Nhân. Chưa có gia đình có thể
    đặt ở Đào hoa, Thiên Mã).
    2) Đặt bếp tại các cát sơn (chiếm 3 điểm):
    (a) Đặt bếp theo vòng lục diệu:
    Nhất long, Nhị Vũ, Tam Âm, Tứ Hổ, Ngũ Xà, Lục Trận
    Trong đó Nhất Long, Tứ Hổ là cát các cung còn lại là hung.
    Theo toạ sơn của nhà để tính, không căn cứ vào toạ sơn của phòng bếp. Trường
    hợp bếp nằm thành nhà riêng tách rời độc lập, khác mái với nhà thì tính cung của nhà
    bếp riêng (cũng chia nhà bếp thành 9 cung và tính toán như tính với một cái nhà). Vị trí
    của nhà bếp nằm riêng này căn cứ vào toạ, hướng của nhà chính để chia thửa đất thành 9
    cung và chọn cung tốt về huyền không và không có các thần sát xấu mà dựng bếp.
    Cách tính:
    Nhà toạ NHÂM, TÝ, BÍNH, NGỌ, GIÁP, MÃO, CANH, DẬU khởi Nhất Long
    tại NHÂM TÝ, sau chạy thuận cứ hai sơn một cung Nhị Vũ, Tam Âm, Tứ Hổ, Ngũ Xà,
    Lục Trận
    Nhà toạ CẤN, DẦN, KHÔN, THÂN, TỐN, TỊ, CÀN, HỢI khởi Nhất Long tại
    QUÝ SỬU.
    Nhà toạ ẤT, THÌN, CANH, TUẤT, QUÝ, SỬU, ĐINH, MÙI khởi Nhất Long tại
    CÀN HỢI.
    Đông tứ mệnh đặt Nhất long tốt hơn.
    Tây Tứ mệnh đặt Tứ hổ tốt hơn
    Bảng lập sẵn để tra

    [​IMG]


    Ngoài ra còn dùng kết hợp cung Phi mệnh chủ với cửu cung của 24 hướng để
    tìm thêm các vị trí tốt xấu của bếp (Sự kết hợp này giúp chúng ta sử dụng trong trường
    hợp không tìm được vị trí Nhất Long, Tứ Hổ phù hợp khi xây sửa nhà, hoặc kết hợp cả
    hai để lấy cái tối ưu)
    - Nhâm, Thìn, Ngọ, Đinh, Thân thuộc Khảm
    - Tý, Dần, Bính, Tân, Tuất thuộc Ly
    - Quý, Khôn thuộc Khôn
    - Sửu, Ất, Tị, Canh thuộc Đoài .
    - Cấn, Dậu thuộc Cấn
    - Giáp, Mùi, Hợi thuộc Chấn
    - Mão, Tốn thuộc Tốn
    - Càn thuộc Càn
    Nếu đặt bếp, mệnh trạch chủ phối với khu vực đặt bếp ra:
    - Sinh khí là Phúc tinh Tốt nhất
    - Phục vị là Quý tinh Tốt nhất
    - Thiên y là Thọ tinh Tốt thứ 2
    - Diên niên là Tài tinh Tốt thứ 3
    - Lục Sát là Sát tinh Xấu
    - Ngũ Quỷ là Hao tinh Xấu
    - Tuyệt mạng Xấu
    - Hoạ hại Xấu
    Bếp ra Phúc tinh: là tốt nhất, vị trí này phù hợp với bếp có Mộc dưỡng Hoả như
    nguồn dưỡng mệnh. Nếu lại được âm dương Quý nhân hợp cách nữa thì có thể chế ngự
    được hung sát, tăng cường phúc khí cho ngôi nhà.
    Bếp ra Quý tinh: cũng như Phúc tinh, Quý tinh có Mộc khí nuôi dưỡng táo hoả
    quý hoá như viên ngọc châu gia truyền linh bảo trong nhà. Nếu được cùng âm dương
    Quý nhân hợp cách nữa thì chủ quý hiển vinh hoa, giải trừ hung hoạ, chế phục cát tinh.
    Nếu đã đủ các yếu tố đã nêu mà lại ra vào cung tử tức nữa thì là phép dùng hoả cầu tự.
    Phép này các bậc tiền nhân đã dùng, linh diệu thật khó lường.
    Bếp ra Thọ tinh: tức phép lấy chân hoả hậu thiên bổ khuyết cho hoả hầu tiên
    thiên mà kéo dài tuổi thọ. Phép này nếu được cùng với thái cực Đào hoa ra vào cung
    Diên thọ là cầu thọ pháp.
    Bếp ra Tài tinh: là vị trí được đánh giá thấp nhất trong 4 vị trí cát, nó chủ về phát
    tài lộc. Lấy tài tinh là dùng nguyên lý “Ngã khắc giả vi tài”, dùng hoả đốt chảy nguyên
    tinh chân phách mà dẫn nhập thành tài. Nói cách khác là cách này dùng chân hoả hậu
    thiên hỗ trợ đốt chảy nguyên tinh (phách) của chính mình mà dẫn nhập biến thành tài.
    Cũng tựa như một người hút lấy tuỷ cốt của mình để mà ăn. Tài quá vượng thì tự đốt
    cháy hết phách, con cháu không được nhờ, không được hưởng gì.
    (3) Hướng cát theo vòng du niên bát biến ( cùng với kỵ ở dưới thì đạt 2 điểm):
    [​IMG]
    [​IMG]
    So mệnh chủ nhà với hướng bếp (từ sau bếp nhìn tới
    trước), được Sinh Khí, Thiên y, Diên niên là tốt. Trường hợp vợ
    chồng Đông Tây tứ trạch khác nhau thì có thể lấy hợp với vợ để
    san sẻ cái tốt cho vợ, nhất là đối với người vợ nhiều bệnh tật.
    (4) Kỵ:
    - Kỵ đặt bếp tại vị trí Hoàng tuyền, Bát sát.
    [​IMG]
    (4) Kỵ:
    - Kỵ đặt bếp tại vị trí Hoàng tuyền, Bát sát.
    - Kỵ bếp trực xung với cổng và cửa nhà: chủ về hao tài, sinh ra ăn uống tụ tập, trẻ
    em lười học.
    - Kỵ thuỷ hoả tương xung: bếp cạnh nước, hoặc trên hoặc dưới nơi chứa nước
    (cách khoảng 80cm là được).
    - Kỵ xú uế: chủ trong nhà có bệnh tật, ốm đau, sức khoẻ kém (nhà có mùi không
    khí tanh khoảng 10 đến 30 ngày dễ có tang).
    - Kỵ bị thực khí xung xạ đè nén (trên có dầm nhà, góc chéo dưới gầm cầu thang,
    góc nhọn chiếu vào bếp...): chủ nhà bế tắc không hanh thông.
    (5) Những vị trí cần phải kiêng tránh đặt bếp:
    Nhà toạ Càn kiêng đặt bếp tại Bính.
    Nhà toạ Cấn kiêng đặt bếp tại Ất.
    Nhà toạ Đoài, Khôn kiêng đặt bếp tại Quý.
    Nhà toạ Chấn, Tốn kiêng đặt bếp tại Canh.
    Nhà toạ Khảm, Ly kiêng đặt bếp tại Giáp.
    (Mệnh chủ, hướng nhà cũng nên kiêng như vậy)
    8. TRẤN TRẠCH:
    (1) Trấn hướng nhà không hợp:
    Hướng nhà không hợp mệnh dùng bếp để trấn. Dùng hướng cát của bếp (là chiều
    từ bếp nhìn ra ngoài).
    Hướng nhà Tuyệt mệnh dùng táo quay hướng Thiên y.
    Hướng nhà Ngũ Quỷ dùng táo quay hướng Sinh khí.
    Hướng nhà Hoạ hại, Lục sát dùng táo quay hướng Diên niên.
    Mức độ trấn tuỳ thuộc sự sinh vượng của Thiên y, Sinh khí, Diên niên. Dùng
    hướng bếp so với sơn chủ và mệnh chủ.
    Ví dụ: Sơn chủ (lưng nhà) Tốn hướng Càn, mệnh Tốn. Bếp quay hướng Bắc (Khảm) kết hợp với
    Tốn được Sinh khí mộc. Sinh khí được Khảm thuỷ sinh.
    Ví dụ: Mệnh Khảm.
    Nếu nhà sơn chủ Khôn (Tuyệt mạng) dùng bếp hướng Chấn là Thiên y (thổ).
    Nếu nhà sơn chủ Khôn (Tuyệt mạng) dùng bếp hướng Tốn là Sinh khí (mộc).
    Nếu nhà sơn chủ Khôn (Tuyệt mạng) dùng bếp hướng Ly là Diên niên (kim).
    Dùng khí tạo ra bởi hướng bếp với với mệnh chủ (cùng Đông Tây): Sinh khí
    (Mộc), Thiên y (Thổ), Diên niên (Kim) so sánh với quẻ của sơn chủ (lưng nhà)
    Ví dụ: Mệnh Tốn.
    Phương Khảm (1) sinh khí.
    Sơn chủ (lưng nhà) Càn (6)
    1 + 6 = Thuỷ hợp với Tốn mộc
    2 + 7 = Hoả
    3 + 8 = Mộc
    4 + 9 = Kim
    6 + 1 = Thuỷ
    Ví dụ: Ly mệnh, nếu lưng nhà là Cấn (hợp thành Ngũ quỷ) đặt bếp Chấn (hợp thành Sinh khí)
    giáng Ngũ quỷ, tốt vì 8 + 3 = Mộc. So sánh: Mệnh Ly Hoả. Khí bếp Sinh khí Mộc. Sơn chủ Cấn Thổ. Vì
    Thổ của Cấn sinh mộc (8 + 3 = Mộc) làm cho mộc tiên thiên càng vượng. Nếu lưng nhà Khôn thì bị khắc thực sự.
    (2) Trấn cửa không hợp cách (theo vòng Phúc đức gặp phải sao xấu):
    PHÉP DI YÊN HẠ HOẢ:
    - Nhâm, Thìn, Ngọ, Đinh, Thân thuộc Khảm
    - Tý, Dần, Bính, Tân, Tuất thuộc Ly
    - Quý, Khôn thuộc Khôn
    - Sửu, Ất, Tị, Canh thuộc Đoài
    - Cấn, Dậu thuộc Cấn
    - Giáp, Mùi, Hợi thuộc Chấn
    - Mão, Tốn thuộc Tốn
    - Càn thuộc Càn
    Ví dụ: Nhà toạ Canh hướng Giáp. Bếp đặt tại Quý sơn. Mệnh chủ là nam sinh
    năm 1973 (Ly).

    Quý sơn đặt bếp thuộc quẻ Khôn
    Mệnh chủ là Ly
    Sơn Quý nơi đặt bếp thuộc quẻ Khôn
    (nếu di chuyển thì là sơn nơi mới đến)
    [​IMG]
    Nhà toạ Canh theo cách tính vòng Lục Diệu thì bếp Quý rơi vào Nhị Vũ (xấu)
    Mệnh chủ sinh năm Quý Sửu 1973 tính ra cung sinh là Tốn 4. Từ quẻ Minh Di
    chi Khôn ta bỏ đi hào 4, còn lại 8 hào. tiếp tục bỏ hào 1 và 9 còn lại 6 hào là quẻ Dự
    [​IMG]

    (a) Cấp độ 1: (Đưa bếp về Nhất Long hay Nhị Vũ... để tân táo hợp với mệnh chủ)
    Lần đầu chuyển chỉ cần chọn ngày đẹp như thông thường
    [​IMG]
    Quý sơn đặt bếp thuộc quẻ Khôn
    Mệnh chủ là Ly
    Tân táo: chọn cùng Đông Tây tứ trạch
    với mệnh chủ (Ví dụ Tý sơn) .
    Mệnh chủ sinh năm Quý Sửu 1973 tính ra cung sinh là Tốn 4. Từ quẻ Minh Di
    chi Hoả ta bỏ đi hào 4, còn lại 8 hào. tiếp tục bỏ hào 1 và 9 còn lại 6 hào là quẻ Giải.

    [​IMG]
    Khảm với Chấn tạo thành khí Thiên y (Cự môn 8), đẹp.
    Lấy số của sao nhân với số cung Phi của mệnh chủ (Ly 9):
    72 9 8 = × vậy sau 72 ngày thì việc chuyển tới nơi mới của bếp mới có hiệu lực,
    lúc đó mới có thể chuyển dịch tới nơi khác nếu muốn.
    (b) Cấp độ 2: (Để tạo ra quẻ lục hào là khí cát, có tác dụng chế cửa bị ra sao xấu của
    vòng Phúc đức)
    Sau 72 ngày chọn ngày đẹp để chuyển bếp
    * Phương án thứ nhất là chuyển về Bính (thuộc quẻ Ly) là nhất Long
    [​IMG]
    Cựu táo Tý sơn
    Phục vị
    Mệnh chủ là Ly Phục vị
    Tân táo: Bính Nhất Long Phục vị
    Mệnh chủ sinh năm Quý Sửu 1973 tính ra cung sinh là Tốn 4. Từ quẻ Thuần Ly
    chi Hoả ta bỏ đi hào 4, còn lại 8 hào. tiếp tục bỏ hào 1 và 9 còn lại 6 hào là quẻ Khốn.
    Đoài với Khảm tạo thành khí Hoạ hại , xấu. không dùng
    phương án này.

    * Phương án thứ hai:

    [​IMG]


    Cựu táo Tý sơn
    Phục vị
    Mệnh chủ là Ly
    Tân táo: Ngọ
    Mệnh chủ sinh năm Quý Sửu 1973 tính ra cung sinh là Tốn 4. Từ quẻ Thuần Ly
    Hoả ta bỏ đi hào 4, còn lại 8 hào. tiếp tục bỏ hào 1 và 9 còn lại 6 hào là quẻ Tuỳ.
    [​IMG]

    Đoài với Chấn tạo thành khí Tuyệt mạng, xấu. không dùng phương án này.
    * Phương án thứ ba:
    Cựu táo Tý sơn
    Mệnh chủ là Ly
    Tân táo: Cấn
    [​IMG]
    Mệnh chủ sinh năm Quý Sửu 1973 tính ra cung sinh là Tốn 4. Từ quẻ Thuần Ly
    chi Hoả ta bỏ đi hào 4, còn lại 8 hào. tiếp tục bỏ hào 1 và 9 còn lại 6 hào là quẻ Khốn.

    [​IMG]


    Đoài với Khảm tạo thành khí Hoạ hại , xấu. không dùng
    phương án này.
    Chỉ dùng hai cấp độ là phải ra quẻ đẹp. Quẻ lục hào ra khí tốt thì có tác dụng chế
    hoá được cửa xấu. Còn nếu chỉ ra được quẻ đẹp thì chỉ có nghĩa là vị trí đặt bếp đó đẹp.
    Ý NGHĨA CỦA PHÉP DI YÊN HẠ HOẢ:
    Táo đặt ở Nhất Long:
    Nếu chọn được Nhất Long mà quẻ lục hào ra Sinh khí thì chế được cửa Bại tuyệt
    và Xương dâm.
    Nếu chọn được Nhất Long mà quẻ lục hào ra Thiên y thì chế được cửa Ôn hoàng
    và Thiếu vong.
    Nếu chọn được Nhất Long mà quẻ lục hào ra Diên niên thì chế được cửa Khốc
    khấp và Khẩu thiệt.
    Táo đặt ở Tứ Hổ:
    Nếu chọn được Nhất Long mà quẻ lục hào ra Sinh khí thì chế được cửa Cô quả
    và Tự ải.
    Nếu chọn được Nhất Long mà quẻ lục hào ra Thiên y thì chế được cửa Điên
    cuồng và Trường bệnh.
    Nếu chọn được Nhất Long mà quẻ lục hào ra Diên niên thì chế được cửa Pháp
    trường và Tố tụng.
     
    #52
  13. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24

Chia sẻ trang này