Kinh TỨ DIỆU ĐẾ

Thảo luận trong 'ĐẠO PHẬT' bắt đầu bởi batquantrai, 25 Tháng mười 2014.

  1. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Chú giải Kinh TỨ DIỆU ĐẾ

    - Nhiều người cho rằng đạo Phật là đạo bi quan chỉ nói về cái khổ nhưng không phải vậy, chúng ta muốn an vui thì phải tiêu diệt cái khổ, mà muốn tiêu diệt cái khổ điều trước tiên phải nhận chân được nó.

    Chú giải TỨ DIỆU ĐẾ

    TỨ DIỆU ĐẾ cũng gọi là TỨ THÁNH ĐẾ, còn gọi tắt là TỨ ĐẾ.

    TỨ DIỆU ĐẾ là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật, là con đường mà qua đó con người có thể vươn đến một đời sống hạnh phúc chân thực ngay trong cõi đời này.

    Đó là bốn chân lý do chính Đức Phật khám phá ra sau khi Ngài đạt được giác ngộ tuyệt đối.

    TỨ DIỆU ĐẾ là bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật Thích Ca tại vườn nai sau khi ngài thành đạo. Bốn chân lý đó là: KHỔ ĐẾ, TẬP ĐẾ, DIỆT ĐẾ, ĐẠO ĐẾ.

    KHỔ ĐẾ luận về sự khổ, nói lên bản chất sự khốn khổ của đời sống của con người là Vô thường và Khổ. Khổ vì sinh, già, bệnh, chết, khổ vì chia lìa với người thân mà mình thương yêu, khổ vì phải kết hợp với những người không hạp ý mình, chỉ gây phiền não cho mình và mình không ưa, khổ vì những điều mình mơ ước tha thiết không đạt được. Tóm lại, những gì mà giác quan của ta cảm nhận là khổ, thì thế gian gọi nó là Khổ.

    TẬP ĐẾ luận về các nguyên nhân, các nguồn gốc và các ước vọng phát sinh từ sự ham muốn, từ lòng tham ái, tìm sự thoả mãn dục vọng và khoái lạc. Các ham muốn này dẫn đến đau khổ.

    DIỆT ĐẾ luận về hành động diệt trừ các nguyên nhân của khổ đau, tức là làm thế nào cho nguồn gốc của khổ đau phải hoàn toàn tiêu tán.

    ĐẠO ĐẾ luận về con đường Tám Nhánh dẫn đến chỗ diệt được khổ, và phương pháp đưa đến chấm dứt khổ.
     
    #1
    Tiểu NiThanks.
  2. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Đối với người thường, sự hưởng thụ dục lạc là điều hạnh phúc mà ai cũng ước mơ và cầu mong. Trong thực tế còn hơn thế nữa, chẳng những người ta cho rằng người ta được hạnh phúc khi đang hưởng dục lạc của cuộc đời, mà ngay cả khi hồi nhớ lại những khoái lạc đã trải qua, người ta cũng còn cảm thấy hạnh phúc. Người ta không hề biết rằng sự sung sướng, niềm khoái lạc và cảm giác hạnh phúc đó chỉ là tạm bợ, chỉ có được trong khoảnh khắc rồi qua đi.

    ***

    Sau khi thành đạo, Đức Phật đến vườn Nai (Lộc Uyển) và giảng thời pháp đầu tiên cho năm anh em ông Kiều Trần Như là những người đã từng tu khổ hạnh với Ngài trước kia. Đó là bài pháp về TỨ DIỆU ĐẾ, và cũng từ đó, xuyên suốt hành trình truyền bá đạo pháp của Ngài, giáo lý Tứ Diệu Đế thường được ngài nhắc lại rải rác trong các kinh, và tuỳ trường hợp, giảng dạy rộng thêm ra.

    Mục đích của đạo Phật là giải thoát con người khỏi đau khổ, cho nên mọi nổ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Giáo lý Tứ Diệu Đế là một công trình tu tập, người Phật tử sau khi hiểu rồi thì phải tự tu lấy chứ không thể nhờ cậy ai tu giúp mình, hoặc cầu xin ai ban cho mình sự giải thoát. Các giai đoạn nhận thức và thực hành Bốn Chân Lý ấy là:

    1. Đối với Khổ Đế:

    Bước đầu tiên là ta phải thấy được bản chất của mọi sự khổ. Nếu không thấy, không biết, thì sẽ không có ý muốn đoạn trừ khổ và không cương quyết có hành động diệt khổ.

    2. Đối với Tập Đế:

    Sau khi nhận diện được các nguyên nhân đưa đến đau khổ, ta mới khởi lên ý muốn đoạn trừ các nguyên nhân ấy, rồi thực hành tu tập, nỗ lực để đoạn trừ chúng.

    3. Đối với Diệt Đế:

    Hết khổ là hạnh phúc. Ta phải thấy điều đó và khởi lên ý muốn được hạnh phúc, được sự an lạc của một đời sống thanh cao. Từ đó ta mới hăng hái tìm cách thoát khổ.

    4. Đối với Đạo Đế:

    Khi nhìn thấy được con đường dẫn tới sự giải thoát khỏi mọi khổ đau thì ta mới khởi lên ý muốn và lòng cương quyết tu tập theo con đường đó.
    ***
    Đối với mỗi chân lý, chúng ta cần phải nhận thức rõ ràng. Nhận thức để hiểu rõ thì mới có ý muốn hành động. Chúng ta phải thấy rõ diễn biến của hành vi, ngôn ngữ và tư tưởng của chính mình, cái nào gây ra đau khổ, ta phải nhận diện và diệt trừ để hưởng được an bình hạnh phúc. Hạnh phúc hay đau khổ đều do nơi thái độ tâm lý của chúng ta, tức là do cái nhìn của chúng ta đối với cuộc đời.

    Con người đau khổ là vì Vô Minh. Sự mê muội làm cho con người không nhận thức được một cách đúng đắn bản chất của cuộc đời. Khổ đau là một thực tại đối với con người. Khổ, hay là hình thái của sự bất an, là một kết quả của hàng loạt nhân duyên được tạo tác từ tâm thức. Tuy nhiên, để thấu triệt các căn nguyên của khổ đau, con người không thể quay mặt chạy trốn, mà phải suy tư để soi sáng cái bản chất nội tại của nó, để rồi cương quyết diệt trừ nó. Con người lúc nào cũng có xu hướng vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không hiểu rõ tại sao lại có khổ đau, nên không tìm được lối thoát thực sự hữu hiệu.

    Sau khi đắc đạo rồi, Đức Phật thuật lại cho các đệ tử rõ là bằng cách nào mà Ngài giác ngộ.

    Ngài nói: " Này các đệ tử ! Ta lúc trẻ giàu sang như thế, lúc đó ta đang sống trong cảnh huy hoàng như thế, mà tư tưởng ta lại nghĩ như thế này:

    Người thường tục dại khờ, mặc dầu biết mình phải có lúc già nua và không thoát được khỏi năng lực của thời gian và của sự già nua, mà lại không muốn nhìn, lại chán ngán khi trông thấy kẻ khác già nua vì tuổi đời chồng chất, cơ thể suy tàn. Còn ta, ta biết rằng ta cũng phải già, không thoát được già, ta tự hỏi, trong khi mà ta cũng phải già, không thoát được già, ta có nên ghét, nên gớm, nên chán khi ta trông thấy người khác già hay không?

    Không lẽ ta như thế ! Rồi trong khi ta ngẫm nghĩ như thế riêng cho chính mình, thời, các đệ tử ơi ! Bao nhiêu những cái vui của tuổi thanh niên, bao nhiêu những cái vui ấy lại tiêu tan hết ở nơi ta !

    Người thường tục dại khờ, mặc dầu biết rằng mình phải có lúc bệnh, lại chán ngán, buồn bực khi trông thấy kẻ khác bị tật bệnh giày vò. Còn ta, biết rằng ta cũng phải có lúc chịu bệnh vì không ai thoát khỏi bệnh tật. Vậy khi đã biết rằng mình phải có lúc chịu bệnh tật và không thế nào thoát khỏi được, ta có nên ghét, nên chán, nên gớm, khi ta trông thấy người khác bị tật bệnh giày vò hay không ? Không lẽ ta như thế! Rồi trong khi ta ngẫm nghĩ như thế riêng cho bản thân mình, thời, các đệ tử ơi ! Bao nhiêu những cái vui của sự mạnh khoẻ, bao nhiêu những cái vui ấy lại tiêu tan hết ở nơi ta!

    Người thường tục dại khờ, mặc dầu biết mình phải có lúc chết và không thoát được sự chết, lại sợ, lại ghét, lại chán ngán, khi trông thấy một kẻ khác chết. Còn ta, ta nghĩ rằng ta cũng phải có lúc chết, vì sẽ không thoát được sự chết. Vậy khi biết rằng mình sẽ có lúc chết, rằng mình sẽ không thoát khỏi sự chết, mình có nên sợ, nên ghét, nên chán ngán khi trông thấy một kẻ khác chết hay không? Không lẽ ta như thế ! Rồi trong khi ngẫm nghĩ như vậy, các đệ tử ơi ! Bao nhiêu những cái vui của đời sống tiêu tan hết ở nơi ta."
     
    #2
    Tiểu NiThanks.
  3. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    1. Chân lý thứ nhất : KHỔ ĐẾ

    Khổ Đế nói lên sự thực về các nỗi khổ.

    Khổ là khái niệm quan trọng của Phật giáo, là cơ sở của Tứ Diệu Đế. Không phải những cảm thọ khó chịu mới là Khổ. Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức xuất phát từ Ngũ Uẩn, chịu dưới qui luật của sự thay đổi và biến hoại.

    Do đó mà tất cả những điều an lạc đang có cũng thuộc trong phạm vi của Khổ, vì chúng sẽ hoại diệt, mà khi niềm vui và hạnh phúc hay sự an lạc của chúng ta bị mất đi vì luật Vô Thường và Biến Hoại - một quy luật tự nhiên của tạo hoá mà không ai có thể cưỡng lại được - khi ấy chúng ta sẽ thấy khổ đau, nhớ tiếc. Vì thế nên mới nói rằng đời là bể khổ.

    Đời sống tất phải khổ. Không có người nào sống mà không trải qua, hoặc không có kinh nghiệm qua ít hay nhiều khổ. Con người phải chịu những nỗi khổ của thể xác, sống, mõi mệt, bệnh hoạn, đau ốm, già nua, bị thương tích, tàn tật và cuối cùng là cái chết. Và con người cũng phải chịu những nỗi khổ tinh thần như sự cô đơn, niềm thất vọng, lòng sợ hãi, nỗi lo âu, những điều thất bại, bối rối, giận hờn, chán ngán, ghen tương, oán hận v.v...

    Phật đã dạy : " Này các Tỳ kheo ! Sống là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, lo lắng, than thở, buồn rầu, tuyệt vọng là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, không đạt được điều mình mong muốn là khổ ".

    Khi nghe Đức Phật nói như thế, nhiều người đã hiểu lầm rằng Đức Phật có quan niệm bi quan. Sự thật không phải vậy. Đức Phật không bao giờ chủ trương bi quan, và Phật cũng không hề nói rằng trên đời này không thể có hạnh phúc. Phật chỉ nói rằng làm người thì phải chịu khổ về thể xác cũng như về tinh thần. Nhận định của Phật rất khách quan, rất đúng, và không ai có thể phủ nhận những sự thật ấy được.

    Giáo lý của Đạo Phật xuất phát từ kinh nghiệm sống của Đức Phật trên sự thật, trên một thực tế mà mọi người đều biết, đều có trải qua, và đều cố gắng phấn đấu để khắc phục. Đạo Phật đi thẳng vào điều lo âu chính yếu của mọi người trên thế gian là sự khổ đau và làm thế nào để tránh khỏi khổ.

    Khổ có ba phương diện khác nhau :

    a. Về phương diện sinh lý :

    Khổ là cảm giác khó chịu, đau đớn. Khi ta bị thương tíchhay bị đau răng, đau bụng, cảm cúm, ta cảm thấy khó chịu, đó là sự đau đớn và cái khổ của thể xác.

    b. Về phương diện Tâm lý :

    Là những nỗi khổ đau do không toại ý, không vừa lòng. Sự không vừa ý tạo nên nỗi đau đớn về tâm lý. Những mất mát, thua thiệt trong cuộc đời làm cho ta khổ. Người chúng ta thương muốn gần mà không được, người chúng ta không ưa cứ gặp gở hoài ; chúng ta muốn tiền tài, danh vọng, địa vị, nhưng không đạt được, khiến chúng ta thất vọng.
    Đó là những nỗi khổ thuộc về tâm lý.

    c. Khổ do sự chấp " có cái TA " :

    Nỗi khổ thứ ba này bao gồm hai loại khổ trên. Nói một cách tổng quát, khi ta bám víu vào thân ta thì sự khổ sẽ có mặt

    Ý niệm về "thân thể của tôi", "tình cảm của tôi", "tư tưởng của tôi"... tạo thành một cái "tôi" ham muốn, vị kỷ ; và từ đó, mọi khổ đau phát sinh. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, đều gắn liền với ý niệm về cái "tôi" ấy.

    Trong "Đạo Đức Kinh" nhà hiền triết Lão Tử đã từng nói: " Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân" nghĩa là "Tôi có hoạn nạn lớn tại vì tôi có thân".

    Tóm lại, về mặt bản chất, khổ đau là do chấp có cái "thân ta". Xét cho cùng, chính cơ thể vật chất của con người là cội nguồn của mọi khổ đau.

    Căn cứ theo kinh Phật, có thể phân ra làm ba thứ khổ căn bản và tám thứ khổ phụ thuộc.
     
    #3
    Tiểu NiThanks.
  4. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    BA THỨ KHỔ CĂN BẢN

    1. Khổ khổ: Ngoài những thứ đau khổ như sống, già, bệnh, chết (sanh, lảo, bệnh, tử), mà bản thân con người không ai có thể tránh được, còn có thêm những thứ khổ khác như :

    - Oán tăng hội khổ : Có những người hay việc mà ta giận, ta ghét và muốn tránh nhưng cứ phải gặp, phải đối diện hoài, đó là một nỗi khổ.

    - Ái biệt ly khổ : Có những người hay vật mà ta thương mến, không muốn xa lìa mà vẫn cứ bị xa lìa, đó cũng là một cảnh khổ.
    - Cầu bất đắc khổ : Có ai không đau khổ khi mà những điều mình mong cầu lại không được toại nguyện.

    Những hình thức đau khổ về thể xác và tinh thần chồng chất lên nhau, hết cái khổ này đến cái khổ khác dồn dập tới, khiến cho người đời thường than "Hoạ vô đơn chí", thật là quá khổ. Đó là những thứ khổ thuộc phạm vi Khổ-khổ

    2. Hoại khổ: Là loại khổ xuất phát từ sự hư hoại và sự tiêu diệt. Những người thân mà chúng ta thương yêu trân quý, những cảm giác hay những hoàn cảnh vui vẻ và hạnh phúc trong đời sống mà chúng ta muốn giữ mãi để hưởng thụ, những thừ đó không bao giờ kéo dài mãi được, mà sớm hay muộn cũng sẽ có sự thay đổi, chúng sẽ lần lần tự hư hoại hoặc biến mất đi. Khi có sự thay đổi ngược với ước muốn của mình như vậy, mình sẽ cảm thấy tiếc rẻ, đau buồn. Những sự thay đổi ấy phát sinh là do luật Vô Thường của tạo hoá. Nói chung, con người luôn luôn bất lực trước sức huỷ hoại của thời gian và của luật Vô Thường, nên sanh ra đau khổ khi có điều bất hạnh xảy đến cho mình. Đó là những thứ khổ thuộc phạm vi Hoại khổ.

    3. Hành khổ: Chúng ta phải chịu khổ vì mọi vật chung quanh cứ biến chuyển, dời đổi mãi. Tất cả vạn sự vạn vật (các pháp hữu vi) đều không một phút nào ở yên, và tất cả chúng ta đều bị lôi cuốn vào diễn tiến của cuộc đời, không làm sao thoát ra được. Sanh ra rồi lớn lên, lớn lên rồi già đi, già đi rồi sanh bịnh hoạn, bịnh hoạn rồi phải chết. Từng giây từng phút biến đổi, mãi mãi không ngừng.

    Trong lúc sống, chúng ta bị ngoại cảnh, thời tiết, thiên tai, giặc giã và thời gian chi phối, phá hoại, thêm vào đó, tiềm thức và mọi nhu cầu của bản năng, của dục vọng chi phối chúng ta một cách mãnh liệt trong từng ý nghĩ, từng cử chỉ và từng hành động. Chúng ta bị chúng lôi cuốn vào vòng phiền não, lo âu, đau khổ.

    Đó gọi là Hành khổ, nỗi khổ đau do sự vận hành tự nhiên của thời gian và tạo hoá.
     
    #4
    Tiểu NiThanks.
  5. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    TÁM THỨ KHỔ PHỤ THUỘC

    Khổ là những ưu sầu, khó chịu bức bách thân, tâm. Tám mối khổ thông thường của người đời là :

    1. Sinh khổ : Chữ Sinh có nhiều nghĩa.

    - Nghĩa thứ nhất là SỐNG, như nói : sinh tử (sống và chết), sinh kế (phương cách để mưu sống), sinh ký tử quy ( sống gửi thác về), sinh ly (phải lìa nhau khi còn sống), sinh lộ (con đường sống), sinh mệnh (mạng sống), sinh phần (cái mộ làm khi còn sống), sinh thời (lúc người ấy còn sống), sinh tiền (nói về người chết lúc người ấy còn sống), sinh tồn (sống còn).

    - Nghĩa thứ hai là Đẻ ra, như nói : sinh nhật (ngày sinh), sinh sản (dẻ con, đàn bà sinh đẻ), bảo sanh viện (nơi chăm sóc đàn bà sinh đẻ), giấy khai sanh (giấy chứng nhận ngày sanh) v.v... Chữ Sinh trong "Sinh Khổ" có nghĩa : Sống là Khổ.

    Chính vì cái khổ trong đời sống cho nên Thái tử Tất Đạt Đa mới lìa bỏ cung vàng điện ngọc để tìm con đường thoát khỏi cảnh khổ đó.

    Lúc còn là Thái tử, một hôm Ngài ra chơi miền ngoại ô, thấy những người làm ruộng tay lấm chân bùn, trời nắng chan chan, mồ hôi ra đầy mình, có vẻ lao khổ mệt nhọc lắm. Họ đang cày, hễ trâu đi chậm thì họ đưa roi đánh đập, khi lưỡi cày hất đất lên, lòi ra những côn trùng thì đàn chim đáp xuống mổ lấy mà ăn. Thái tử nhận thấy kiếp sống của chúng sinh sao mà khổ nhọc quá, phải lao nhọc mới có miếng ăn, phải chịu những nỗi khổ nóng, lạnh, mưa, gió của thời tiết, phải tranh giành cấu xé nhau để mà sống, loài này hiếp bức giết hại loài kia. Trước những cảnh tượng đó, Thái tử nhận định về lẽ Sinh Khổ và lấy làm thương xót cho số phận của chúng sinh. Ngài băn khoăn suy nghĩ tìm phương cách để cứu khổ cho chúng sinh.

    Trong Kinh Niết Bàn, nơi đoạn dạy quán tưởng lẽ Sinh Khổ, Ngài đã nói :
    "Này Ca Diếp ơi ! Dù cho người ta hưởng thọ đến tám muôn tuổi hay chỉ hưởng thọ có mười tuổi thì cũng đều là thọ khổ mà thôi".

    2. Lão Khổ : Lão Khổ cũng là một duyên cớ khiến cho Thái tử Tất Đạt Đa đi tu. Một buổi sáng kia, nhân ngự du ra phía cửa Đông, từ trên xe Thái tử trông thấy một cụ già đi lụm khụm, tay chống gậy, lưng đã khòm, chân lại run, răng đều rụng, râu tóc bạc phơ, ốm chỉ còn da nhăn nheo bọc lấy xương, đôi mắt hết thần, đi đứng té lên té xuống. Thái tử thấy người mà ngẫm nghĩ đến ta là một Thái tử trai trẻ, nhưng rồi cũng sẽ đến lúc già nua như thế. Thái tử rất lấy làm xúc động trước sự phá hoại của thời gian, của tuổi già. Ngài ra lệnh cho xe trở về cung, mắt và trí Ngài bị cảnh già cả, khổ não ám ảnh, làm cho Ngài trầm ngâm nghĩ ngợi mãi.

    3. Bệnh Khổ : Đau yếu, bệnh hoạn, tàn tật là khổ. Nhân một buổi sáng nọ, ngự trên xe ra cửa thành phía Nam, Thái tử trông thấy một người bệnh, mặt xanh xao, thân mình sưng phù vì bệnh phù thũng, hơi thở mệt nhọc, tay chống gậy, miệng rên hừ hừ, bước đi không vững. Thái tử nghĩ trong thế gian không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Ngài bị xúc động và cảm thấy xót thương, nghĩ ngợi đến cái khổ vì tật bệnh, quyết tìm cách làm sao cho con người thoát khỏi cái cảnh khổ vì bệnh.

    Bệnh khởi ra do nhiều duyên cớ :
    - Bởi Ngũ Uẩn không điều hoà.
    - Bởi ăn uống không dè dặt.
    - Bởi nghiệp báo từ trước.

    Bệnh có hai loại: Tâm bệnh và Thân bệnh. Số người mang Tâm bệnh nhiều hơn số người mang Thân bệnh. Đối với các chúng sanh vướng phiền não, tức là vướng Tâm bệnh, thì Phật và Bồ Tát là bậc thầy thuốc tài ba để trị các chứng bệnh ấy. Vì lòng từ bi, các vị Bồ Tát thường hiện thân làm thầy thuốc vừa trị tâm bệnh vừa trị thân bệnh cho chúng sanh. Cho nên một vị thầy thuốc có chơn tài và có lương tâm cũng đã thực hành được Bồ Tát Hạnh.

    4. Tử Khổ : Lần thứ ba dạo chơi ra cửa thành phía Tây, gặp một đám táng, tang gia theo khóc kể não ruột. Thái tử nghĩ phần đông con người lúc sắp chết đều cảm thấy khổ. Nhiều người vì bệnh hành thân nên đau đớn, lại thêm phần luyến tiếc tài sản và lo âu cho những người thân yêu còn ở lại trần gian sau khi mình chết đi, cho nên họ thấy chết là khổ. Lần đó Thái tử cảm xúc vô hạn, trở về cung, ăn ngủ không yên.

    5. Oán Tăng Hội Khổ : Gặp gở hay phải ở gần kẻ tiểu nhân mà ta không hạp, hoặc gặp kẻ ta chán ghét, hoặc gặp cảnh mà ta không muốn nhìn thấy, sẽ làm cho ta khổ.

    6. Ái Biệt Ly Khổ : Xa lìa người mình thương yêu, khiến sanh lòng mong nhớ nên khổ. Như vợ xa chồng, con lìa cha, đôi bên cứ thương nhớ nhau mãi nên thấy mình đau khổ vì chẳng được sum hiệp.

    7. Cầu Bất Đắc Khổ : Lòng tham của chúng sanh thì không cùng. Những điều ham muốn, ước ao, mà chẳng được toại ý thì cảm thấy khổ. Khi nghèo thì muốn được no ấm, được no ấm rồi thì muốn được giàu sang. Vì muốn được thêm mãi như thế cho nên con người đã tự tạo khổ cho chính mình.

    Cầu bất đắc khổ có hai loại :
    - Những điều mình hy vọng, mình muốn lắm, nhưng chẳng đạt được, hoặc mình đã ra sức cực nhọc làm lụng nhưng chẳng đem lại kết quả mong muốn, như đi buôn bị lỗ vốn hay là cày cấy mà bị thất mùa. Đó là những việc mong cầu nhưng chẳng được thuận lòng nên khổ. Những việc nghịch ý mà mình mong cầu tránh xa, mà lại tránh không được nên khổ.

    8. Ngũ Uẩn Xí Thạnh Khổ : Năm Uẩn hiệp lại thành con người (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nếu không điều hoà, có phần nào thạnh quá cũng khổ.

    (Sắc) Như hình hài không bình thường, mập quá, ốm quá, mang tật nguyền, phải tốn công săn sóc, cũng khổ.

    (Thọ) Xúc cảm quá làm cho tâm thần dao động cũng khổ.

    (Tưởng) Mơ ước suy nghĩ quá lắm cũng khổ.

    (Hành) Nhọc nhằn tâm trí tính mưu liệu kế quá cũng khổ.

    (Thức) Nhọc nhằn tâm trí suy nghĩ để thấu hiểu, và đánh giá phải trái, hay, dở của các ấn tượng do giác quan mang lại cũng khổ.

    Đó là tám mối khổ thông thường của con người. Khi chúng ta rõ biết cuộc đời vui ít buồn nhiều và hễ càng ham muốn nhiều thì lại càng đau khổ nhiều, chúng ta sẽ biết hạn chế dục vọng của chúng ta để tránh khỏi đau khổ vì tham cầu mà chẳng được. Chúng sanh trên đời không bao giờ biết đủ cho nên lúc nào cũng muốn được thêm, vì thế lao nhọc và đau khổ từ đó mà ra.
     
    #5
    Tiểu NiThanks.
  6. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    CHÂN LÝ THỨ HAI : TẬP ĐẾ

    Phật giảng về Tập Đế để chỉ cho con người thấy rõ những gì đã kết tập lại để sanh ra đau khổ, tức là chỉ rõ nguồn gốc của đau khổ từ đâu ra.

    Biết khổ là gì, chưa đủ để diệt khổ. Muốn diệt khổ tận gốc phải tìm nguyên nhân phát sanh ra khổ. Thay vì tìm cách chạy trốn khổ đau theo thói quen của con người, Tập Đế đề nghị chúng ta phải quay lại tìm kiếm các nguyên nhân, tức là các phiền não đã gây ra khổ đau để diệt tận gốc.

    Phiền não thì rất nhiều thứ, nhưng nói hẹp lại có mười "phiền não căn bản" là :

    1. Tham : tham nghĩa là ham muốn thái quá, ham hưởng những điều sung sướng thế tục như tiền bạc, của cải, nhà cửa, sắc dục. Cố cho được nhiều mà không biết tự kềm chế. Lòng ham ấy chẳng hề biết chán, càng được thì càng ham, nên gọi là Tham.

    Tham Ái : Ái là thương yêu, ham muốn, ưa thích. Ái chỉ mọi ham muốn xuất phát từ sự tiếp xúc của giác quan với đối tượng của giác quan đó.

    Ái bao gồm cả hai lãnh vực vật chất và tinh thần. Sự ham muốn đó biểu lộ bằng tâm vướng bận. Chính Ái đã tạo ra nguyên nhân của khổ đau, tạo sự thèm muốn, đam mê, khao khát đối với khoái lạc giác quan. Chính sự khao khát, ham muốn, thèm thuồng xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau đó đã làm phát sinh ra khổ đau.

    Con người dựa trên sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà cảm nhận. Sự cảm nhận đó gọi là Thọ, và Thọ gây ra Ái.

    Ái không phải là nguyên nhân đầu tiên, mà nó tuỳ thuộc vào Thọ, và Thọ phát sinh là nhờ có Xúc, và cứ thế tiếp nối nhau theo một vòng tròn gọi là Duyên Sinh.

    Tuy Ái không phải là nguyên nhân duy nhất của Khổ, nhưng nó lại là nguyên nhân rõ rệt nhất, dễ thấy nhất. Trọng tâm của Ái là ý niệm sai lầm về Ngã.

    Trong giai đoạn Phật giáo nguyên thuỷ, người ta nghĩ rằng Ái là nguyên nhân duy nhất của Khổ, và vì vậy nên xem nó là nguyên nhân của sinh tử, luân hồi. Về sau người ta thấy rằng thoát khỏi Ái chưa đủ, mà cần phải dứt bỏ sự Chấp Ngã mới được giải thoát.

    Ngã là gốc của Ái, vì mọi thứ liên quan đến Ngã đều dễ sinh ra Ái. Nếu lìa được cái "Ta" và cái "của Ta" thì Ái không còn. Chúng sanh vì Luyến Ái không hợp tình, không hợp lý, tức là do nhận thức và phán đoán không đúng đắn, nên có ý tưởng sai lầm dẫn đến hành động sai trái. Đó là nguồn gốc của Khổ.

    Do Tham Ái nên sinh lòng khát khao thèm muốn, cố bám víu vào các mục tiêu của tham ái, và cứ ôm giữ các đối tượng ấy để hưởng. Sự khao khát sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ biết thoả mãn. Tham Ái là một năng lực tinh thần rất mạnh, luôn ngủ ngầm bên trong tất cả mọi người, và nó là nguyên nhân của bao điều bất hạnh trong đời. Chính Ái làm cho ta đeo níu sự sống dưới mọi hình thức, và do đó, dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi sanh tử.

    Trong thế gian vô minh này, Tham là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Kẻ thù độc hiễm nhất của nhân loại là lòng Tham. Tất cả mọi nghiệp dữ đều do lòng Tham gây nên.

    Lòng Tham bắt nguồn từ đâu ?

    a/ Từ ngoại cảnh : Trên thế gian này, bất cứ nơi nào có điều vui thích và có sự khoái lạc, thì tại nơi ấy lòng ham muốn của con người phát sinh và trỗi dậy.

    b/ Từ sáu căn : Tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý là nơi thâu nhận các cảm giác, lại dễ bị nhiễm xấu, cho nên sáu căn ấy có khả năng kích thích làm cho dục vọng phát sinh và trỗi dậy.

    c/ Từ xúc cảm vật chất : Âm thanh, mùi vị, nữ sắc, và sự tiếp xúc da thịt, thân thể, đều gây được cảm giác thú vị vật chất, nên kích thích được lòng ham muốn của con người.

    d/ Từ xúc cảm tinh thần : Giác quan giao cảm, sự suy tư và phán đoán, sự nhận biết, ý muốn và lòng tham đã gây cảm xúc cho con người, nên lòng ham muốn phát sinh từ những cảm xúc nội tại ấy.

    Vì tham vọng, muốn đạt cho được những điều ước mong để thoả mãn lòng khao khát vô biên, con người không ngại tranh giành, gây gổ, lường gạt, phản bội, cướp bóc, cưỡng đoạt, giết hại nhau để chiếm đoạt mục tiêu, để rồi đưa nhau đến khổ đau bằng những thương tích vật chất lẫn tinh thần.

    Cũng vì dục vọng thúc đẩy mà ở kiếp này người tạo ra ác nghiệp phải đền tội theo luật pháp của thế gian, và sau khi chết còn phải bị đoạ vào vực thẳm của địa ngục. Tất cả những đau khổ ấy đều do chính mình tự tạo ra cho mình !

    Khi xét đến những đau khổ về tinh thần, chúng ta càng thấy rõ lòng Tham và Dục Vọng đã tạo khổ cho con người đến thế nào.
     
    #6
    Tiểu NiThanks.
  7. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    2. Dục Vọng : Dục Vọng là năng lực tinh thần nằm sẵn bên trong tất cả mọi người. Nếu những điều ước muốn của chúng ta không được toại nguyện, thì chúng ta cảm thấy đau buồn, thất vọng. Bị bắt buộc phải sống trong môi trường mà mình không thích, sẽ làm cho mình đau khổ. Những nghịch cảnh xảy đến bất ngờ cũng làm ta lo âu, khổ não. Khi chúng ta muốn người khác cư xử với chúng ta theo ý muốn của mình, mà họ không làm như vậy được, thì chúng ta sẽ cảm thấy tức giận, oán hờn. Khi chúng ta muốn người khác ưa thích, trọng vọng chúng ta, mà họ không làm theo ý mình muốn, thì chúng ta cảm thấy lòng tự ái bị tổn thương, bực tức, khó chịu.

    Đức Phật dạy ta phải biết phân biệt những điều nào là nhu cầu thiết yếu cho sự sống, và những điều nào là ham muốn thặng dư để được thêm, được nhiều, do lòng tham và dục vọng thúc đẩy.

    Một nguyên nhân khác, sâu hơn, chính là sự mê muội, không biết rằng bản chất của mọi sự mọi vật và các hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh ra, đều chuyển biến và không bền vững, không thể còn hoài.

    Do "chấp ngã" mới lầm tưởng rằng "cái tôi" là quan trọng nhất, là cái "có thực" cần phải bám níu, củng cố và thoả mãn nhu cầu của nó. Nói cách khác, do vô minh mà chấp thủ cái "tôi" và cái "của tôi" và từ đó sanh ra những nỗi thống khổ của cuộc đời.

    Chúng ta luôn luôn lựa chọn. Hoặc vui thích với những gì vừa ý, hoặc ghét bỏ những điều phật lòng. Vừa ý thì luyến ái, bám níu. Trái lòng thì bất mãn, tức giận, xua đuổi, oán ghét, thù hằn. Lòng tham thường thúc dục ta bám níu vào đối tượng ham muốn, như ham sống lâu, ham giàu có, ham vợ đẹp, con khôn, ham vui sướng và tìm mọi phương cách để thoả mãn những điều mong ước. Tuy nhiên nhờ chuyên chú suy niệm, một ngày nào đó chúng ta sẽ nhận thức được rằng những ham muốn vật chất mà thuở nào ta tưởng chừng như là điều kiện tất yếu của đời sống, thật ra chúng chỉ là tạm bợ và ngắn ngủi. Đến chừng ấy tự nhiên ta sẽ lần hồi chấm dứt mọi hình thức tham lam và luyến ái, và một ngày tươi đẹp kia, chúng ta sẽ hoàn toàn dập tắt được lửa tham.

    Khổ đau là do tâm lý của con người được xây dựng trên nền tảng của "cái tôi", rồi từ nơi "cái tôi" đó, tham lam, sân hận và si mê trỗi dậy. Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không khổ là do mình. Do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng ngự trị và khuấy động, thì cuộc đời sẽ đầy an lạc và hạnh phúc.

    3. Sân : là lòng giận dỗi, bất bình, nóng nảy, khó chịu vì bị xúc phạm, rồi nhân lòng giận ấy người ta thường làm những chuyện quấy bậy. Sân cũng là mối oán thù, sau cơn giận dữ thì giữ lại lòng oán ghét thù hằn, tìm dịp để hại kẻ mình oán ghét. Kinh Duy Ma Cật có nói: " Dùng đức Nhẫn thì thâu phục được cái Sân của mình và của người ".

    4. Si : cũng gọi là Vô minh, là tâm tánh ám muội, xu hướng vào đường sai lạc. Tất cả phiền não đều do lòng si mà phát khởi. Theo quan niệm của đạo Phật thì con người bị sáu Thức (của năm giác quan thông thường và ý thức) làm mê hoặc, si mê. Tâm trạng vướng mắc vào sáu thức nói trên, dẫn dắt con người đi vào cõi mê, bởi vì chúng tạo điều kiện làm cho con người dễ tin rằng thế giới hiện hữu là sự thực tuyệt đối. Mục đích của đạo Phật là tiêu diệt Si mê qua kinh nghiệm Giác ngộ.
     
    #7
    Tiểu NiThanks.
  8. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    5. Mạn : cũng gọi là Ngạo Mạn, Kiêu Mạn, là kiêu ngạo, tự cao, tự khoe mình có tài, có trí. Vì tánh kiêu mạn nên không chịu học hỏi thêm và thường làm nhiều điều sai quấy đưa đến khổ đau cho mình và cho người.

    6. Nghi : nghĩa là nghi ngờ, có thái độ lãnh đạm, thiếu nhiệt thành. Nghi có nhiều lẽ : Hoặc vì không hạp với tư tưởng và trình độ hiểu biết của mình, hoặc vì ngoài sức tưởng tượng của mình, hoặc vì thấy lạ lùng mà đem lòng nghi hoặc. Nghi ngờ lành mạnh được hiểu như một thái độ thận trọng, không vội tin những gì người khác hay kinh sách nói, mà phải tìm hiểu và thực nghiệm, thì lại là một đức hạnh mà chính Phật cũng khuyên nên có.

    7. Thân kiến : cũng gọi là Ngã kiến, là ý kiến chấp có thân mình, chấp có cái ta, cho rằng thân tâm mình thật có và bền vững, rồi sanh ra ích kỷ, tham lam, đố kỵ, chỉ biết có mình và chỉ lo cho mình. Vì vậy mà sanh ra khổ não, lo âu.

    8. Biên kiến : tức là ý kiến thiên về một bên, là vọng chấp, là tà kiến, là không đúng. Biên kiến gồm Thường Kiến và Đoạn Kiến. Thường kiến là ý kiến cho rằng thân tâm chẳng diệt, còn hoài. Đoạn kiến là có ý nghĩ rằng thân tâm con người chỉ qua một đời là dứt hết, chẳng có chi là tội, phước, luân hồi. Hễ chết là hết, là đoạn diệt, là không còn nghiệp cũ phải trả tiếp cho đến hết, hoặc không còn lại phước cũ để hưởng tiếp trong kiếp sau. Phật nói hai ý Thường kiến và Đoạn kiến đều là Biên kiến, là thấy không đúng như thực.

    9. Kiến thủ : cũng gọi là Chấp kiến, là cứ khư khư giữ sự hiểu biết và cái nhìn sai, cái bậy của mình, do không đủ sáng suốt để nhận thấy là mình sai, hoặc vì tự ái nên không chịu thay đổi.

    10. Giới cấm thủ kiến : nghĩa là làm theo lời răn cấm một cách thiếu sáng suốt, không biết tuỳ nghi uyển chuyển. Ví dụ như một tu sĩ, thấy một một người thiếu nữ đang lâm nạn, biết rằng mình cứu được, mà nệ mình là đàn ông và là người tu hành, người ta là đàn bà con gái cho nên chẳng chịu đến bồng hay cõng người ta ra khỏi nơi hoạn nạn vì sợ phạm giới luật. Đó gọi là Giới cấm thủ kiến.

    11. Tà kiến : là thấy, hiểu hay tin sai lầm theo những ý kiến không đúng theo Chân lý, không chánh đáng.
     
    #8
    Tiểu NiThanks.
  9. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    CHÂN LÝ THỨ BA : DIỆT ĐẾ

    Nếu không muốn tự tạo cho mình nhiều đau khổ thì phải biết hạnh phúc vật chất chỉ là sự thoả mãn của những ước vọng thế tục, mà những ước vọng thế tục, thì không bao giờ được thoả mãn trọn vẹn, bởi vì lòng ham muốn của con người không có giới hạn. Lòng ham muốn và dục vọng được kềm chế bằng ý chí cương quyết hay được buông thả theo thị hiếu hưởng thụ thường tình, sẽ có ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống của con người tại kiếp này cũng như ở những kiếp sau. Chỉ khi nào dứt được lòng ham muốn thế tục, tức là lòng khao khát hay Tham Ái, là nguồn gốc của mọi sự khổ đau, thì con người mới tự giải thoát được khỏi cảnh luân hồi sinh tử.

    Phật đã chỉ cho chúng ta một bí quyết để có thể diệt khổ và tìm hạnh phúc vĩnh cửu. Bí quyết đó là : Tiêu diệt tất mọi dục vọng, từ bỏ hết mọi điều ham muốn theo thói thường của thế tục, và từ bỏ mọi sự khao khát hưởng thụ vật chất. Làm được như vậy là hoàn toàn tự giải thoát tất cả những nguồn gốc gây ra đau khổ.

    Dù trong quá khứ, trong hiện tại hay trong tương lai, người nào biết giảm lòng ham muốn, biết xem những thú vui, những sự thoả thích và những khoái lạc của trần thế là không vĩnh cửu, là nguồn gốc của mọi thứ khổ và sầu đau, thì người ấy sẽ thắng được dục vọng, và nhờ vậy diệt được mầm móng của khổ đau.

    Người đam mê vì dục vọng, cuồng loạn vì giận dữ, mù quáng vì vô minh, sẽ đánh mất đi sự an ổn của thân tâm mình, sẽ tự làm cho mình đau khổ về thể xác lẫn tinh thần, đồng thời còn làm cho người khác đau khổ theo.

    Nhưng nếu biết diệt trừ dục vọng, diệt trừ sân si và mọi quan niệm sai lầm khác, thì con người sẽ tránh được mọi điều đau khổ.

    Diệt là trừ khử, là chấm dứt.

    Diệt Đế là sự chấm dứt, hay làm tiêu tan những nguyên nhân đưa đến đau khổ. Cái cần phải tận diệt ở đây là cái "Ngã", nó được phô diễn qua mọi hình thái của Tham, Sân, Si.

    Đạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác định là có an lạc, hạnh phúc. Vì vậy mà có sự tu tập để đạt hạnh phúc, và Hạnh Phúc có nhiều mức độ khác nhau.

    a. Hạnh phúc tương đối : Một khi ta đã lắng dịu được lòng tham ái và lòng ham chiếm hữu, thì những nỗi lo âu, bất an giảm hẳn, tâm của ta trở nên thanh thản, đầu óc ta tỉnh táo. Đó là một hình thức của hạnh phúc.

    Nhờ tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng ham chiếm hữu, nhờ không phiền muộn, không lo lắng, không sợ hãi, mà ta trở nên trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật sâu sắc và chính xác hơn, và tâm được chuyển hoá, không còn chấp cái "Ta" nữa. Chừng đó mới nhận thức được rằng tất cả đều là tạm bợ, và tất cả đều nằm dưới sự chi phối của định luật Vô Thường. Lúc ấy tham và sân tự nhiên không còn nữa, thái độ đối với mọi người sẽ độ lượng, bao dung và khiêm tốn hơn, của cải, tài sản, danh vọng không còn là một thứ áp lực đè nặng như trước. Tuỳ vào khả năng giảm thiểu lòng tham, tánh sân hận và sự vô minh đến mức độ nào thì tâm hồn của ta sẽ được tăng phần hạnh phúc lên đến mức độ ấy.

    b. Hạnh phúc tuyệt đối : Hạnh phúc tuyệt đối là trạng thái an lạc khi tâm ý không còn tham, sân, si.
     
    #9
    Tiểu NiThanks.
  10. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    CHÂN LÝ THỨ TƯ : ĐẠO ĐẾ

    Đạo Đế là con đường dẫn đến sự chấm dứt Khổ. Con đường đó gồm có tám phương cách tu tập chân chánh để thoát khỏi mọi khổ đau của cuộc sống, nên gọi là Bát Chánh Đạo.

    Ngoài con đường này, không có con đường nào khác có thể đưa con người đến sự trong sạch và giúp con người dứt hết mọi đau khổ để đạt được chân hạnh phúc.

    Bát Chánh Đạo gồm có:
    1. Chánh ngữ
    2. Chánh nghiệp
    3. Chánh mạng
    4. Chánh tinh tấn
    5. Chánh niệm
    6. Chánh định
    7. Chánh tư duy
    8. Chánh kiến

    Tám yếu tố này làm phát sinh ba khía cạnh cốt yếu trong việc tu tập là : Giới, Định và Huệ.

    1. GIỚI

    Tu giới được xây dựng trên quan niệm về tình thương đối với tất cả mọi loài. Một con người muốn toàn thiện phải có hai đức tính Bi và Trí.

    Bi có nghĩa là lòng thương, lòng bác ái, sự tử tế, khoan dung.

    Trí tượng trưng cho những đức tính của khối óc.

    Nếu chỉ Bi mà không có Trí thì dễ trở thành người ngu dốt tốt bụng, ngược lại nếu chỉ dùng tri thức mà bỏ quên cảm xúc, thì dễ trở thành người có Trí mà có tim sắt đá, không biết cảm thương kẻ khác.

    Muốn tu Giới phải thực hành ba phương cách của Bát Chánh Đạo là : Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng.

    - CHÁNH NGỮ : Chánh là chân chánh. Ngữ là lời nói. Tu tập theo con đường Chánh Ngữ là lúc nào cũng nói những lời chân chánh, nghĩa là không nói những lời đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù. Không nói dối, không nói trả đũa và vu khống, không nói đâm thọc làm cho người này phiền giận, thù hằn, ghét bỏ hay gây gổ với người kia. Không nói lời thô bỉ, vô lễ, ác độc, không nói lời mách lẻo, nhảm nhí. Người đã tận diệt tham vọng tất nhiên không thể có lời nói phỉ báng vì một mục đích ích kỷ nào, mà luôn luôn chân thành, luôn luôn nói lên cái đẹp cái tốt của người khác, hơn là nói dối, vu oan, sỉ nhục, gây chia rẽ.

    Người đượm nhuần tâm Từ không thể có lời nói thô lỗ cộc cằn để làm suy giảm giá trị của chính mình và gây tổn hại cho người khác. Lời lẽ của người giàu lòng từ ái không những chân thật dịu dàng mà còn đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết, hoà hợp, thương yêu và lợi ích.

    - CHÁNH NGHIỆP : Tu tập theo con đường Chánh Nghiệp là thực hành những hành vi hợp đạo đức, chân chánh, tạo thiện nghiệp. Hành động hợp đạo đức là không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không làm những chuyện phi pháp. Tâm ý thanh tịnh, hành vi hợp đạo đức, thì đời sống trong sạch.

    - CHÁNH MẠNG : Tu tập theo con đường Chánh Mạng là giữ cho đời sống của mình đúng đắn, nghĩa là phương tiện mưu sinh phải chân chính, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo. Giữ thân, khẩu, ý trong sạch, cố gắng sống đời lương thiện, lánh xa năm nghề tạo nghiệp xấu là buôn bán khí giới, làm nghề giết gia súc, bán vật thực có chất say và buôn bán độc dược.
     
    #10
    Tiểu NiThanks.
  11. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    2. ĐỊNH

    Muốn tu Định phải thực hành ba phương pháp của Bát Chánh Đạo là : Chánh Tinh Tấn, chánh Niệm và Chánh Định.

    Chánh Tinh Tấn : Tutập theo con đường Chánh Tinh Tấn là giữ ý chí mạnh mẽ, nỗ lực đoạn trừ các điều ác và nỗ lực thực hành các điều thiện.

    a- Cố gắng không cho các điều ác đó phát sanh.

    b- Cố gắng tiêu trừ các điều ác đang phát sanh hoặc chưa phát sanh.

    c- Cố gắng làm cho các điều lành phát sanh.

    d- Cố gắng trau dồi các điều thiện đã phát sanh.

    Chánh Tinh Tấn rất quan trọng. Chính sự cố gắng liên tục là yếu tố cần thiết để giải thoát chứ không phải nương nhờ hay van vái ai mà được giải thoát. Bên trong mọi người đều có một kho tàng đức hạnh cao thượng và một hầm tật xấu đê hèn.

    Chánh Tinh Tấn là tuyệt trừ tật xấu và cố gắng vun bồi tánh tốt. Chánh Tinh Tấn là chú tâm kiểm soát thân, khẩu, ý của mình.

    Chánh Niệm : Là sự chú ý , nhớ nghĩ chân chính, nghĩa là không nhớ nghĩ đến những điều quấy ác. Tâm ý luôn luôn nghĩ đến những điều thiện, và để ý xem tâm mình có tham dục hay không, có vọng tưởng hay không, để kịp thời ngăn chận không cho các đối tượng bất chính dẫn dắt mình.

    Chánh Định : Tu tập theo con đường Chánh Định là tập Thiền Định để nhập vào bốn cảnh Thiền gọi là Tứ Thiền, là bốn giai đoạn tham thiền, chuyển dần từ chổ chán cái vui vật chất của người trần tục, để đến cái vui thanh tịnh hơn.

    Tu theo thứ tự của bốn giai đoạn Thiền nói trên để gạt bỏ tất cả mọi sự xúc động, cho tâm được an tịnh và sáng toả để có thể diệt trừ vô minh và thoát khỏi vòng luan hồi sanh tử.

    Bốn giai đoạn ấy là :

    a/ Sơ Thiền. Là giai đoạn đầu của Thiền. Trong giai đoạn này những dục vọng, đam mê, và những tư tưởng không lành mạnh như tham dục, thù hận, biếng trễ, lo âu, bất an, và hoài nghi được loại bỏ, và người tu Sơ Thiền khởi đầu nhận biết sự ô trược cùa cõi Dục và quyết chí xa lìa.

    Sau khi nhờ tham thiền mà xa lìa được ô trược, người tu sẽ cảm thấy vui mừng và cái mừng ấy gọi là "Ly, sanh hỷ lạc" (Xa lìa được ô trược, sanh ra vui mừng).

    Như thế là đạt được kết quả của giai đoạn Sơ thiền.

    b/ Nhị Thiền. Nỗi vui mừng nói trên làm cho tâm người tu bị dao động vì vui. Sự dao động ấy cũng cần phải dứt trừ. Vì thế nên người tu phải cố gắng định cái tâm của mình lại. Khi định tâm được rồi cái vui của Sơ Thiền không còn, nhưng một thú vui lại nảy sanh, do biết rằng mình đã định được cái tâm của mình rồi. Cái vui mới đó gọi là "Định, sanh hỷ lạc" (Định được tâm nên sanh ra vui mừng).

    c/ Tam Thiền. Sự vui mừng vì biết rằng mình đã định được tâm ở giai đoạn Nhị Thiền vẫn còn làm cho tâm rung động, vì thế người tu cần bỏ luôn cái vui của Nhị Thiền. Nhưng sau khi bỏ được cái vui của Nhị Thiền thì một nỗi vui khác lại phát sinh, gọi là "Ly hỷ, diệu lạc" (Lìa bỏ được các niềm vui là một điều thích thú tuyệt diệu).

    d/ Tứ Thiền. Giai đoạn Tam Thiền, tuy đã hết các niềm vui của Sơ Thiền và Nhị Thiền nhưng lại có cái vui tuyệt diệu của Tam Thiền, mà hễ còn vui thì tâm chưa thanh tịnh. Vì vậy mà người tu Thiền còn phải tiến thêm lên một bậc nữa là bỏ luôn mọi ý niệm vui mừng để cho tâm được hoàn toàn thanh tịnh, gọi là "Xả niệm, thanh tịnh" (Bỏ tất cả mọi ý niệm để cho tâm thanh tịnh). Nhờ thế tâm được huấn luyện, nhờ Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.
     
    #11
    Tiểu NiThanks.
  12. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    3. HUỆ.

    Muốn tu Huệ phải thực hành hai phương cách của Bát Chánh Đạo là : Chánh Tư Duy và Chánh Kiến.

    - Chánh Tư Duy : Tư duy là nhận thức, nghĩ tưởng, định tâm trọn vẹn vào một vấn đề gì đó để suy xét, phán đoán cho thấu lý, cho ra lẽ. Ví dụ nghe thuyết pháp, đọc kinh sách rồi suy xét những điều mình đã nghe, đã đọc.

    Chánh tư Duy là sự suy xét về đạo lý, chiêm nghiệm quán môn dứt khổ và giải thoát.

    - Chánh Kiến là sự thấy biết mọi sự đúng thực chất của nó, là nhận thấy rằng thế giới và vạn vật đều Vô Thường, Vô Lạc và Vô Ngã.

    1. Vô Thường : Vô Thường có nghĩa là không thể còn hoài. Trong thế gian tất cả mọi sự mọi vật đều sanh, diệt, biến đổi, lưu chuyển không ngừng nên gọi là Vô Thường.

    Tâm niệm của con người cũng Vô Thường, dời đổi từng giây từng phút theo cảm xúc nội tại và theo ngoại cảnh. Đang buồn thoạt vui, đang thương thoạt giận, phút trước nghĩ nhớ việc này, phút sau nghĩ nhớ việc khác. Cái Tâm niệm của con người vô thường và điên đão như vậy mà chúng sanh cứ bám vào nó, cứ nhân danh nó, để tham lam của cải, tài sản, danh lợi dù có phải tạo nhiều sự bất công hay gây đau khổ cho người khác để đạt mục đích cũng không cần lưu ý đến. Thật là một sai lầm lớn.

    Những người chưa hiểu rõ lẽ Vô Thường nên mới có ý nghĩ sai lầm, coi mọi sự, mọi vật là thật, là bền, là còn mãi mãi cho mình, rồi sanh ra trìu mến, thương, ghét, oán, giận, ham muốn để kết cuộc tự tạo cho mình nhiều phiền não.

    Trong Kinh Niết Bàn, quyển 10, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thưa vói Phập rằng : Như những vật ở thế gian, trước thì không, nay thì có rồi trở lại không, những vật nhu vậy đều là Vô Thường.

    Kinh Nghi Thức Bồ Tát Giới có câu:

    " Nhân mạng Vô Thường, quá ư sơn thuỷ,
    Kim nhật tuy tồn, minh nhật nan bảo".

    Nghĩa là : Mạng người không bền bỉ và không thể còn hoài, biến đổi còn mau hơn nước chảy trên nan. Hôm nay dẫu còn, ngày mai khó giữ!

    Từ những vật nhỏ nhất như cát bụi hoặc những ý tưởng trong tâm, cho đến những vật lớn như thế giới, sông núi, biển, tất cả đều bị chi phối bởi luật Vô Thường. Khi nhìn vào bản thân của chính mình chúng ta sẽ thấy rằng thân của chúng ta cũng Vô Thường. Thân của chúng ta thay đổi không ngừng. Chúng ta không thể tránh khỏi trở thành già nua, cằn cổi, răng rụng, râu bạc và tóc rụng. Trạng thái tinh thần của chúng ta cũng vậy. Có lúc chúng ta vui, có lúc chúng ta buồn. Khi còn nhỏ chúng ta ngây thơ trong trắng, khi trưởng thành, bước vào đời thì chúng ta hiểu biết và có thêm kinh nghiệm, già giặn hơn. Đến lúc về già, chúng ta mất đi sức mạnh của thể chất, kém đi sức mạnh của tinh thần. Thân xác của chúng ta bị chi phối bởi Vô Thường. Mọi sự, mọi vật chung quanh ta cũng đều Vô Thường, không có cái gì có thể còn hoài.

    Những mối liên hệ với người khác cũng không thoát khỏi luật Vô Thường. Thù có thể trở thành bạn và bạn có thể trở thành thù. Thương đó rồi ghét đó. Tình bằng hữu bị thương tổn hay chấm dứt, vì chúng ta không chấp nhận những sự thay đổi hành vi hay thay đổi thái độ của người bạn hữu. Hôn nhân tan vỡ vì một bên hay cả hai bên không nhường nhịn được nhau. Sở dĩ như vậy vì chúng ta có thói quen giữ chặt ý kiến của mình vì nghĩ mình là đúng nhất, phải nhất.

    Của cải cũng Vô Thường. Những vật mà chúng ta quý, chúng ta thích, như nhà cửa, xe cộ, áo quần, vật dụng tất cả những thứ ấy cũng đều Vô Thường vì chúng sẽ cũ, sẽ tàn và sẽ hư.

    Hiểu được bản chất của sự vật. Nhìn thấy mọi sự, mọi vật thay đổi từng giây phút để rồi cuối cùng sẽ tàn lụi, chúng ta ý thức được rằng sự vật tự nó không có một tự-thể hiện hữu vững bền, rằng trong ta và trong mọi vật quanh ta không có cái gì gọi là CUẢ TA cả, và không có cái gì còn hoài cho chúng ta cả.

    2. Vô Lạc: không có gì gọi là vui sướng, phần nhiều là khổ não.

    3 Vô Ngã: Theo đạo Phật không có một cái gì không biến đổi hay là có thể tồn tại độc lập trong thế gian. hoặc có thể còn hoài. Như thế, cái Ngã, cái ' tôi' , cũng chỉ là một tập hợp của nhóm "ngũ uẩn", luôn luôn thay đổi, mất mát, và vì vậy, "ngã" chỉ là một sự giả hợp. Sự ràng buộc vào cái "ngã" chỉ là một sự giả hợp. Sự ràng buộc vào cái "Ngã, Ta, Tôi" là nguồn gốc của mọi thứ khổ đau.

    Vô Ngã có hai nghĩa:

    A/ Nghĩa thứ nhất là không có tự thể, không có tự tánh.

    B/ Nghĩa thứ hai là có quan niệm và nhận rằng mình, người, mọi người và mọi vật không có một cái thể nhất định, không phải là một chủ thể còn hoài.

    Có 2 thứ Vô Ngã : Nhơn vô ngã và Pháp vô ngã

    Nhơn vô Ngã : là hiểu rằng không thật có mình, không thật có người, không thật có chúng sanh, chỉ là uẩn tạm hợp mà thôi. Hiểu như vậy thì dứt phiền não, không còn mê tối vì các sự buồn rầu hờn giận.

    Pháp vô ngã : là hiểu rằng mọi sự, mọi vật trên thế gian đều do nhân duyên mà thành chứ chẳng phải tự có, hay thật có.

    Người nào nhận thức được rằng mình với chúng sanh và mọi sự vật đều Vô Ngã đều không thật có, thì sẽ dứt tham,sân, si, và thân tâm trở nên an lạc.
     
    #12
    Tiểu NiThanks.
  13. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Pháp vô ngã : là hiểu rằng mọi sự, mọi vật trên thế gian đều do nhân duyên mà thành chứ chẳng phải tự có, hay thật có.

    Người nào nhận thức được rằng mình với chúng sanh và mọi sự vật đều Vô Ngã đều không thật có, thì sẽ dứt tham, sân, si, và thân tâm trở nên an lạc.

    Vô ngã là sự từ bỏ ý niệm cho rằng Ta là một thực thể thường còn và không thay đổi.

    Tại sao chúng ta cần từ bỏ ý niệm về cái Ta ? Chúng ta sẽ được lợi lộc gì khi từ bỏ cái ấy ? Nói khác đi, hiểu được Vô Ngã có lợi gì ?

    Điều lợi thứ nhất là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái hơn, cởi mở hơn, bởi vì khi nào còn chấp chặt vào cái Ta thì khi ấy chúng ta còn phải bận tâm lo bảo vệ thân ta, bảo vệ tài sản của cái của ta, uy tín của ta v.v... Những lo âu ấy làm cho tâm thần của ta không thanh tĩnh, không được an lạc.

    Điều lợi thứ hai là hiểu được Vô Ngã tức là nắm được chìa khoá mở cửa giác ngộ. Chấp ngã đồng nghĩa với Mê lầm, mà Mê lầm là căn bản của ba thứ ô trược là Tham, Sân, Si. Một khi đã tự nhận một cách sai lầm rằng Ta là một thực thể, chúng ta tạo một sự phân chia giữa Ta và người khác và giữa Ta cùng mọi sự vật chung quanh. Từ đó sanh ra so bì, ưa thích cái nầy, ghét bỏ cái kia, rồi chọn lựa và đưa tới sai lầm kế tiếp là cho rằng mọi sự vật sẽ còn hoài cho ta, nên sanh lòng ham muốn, để kết cuộc tự đưa mình vào vòng phiền não.

    Ai hiểu được Chân Lý Vô Ngã đều thấy rõ Vô Ngã không phải là điều đáng sợ, trái lại nó giúp ta tự giải thoát được khỏi tánh ích kỷ là lúc nào cũng nghĩ đến mình, đến Ta và của Ta.

    Vô tịnh : Không có chi là tinh sạch.

    Khi có được Chánh Kiến, người tu bèn lo thoát mình ra khỏi vòng luân hồi và hướng về Chân lý giải thoát. Bởi vậy Chánh Kiến rốt cuộc là thấy và hiểu Tứ Diệu Đế. Sự hiểu biết nầy là trí tuệ cao cả nhất, thấy được thực tại tối hậu.

    Theo Phật giáo có hai thứ hiểu : Cái gì ta hiểu một cách thông thường thì gọi là tri thức, do trí nhớ tích trữ, là sự lãnh hội của tri thức về vấn đề tuỳ theo những chi tiết đã có được. Nó không sâu sắc lắm.

    Sự hiểu biết sâu sắc thực sự gọi là sự thâm nhập, thấy biết sự vật trong bản chất của nó, sự thâm nhập này chỉ có thể có khi tâm đã sạch mọi thứ ô nhiễm và hoàn toàn phát triển nhờ Thiền Định.

    Nếu hiểu rõ về Bát Chánh Đạo, ta có thể thấy rằng đó là một lối sống mà mọi người nên theo, thực hành và phát triển. Đó là con đường dẫn đến sự thực chứng chân lý tối hậu, dẫn đến hạnh phúc và bình an, nhờ sự hoàn thiện về đạo đức, tâm linh và tri thức.

    Bát Chánh Đạo là phép tu rất được thông dụng. Sự thông dụng này sở dĩ có được là nhờ lợi ích thiết thực và quý báu đối với đời sống cá nhân của người tu hành, cũng như đối với xã hội. Có thể tóm tắt những lợi ích của Bát Chánh Đạo như sau :

    a. Cải thiện chính mình : Nếu tu theo tám đường chánh này, thì sửa đổi được tất cả mọi sự bất chính, ngăn chặn được mọi hành vi có thể gây ra tội lỗi trong đời sống hiện tại của mình, như ý niệm mê mờ, lời nói đảo điên, hành vi sai quấy. Khi những điều trên đã được cải thiện, thì cuộc đời riêng của mọi người sẽ chân chính, lợi lạc và thiện mỹ.

    b. Cải thiện hoàn cảnh : Nếu trong xã hội ai ai cũng đều chuyên tu theo tám đường Chánh Đạo này, không những có nhiều lợi lạc trong cuộc đời hiện tại mà còn gây tạo cho mình một tương lai tươi sáng, gieo trồng cho mình những hạt giống Bồ Đề để sau náy gặt hái quả Vô Thượng Niết Bàn.

    Vì những lợi ích quý báu như thế, chúng ta nên phát nguyện và cương quyết tu theo Bát Chánh Đạo.

    - HẾT -

     
    #13
    Tiểu NiThanks.

Chia sẻ trang này