Kiến Lập Mạn Trà La Hộ Ma Nghi Quỹ

Thảo luận trong 'MẬT TÔNG' bắt đầu bởi ChânKhông, 27 Tháng mười một 2012.

  1. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Mật Tạng Bộ 1_ No.912 (Tr.929_ Tr.934)

    KIẾN LẬP MẠN TRÀ LA HỘ MA NGHI QUỸ
    (PHÁP TOÀN)
    Phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH

    Ngày đầu tiên: Dùng Tính Như Lai gia trì thân mình với cúng dường, cảnh giác
    Địa Thần, chọn bỏ các vật ác trong đất, đắp đất khiến cho thật chặt
    Ngày thứ hai: Ở bên trong Đàn, đào sâu một khuỷu tay, dùng Bất Động Minh
    gia trì nhóm năm thứ báu, xếp đặt vị trí của Thánh Tôn.Dùng Bạch Đàn chấm vị trí của
    năm Đức Phật, bốn vị Bồ Tát
    Ngày thứ ba: Để các bình, dùng Bất Động Minh gia trì 108 biến
    Ngày thứ tư: Chiều tối, tiếp đến dùng Hương Thủy Chân Ngôn 108 biến, sau
    đó rưới vảy khiến cho sạch sẽ (sái tịnh)
    Ngày thứ năm: Hộ Thân, cúng dường. Dùng Bất Động hoặc Giáng Tam Thế
    108 biến, tiếp đến dùng Trị Địa Minh
    Ngày thứ sáu: Ban đêm, Thầy với Đệ Tử tắm gội, mặc áo sạch, đi đến Đàn như
    Pháp cúng dường cùng với Ấn Tướng, ứng dùng bàn tay ấn đè Trung Thai, trì Minh
    một lần thì ấn đè một lần cho đến bảy lần. Vị trí của các Tôn cũng dựa theo đây
    Ngày thứ bảy: Tiếp theo dạy bảo Đệ Tử: Tam Quy, Sám Hối, phát Tâm Bồ
    Đề
    _ Cúi đầu quy mệnh lễ
    Tất cả Bạc Già Phạm (Bhagavaṃ: Thế Tôn)
    Với Pháp, các Bồ Tát
    Mật Tích Đại Phẫn Nộ
    Vì lợi tu Du Già (Yoga)
    Mau thành Đại Tất Địa (Mahā-siddhi)
    Lìa xa các lỗi lầm
    Dựng lập Mạn Trà La (Maṇḍala:Đàn Trường)
    Kèm bày Pháp Hộ Ma (Homa)
    _ Người khéo trụ Du Già (Yoga)
    Trước dùng Tịnh Pháp Giới
    An lập Khí Thế Gian (Bhājana-loka)
    Quán Tâm Diệu Bồ Đề
    Thân đồng với Tát Đỏa (Satva)
    Màu như pha lê biếc
    Trụ ở Yết Ma Luân (Karma-cakra)
    Dùng Đại Chân Ngôn Vương
    Đầy khắp chi phần thân
    Chữ Ám (鉞:Āṃ) ngay đỉnh đầu
    Khiếm (丈:Khaṃ), Ám (珃:Aṃ) tai trái phải
    Tại trán tên là Ác (珆:Aḥ)
    Tảm (戌:Saṃ), Sách (戍:Saḥ) tại hai vai
    Ham (曳:Haṃ), Hạc (有:Haḥ) làm họng, tim
    Lam (劣:Raṃ) Lạc (匈:Raḥ) làm rốn, eo
    Tông (圳:Vaṃ), Phộc (地:Vaḥ) đùi, bàn chân
    Ba chỗ Đệ Sư Đàn
    Như Pháp dùng gia trì
    Biến khắp thành vòng lửa (diễm man)
    Gặp ngày, thời phận tốt
    Tú Diệu đều tương ứng
    Thực tiền, tướng cát tường
    Nên chọn lựa nơi đất
    Trừ bỏ các xấu ác
    Trước, lễ các Như Lai
    Cảnh Phát với Địa Thần
    Nên nói Kệ như vầy
    (Phạn văn như Thai Tạng)
    [Tvaṃ devī sākṣi putāsi
    Sarva buddhāna tāyināṃ
    Caryā naya viśaitta
    Bhūmi pāramitā suca
    Māra-senyaṃ yathā bhagnaṃ
    Śākya-siṃhena tāyina
    Tatha ahaṃ māra jayaṃ-kṛtva
    Maṃḍalaṃ leḥ likhāmyahaṃ]
    “Ngài, Thiên Nữ hộ giúp
    Nơi chư Phật, Đạo Sư
    Tu hành Hạnh thù thắng
    Tĩnh Địa Ba La Mật
    Như phá chúng Ma Quân
    Thích Sư Tử cứu thế
    Ta cũng giáng phục Ma
    Ta vẽ Mạn Trà La”
    _ Trường quỳ (quỳ thẳng lưng) duỗi tay phải
    Án đất, luôn tụng Kệ
    Dùng nhóm hương xoa, hoa…
    Cúng dường Phật Bồ Tát
    Với quyến thuộc Địa Thần
    Rưới vảy nước thơm sạch
    Rồi lại trị đất ấy
    Địa Thần trì thứ tự
    Chân Ngôn là:
    “Án, bộ, khiếm”
    湡 鉓 廜
    Oṃ bhuḥ khaṃ
    _ Kim Cương Phộc mở chưởng (lòng bàn tay)
    Ngửa đè, tập hăm mốt (21)
    Che đè cũng như vậy
    Liền thành đất bền chắc
    Quét, rưới vảy, lau xoa (trước bảy ngày )
    .....
    _ Sập tối, cầm hương hoa
    Một mình đến Đàn Xứ
    Hướng Đông, cầm lò hương
    Tụng Kệ Khải Thỉnh Địa
    “Chư Phật thương yêu loài hữu tình
    Nguyện xin lưu niệm nơi chúng con
    Nay con thỉnh bạch chư Hiền Thánh
    Kiên Lao Địa Thiên (Dṛḍha-pṛthivī) kèm quyến thuộc
    Tất cả Như Lai với Phật Tử
    Chẳng bỏ Bi Nguyện đều giáng lâm
    Con trao đất này, cầu thành tựu
    Xin hãy chứng minh, gia hộ con” (3 lần)
    _ Ân cần phụng thỉnh xong
    Thánh Chúng vân tập khắp
    Đại Nhật: thân thanh tịnh
    Vòng khắp cả Pháp Giới
    Mười phương Phật cũng vậy
    Ba nghiệp chí thành lễ
    _ Quỳ hai gối, thẳng lưng
    Định (tay trái) cầm chày Kim Cương
    Dựng thẳng ngang trái tim
    Tuệ Thủ (tay phải) duỗi năm ngón
    Bình chưởng (lòng bàn tay bằng phẳng) đè mặt đất
    Như trước Cảnh Phát Địa Thần
    Mỗi tụng, mỗi lần đè
    Tập nơi Bản Chân Ngôn (108 biến)
    Nên chí thành khải cáo (trình bày với bậc bên trên)
    “Ngưỡng bạch chư Như Lai
    Các chúng Đại Bồ Tát
    Thanh Văn với Duyên Giác
    Trời, Rồng và tám Bộ
    Nhóm Linh Kỳ (Thần của trời đất) nơi này
    Con [họ tên…(tùy theo việc mong cầu mà trình bày)] y Giáo Trì Minh Tạng
    Trì Chân Ngôn của Tôn (tên gọi của Tôn…)
    Vì cầu Đạo vô thượng
    Muốn ở trong đất này
    Dựng lập Mạn Trà La (Maṇḍala:Đàn Trường)
    Kèm tu hành Niệm Tụng
    Nguyện Tôn nhớ Bản Thệ
    Hứa cho con dựng lập
    Hộ trợ con, đừng để
    Thiên Ma, Quỷ Thần ác
    Não loạn gây chướng nạn
    Thích Ca (Śākya-muṇi) dưới cây Đạo (cây Bồ Đề)
    Giáng phục chúng Ma Oán
    Nay con cũng như thế
    _ Nếu có các chướng nạn
    Nguyện chư Phật Bồ Tát
    Chỉ con tướng lúc trước (tiên tướng)
    Đừng để cho Quỷ Thần
    Giả dối hiện mê hoặc
    Nếu không có chướng nạn
    Nguyện thấy cảnh tốt lành”
    _ Lặng yên mà an tọa
    Trì Bản Chân Ngôn Minh
    Một ngàn hoặc một trăm
    Nên lìa các tư tưởng
    Đủ số xong, ngủ yên
    Chuyên chú Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta)
    Vành trăng, ngọc Như Ý
    Trong ngoài sáng trong suốt
    Thành tựu, chẳng thành tựu
    Đều hiện ở gương tim
    Người chẳng khéo, cưỡng làm
    Tự chiêu vời tổn hại
    _ Tiên Tướng (tướng lúc trước) khéo dựng lập
    Đến ngay trong Đàn Xứ
    Xếp vuông vức một khuỷu (1 khuỷu tay)
    Đào xuống, bỏ gạch đá
    Lấp đất, nện bằng phẳng
    Nghiệm tướng hư, thật ấy
    _ Người có thể dựng lập
    Bất Động Mẫu Nại La (Bất Động Ấn)
    Trăm tám (108) hộ đất ấy
    Sau đó nên đào chung (tổng quật)
    Thiêu (cái mai, cái thuỗng) Ấn: Kim Cương Phộc
    Dựng Thiền Trí (2 ngón cái) Tiến Lực (2 ngón trỏ)
    [​IMG]
    Chân Ngôn là (21 biến)
    “Án, nễ khư na, phộc tô đề, sa-phộc hạ”
    湡 市几巧 向鉏奴 送扣
    Oṃ_ nikhana vasudhe svāhā
    _ Lựa bỏ các uế ác
    Chẳng thể thế đất sạch
    Lớp lớp rưới nước thơm
    Bằng phẳng như gương sạch
    Tâm Đàn để năm báu
    Là vàng, bạc, trân châu
    Sắt sắt (đá báu màu xanh biếc), báu pha lê
    Linh Dược là Xích Tiễn
    Nhân Sâm và Phục Linh
    Xương Bồ, Thiên Môn Đông
    Lúc đậu, đại tiểu mạch
    Nhóm đậu xanh, hạt mè (hồ ma)
    Trầm Hương, Đàn (Đàn hương), Đinh Hương
    Hương: Uất Kim, Long Não
    Đầy trong vật vàng bạc
    Địa Thiên dùng kết hộ (108 biến)
    Nước thơm hòa Cồ Di (Gaumayī: phân bò)
    Vô Năng Thắng gia trì (Hoặc Mã Đầu Minh Vươn
    Đồ Địa Chân Ngôn là:
    (從東北隅右旋塗拭蓮子華蜀葵葉茅香墨土相和如
    (Từ góc Đông Bắc, xoay theo bên phải lau xoa. Hạ
    hương, mực, đất…cùng hòa nhau như Pháp, lau m
    “Án, ca la lê (1) ma ha ca la lê, sa-phộc hạ”
    湡 一全同 亙扣 一全同 送扣
    Oṃ_ Karāle mahā-karāle svāhā
    Tảo Địa Chân Ngôn là: (lại rưới vảy nước thơm)
    “Án, hạ la hạ la, tổ ngật-la, hạ noa dã, sa-phộc hạ”
    湡 扣先 扣先 先冗奇 扣先仗伏 送扣
    Oṃ_ hāra hāra, raja-ugra-ahāraṇiya svāhā
    _ Bạch Đàn xoa Tôn Vị (vị trí của Tôn)
    Biện Sự Minh ngàn biến
    Tiếp dùng Từ Bi quán
    Quán niệm các chúng sinh
    Tập nơi Cam Lộ Minh
    Tưởng vị trí từ Tâm
    Trú xứ của Đạo Sư
    Tám cánh theo Ý sinh
    Hoa sen thật nghiêm lệ
    Trong vành trăng tròn đầy
    Không dơ như gương sạch
    Nơi ấy thường an trụ
    _ Chân Ngôn Cứu Thế Tôn
    Màu vàng tỏa lửa sáng
    Hại Độc Trụ Tam Muội
    Như mặt trời, khó nhìn
    Các Nhân Giả cũng thế
    Ở trong gương tròn ấy
    Tự thấy thân tướng ấy
    Ngang đồng với thân Phật
    (tác Quán này, trước tiên quán duyên bên ngoài, sau đó dẫn vào thân của mình)
    _ Hành Giả tại Phật Thất
    Đỉnh kế, trăm ánh sáng
    Chiếu khắp vô biên cõi
    Khéo điều hòa Tâm Khí
    Liên tụng (tụng liên tục) A Tự Minh (珃:Aṃ)
    Mội hơi cho đến ba
    Tận sức, nên niệm tụng
    _ Tâm chạm biết, tương ứng
    Lìa tất cả phân biệt
    Từ Thể Tịnh Pháp Giới
    Dựng lập Mạn Trà La
    Đỉnh lễ nơi Thế Tôn
    Với Bát Nhã Phật Mẫu
    _ Tiếp, điều hòa màu sắc
    Hộ dùng, không thể hại
    Vận bày các Thánh Tôn
    Mà vẽ thân trang nghiêm
    _ Tiếp bày nơi Hộ Ma (Homa)
    Pháp vi mật thành tựu
    Liền ở Tịnh Thất mới
    Dựng lập nơi Đạo Trường
    Đặt bày diệu hương hoa
    Chân thành mà cúng dường
    _ Y Pháp, kết Tịnh xong
    Tức Tai (Śāntika) và Tăng Vinh (Puṣṭika:Tăng Ích)
    Kính Ái (Vaśīkaraṇa) với Giáng Phục (Abhicāruka)
    Uy Thần chẳng thể lường
    Hay hồi (trở về) Tâm trời đất
    Công dụng không bờ mé
    Mở lớn, chứa Phước linh
    Các Đàn cúng lửa ấy
    Gia lâm mà rất nhiều
    Tùy loại, cầu các Nguyện
    Mỗi mỗi đều sai khác
    _ Hộ Ma (Homa) lược hai loại
    Ấy là Nội (bên trong) với Ngoại (bên ngoài)
    _ Nói Nội Hộ Ma là
    Do các chúng sinh ấy
    Đều từ Nghiệp sinh ra
    Tịnh Trừ nơi Nghiệp ấy
    Tức là được giải thoát
    Hay thiêu đốt Nghiệp cũ
    Ấy là Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta)
    Tên là Nội Hộ Ma
    Như lửa Thế Gian ấy
    Đốt vật thành tro tàn
    Nay, đây tức chẳng thế
    Làm Trí mạnh bén (của) mình
    Đốt tất cả phiền não
    Như lửa của Kiếp Thiêu
    Không có chỗ tàn dư
    Ba nơi đồng một Thể
    _ Đại Đàn tức Hộ Ma
    Hộ Ma tức thân mình
    Thân mình tức Hỏa Thiên (Agni)
    Hỏa Thiên tức Đại Nhật (Vairocana)
    Thân miệng ý hòa hợp
    Ba bình đẳng không khác
    Đầy đủ nơi ba Thân
    Lượng vòng khắp Pháp Giới
    Chẳng sinh cũng chẳng diệt
    Lìa nói, lìa tướng nói
    Sinh cùng với không sinh
    Đều là Đại Nhật Tôn
    Quán ở A Tự Môn
    (Nghĩa vốn chẳng sinh tức là Tâm Bồ Đề. Nay muốn hiển thấy thì dùng
    phương tiện nào để được thấy)
    _ Hoặc Chướng (một trong bốn loại chướng ngại) đã ngăn che
    Nhập vào Trí mạnh bén
    Giáp vòng thành lửa sáng
    Như Kiếp Hỏa rực rỡ
    Cầm Đao với sợi dây
    Thiêu đốt Nghiệp phiền não
    Nhóm Vô Minh (Avidya), Chu Ngột (sự sai lầm)
    Chẳng còn có dư sót
    _ Tiếp quán Tâm Bồ Đề
    Dùng nước Đại Bi gội (mộc: thấm gội, gội đầu)
    Nên tưởng trong khắp thân
    Chảy rót Cam Lộ trắng
    Rưới khắp mười phương cõi
    Các chúng sinh nóng bức
    Sinh trưởng mầm Bồ Đề
    Thứ tự sinh các con
    (Đây là Ngũ Luân Tự (chữ) thành Phật Thân)
    Tức tên là Pháp Thân
    Bí Mật Nội Hộ Ma”
    _ Lại nữa, Thế Tôn nói
    “Ta thành Bồ Đề rồi
    Diễn nói mười hai loại
    Lửa Trí” Lửa đầu tiên
    Tên Đại Nhân Đà La (Mahendra)
    [Tức tên gọi riêng của Kim Luân. Làm hình chày Kim Cương, t ức chỗ ngồi
    vuông vắn. Chỉ quán trong Đàn Tứ Giác có Bản Tôn]
    Tuệ Quang (ánh sáng Tuệ) Tâm Bồ Đề
    Hình vuông, màu vàng rực (hoàng kim)
    [Biểu thị tòa Kim Cương]
    Tôn ấy rất đoan nghiêm
    Vòng hoa lửa vây quanh
    Trụ Tịch Tam Ma Địa
    (Đây tức là Tỳ Lô Giá Na cũng là Nội Hỏa, nghĩa của Pháp Thân. Bên dưới đều
    dựa theo đây)
    Quán xong, dùng Mật Ngôn
    Hay thành tất cả việc
    Thuận đời, lò Đàn vuông
    Vật cúng đều màu vàng
    _ Thứ hai: lửa Hạnh Mãn
    Hình tượng như trăng Thu
    Sáng tỏ vòng khắp cả
    Thân, áo màu trắng tinh
    Nguyệt Luân Mạn Trà La
    Cầm Châu (viên ngọc) với Quân Trì (Kuṇḍikā:bình chứa nước tắm rửa)
    Trừ: nước, lửa, trùng, sương
    Bệnh tật thân ta người
    Mọi loại tai họa ác
    Tâm do dự chẳng định
    Lửa này hay Tịnh Trừ
    _ Thứ ba tên Ma Lỗ (Marūta)
    Hình sắc rất khô đen
    [Như lửa giáng phục của nhóm Đồ Hôi (Bhasman:nhóm Ngoại Đạo dùng tro
    bôi khắp thân]
    Phong Luân, Đàn bán nguyệt
    Thế cầm lụa, gió thổi
    Nói người tu hành kia
    Tâm Số (Tâm tính toán) Nghi (nghi ngờ), tiến lùi
    Là Vọng Hoặc (mê hoặc sằng bậy) vô thủy
    Gốc phiền não chưa trừ
    Thường quấy nhiễu ràng buộc
    Dùng thêm Ám Chướng che
    Số (Tâm tính toán) y đây đốt trừ
    Tan hoại, đuổi Trọng Vân (Mây chồng chất)
    _ Thứ tư: Lô Hề Đa (Rohita)
    Tướng thân hình đoan mãn
    Tam Giác, vòng lửa sáng
    Mặt trời sớm màu đỏ
    Cầm đao, tướng giận dữ
    _ Thứ năm: Một Lật Noa (Mṛḍa)
    Tôn hình màu vàng nhạt
    Trên thân Tì (râu ria), Mấn (tóc mai), Phát (tóc)
    Đỉnh có Đại Uy Quang
    Mắt, trái: giận, phải: vui
    Màu, trái: đỏ, phải: vàng
    Ngồi Tam Giác bên trái
    Định (tay trái): đao, Tuệ (tay phải) cầm chày
    Hay thành hai loại việc
    Nhiếp Triệu và Tức Tai
    _ Thứ sáu: lửa Phẫn Nộ (Krodha)
    Tôn hình màu lửa rực
    Nhắm một mắt, gầm lớn
    Trên dưới hiện nanh chó
    Đầu tóc rối cao vót
    Hai việc: lửa và nước
    _ Thứ bảy tên Ôn Phước (Jaṭhara)
    Tức Đại Bát Niết Bàn
    Nhanh chóng, rất phẫn nộ
    Chữ Ắc (Aḥ:珆) đủ năm màu
    _ Thứ tám tên Phí Háo (Kṣaya)
    Màu như gom mọi điện
    Rất khó nhìn ngó được
    Ngồi trong Kim Cương Luân
    Hay trừ khiển Chướng nặng
    Với quyến thuộc Đỉnh Hạnh
    _ Thứ chín lửa Ý Sinh
    Tôn này tùy ý thành
    Mọi loại thân Phổ Môn
    Đại Lực Tự Tại Tuệ
    _ Thứ mười: Yết La Vĩ (Kravyādā)
    Bên tay phải Tôn ấy
    Tiếng Tịnh Hạnh Án Ấn
    _ Thứ mười một (Bản Phạn thiếu mất tên gọi)
    _ Mười hai: Mô Hạ Na (Mohana)
    Tôn hình, lửa Kiếp Tai
    Đạo Trường giáng phục Ma
    Nếu các loài hữu tình
    Làm ác chẳng thể ngưng
    Khuyến Đạo (khuyên nhủ mở lối), tăng chuyển đổi
    _ Lửa này hay Tịnh Trừ
    Phương tiện dùng chế phục
    Mê Hoặc khiến không biết (Ý mật)
    Dần dần dẫn vào Đạo
    _ Tiếp bày bốn Vi Mật
    Nghi Quỹ nên tu tập
    Bản Tôn Chân Ngôn Ấn
    Thân, miệng, ý tương ứng
    Ba vị hòa hợp đúng
    Mà làm các sự nghiệp
    Do ngoài dẫn vào trong
    Nghĩa Lý không sai biệt
    _ Tức Tai (Śāntika) đầu đêm khởi
    Tăng Ích (Puṣṭika), mặt trời mọc
    Trung (giữa ngày) Giáng Phục (Abhicāruka) mãnh lợi
    Câu Triệu (Akarṣāya) tất cả thời
    Ban đêm làm Kính Ái (Vaśīkaraṇa)
    Phiến Để Ca (Śāntika) Tịch Tai
    Thông minh với sống lâu
    Kèm Pháp trừ chướng nạn
    _ Năm sao (Mộc diệu, hỏa diệu, thổ diệu, kim diệu, thủy diệu) đã lấn bức
    Mọi loại các tai nạn
    Miệng lưỡi (khẩu thiệt) với đấu tranh
    Cung vua đã bức bách
    Trong ngoài chẳng hòa thuận
    Bảy Diệu (7 vì sao: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, La Hầu, Kế Đô) trái độ thường
    Gió mưa chẳng đúng thời
    Bệnh dịch với mất mùa
    Quỷ Mỵ, việc chẳng lành
    Khi tai nạn ấy khởi
    Ngồi chéo đùi, hướng Bắc
    Dựng gối (đầu gối) trước đùi phải
    Quần áo phải trắng tinh
    Ăn uống, hương, hoa, đất
    Đèn, đuốc cũng như thế
    Vành trăng bày Chân Ngôn
    Văn tự cũng màu trắng
    Trụ ba Giải Thoát Quán (Không, Vô Tướng, Vô Nguyện)
    _ Vào Không Tam Ma Địa (Śūnyatā-samādhi)
    Vận Tâm vòng Pháp Giới
    Mở rộng, không một Pháp
    Trong phút chốc, lắng Tâm
    Diệt trừ tất cả Kiến (Dṛṣṭi)
    Chưa trừ nơi Không Chấp (cố chấp vào Lý nghiêng về Không)
    Vào Vô Tướng Tam Muội (Animitta-samādhi)
    Lìa tất cả tướng ấy
    _ Tiếp Vô Nguyện Tam Muội (Apraṇihita-samādhi)
    Nơi Trí Chân Như (Tathatā-jñāna) ấy
    Lìa tướng, vốn rỗng lặng
    Cũng không nơi nguyện cầu
    _ Từ Tam Ma Địa (Samādhi) khởi
    Tưởng kỹ giữa ức, tim
    Viên Minh (ánh sáng như cái gương tròn) rộng một khuỷu (tức Tâm Bồ Đề)
    Giống như ánh trăng Thu
    Sáng trong, ngửa tại tim
    _ Tiếp quán miệng Bản Tôn
    Câu bí mật đã trì
    Rõ ràng thành đường chữ (chữ tạo thành con đường)
    Nhập vào miệng Du Kỳ (Yogi: người tu Du Già)
    Văn tự xoay bên phải
    Bày ở vành trăng tim
    Mỗi chữ, màu vàng ròng
    Tôn ra ánh sáng lớn
    Thân Tâm chẳng tán động
    Nhập vào A Tự Môn
    Tức ở mỗi một chữ
    Suy nghĩ nghĩa Thật Tướng
    Đây tên Tam Muội Niệm
    _ Trước kèm Quy Mệnh tụng
    Hăm mốt (21) mới trừ bỏ
    Từ Án (Oṃ) khởi đầu tiên
    Cho con (họ tên…) trừ tai họa
    Sa Phộc Hạ (Svāhā) cuối cùng
    Vốn không gặp thêm việc
    _ Niệm tụng dùng tiếng nhỏ
    Nên tu Ý vắng lặng
    Hộ Tôn (Pāla-nātha) tướng phẫn nộ
    _ Nếu người làm Hỏa Đàn
    Đào hình lò ấy tròn (hoặc vuông)
    Một khuỷu, sâu nửa khuỷu
    Đáy lò, bùn làm Luân (Cakra: bánh xe)
    Luân ấy đủ tám căm
    Lượng bằng một Trách tay [một gang tay](cao một ngón tay)
    Bốn đoạn (tiết) làm Chu Giới (giới hạn chung quanh)
    _Tô Đàn thuần màu trắng (hương khác dựa theo đây)
    Cỏ tranh tốt trên thềm
    Tùy ngày, xoay bên phải
    Dùng gốc che mầm ấy
    Hoặc bày mọi màu sắc
    Sáng đỏ rất nghiêm lệ (trang nghiêm đẹp đẽ)
    Tất cả việc vẽ, thành
    Đốt hương Trầm, đèn bơ
    Các hoa quả tươi đẹp
    Thức ăn uống…cúng dường
    Đầu tháng đến mồng tám
    Tam Dư (3 loại tàn dư của Phiền não, Nghiệp, quả báo) thời Hộ Ma
    Tâm Từ (Maitra-citta) sinh vui vẻ
    Ngoái nhìn ở tất cả
    _ Nơi lược Hộ Ma đấy
    Nên trì Biện Sự Minh (hoặc Bất Động)
    Dùng Cát Lý Minh Vương (Kilikila-vidya-rāja)
    Kết Hộ, gia trì vật
    Tuệ vũ (tay phải) Không (ngón cái) đè Địa (ngón út)
    Duỗi Ba La Mật (các ngón tay) khác
     
    #1
  2. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    “Án, hạ la hạ la, tổ ngật-la, hạ noa dã, sa-phộc hạ”
    湡 扣先 扣先 先冗奇 扣先仗伏 送扣
    Oṃ_ hāra hāra, raja-ugra-ahāraṇiya svāhā
    _ Bạch Đàn xoa Tôn Vị (vị trí của Tôn)
    Biện Sự Minh ngàn biến
    Tiếp dùng Từ Bi quán
    Quán niệm các chúng sinh
    Tập nơi Cam Lộ Minh
    Tưởng vị trí từ Tâm
    Trú xứ của Đạo Sư
    Tám cánh theo Ý sinh
    Hoa sen thật nghiêm lệ
    Trong vành trăng tròn đầy
    Không dơ như gương sạch
    Nơi ấy thường an trụ
    _ Chân Ngôn Cứu Thế Tôn
    Màu vàng tỏa lửa sáng
    Hại Độc Trụ Tam Muội
    Như mặt trời, khó nhìn
    Các Nhân Giả cũng thế
    Ở trong gương tròn ấy
    Tự thấy thân tướng ấy
    Ngang đồng với thân Phật
    (tác Quán này, trước tiên quán duyên bên ngoài, sau đó dẫn vào thân của mình)
    _ Hành Giả tại Phật Thất
    Đỉnh kế, trăm ánh sáng
    Chiếu khắp vô biên cõi
    Khéo điều hòa Tâm Khí
    Liên tụng (tụng liên tục) A Tự Minh (珃:Aṃ)
    Mội hơi cho đến ba
    Tận sức, nên niệm tụng
    _ Tâm chạm biết, tương ứng
    Lìa tất cả phân biệt
    Từ Thể Tịnh Pháp Giới
    Dựng lập Mạn Trà La
    Đỉnh lễ nơi Thế Tôn
    Với Bát Nhã Phật Mẫu
    _ Tiếp, điều hòa màu sắc
    Hộ dùng, không thể hại
    Vận bày các Thánh Tôn
    Mà vẽ thân trang nghiêm
    _ Tiếp bày nơi Hộ Ma (Homa)
    Pháp vi mật thành tựu
    Liền ở Tịnh Thất mới
    Dựng lập nơi Đạo Trường
    Đặt bày diệu hương hoa
    Chân thành mà cúng dường
    _ Y Pháp, kết Tịnh xong
    Tức Tai (Śāntika) và Tăng Vinh (Puṣṭika:Tăng Ích)
    Kính Ái (Vaśīkaraṇa) với Giáng Phục (Abhicāruka)
    Uy Thần chẳng thể lường
    Hay hồi (trở về) Tâm trời đất
    Công dụng không bờ mé
    Mở lớn, chứa Phước linh
    Các Đàn cúng lửa ấy
    Gia lâm mà rất nhiều
    Tùy loại, cầu các Nguyện
    Mỗi mỗi đều sai khác
    _ Hộ Ma (Homa) lược hai loại
    Ấy là Nội (bên trong) với Ngoại (bên ngoài)
    _ Nói Nội Hộ Ma là
    Do các chúng sinh ấy
    Đều từ Nghiệp sinh ra
    Tịnh Trừ nơi Nghiệp ấy
    Tức là được giải thoát
    Hay thiêu đốt Nghiệp cũ
    Ấy là Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta)
    Tên là Nội Hộ Ma
    Như lửa Thế Gian ấy
    Đốt vật thành tro tàn
    Nay, đây tức chẳng thế
    Làm Trí mạnh bén (của) mình
    Đốt tất cả phiền não
    Như lửa của Kiếp Thiêu
    Không có chỗ tàn dư
    Ba nơi đồng một Thể
    _ Đại Đàn tức Hộ Ma
    Hộ Ma tức thân mình
    Thân mình tức Hỏa Thiên (Agni)
    Hỏa Thiên tức Đại Nhật (Vairocana)
    Thân miệng ý hòa hợp
    Ba bình đẳng không khác
    Đầy đủ nơi ba Thân
    Lượng vòng khắp Pháp Giới
    Chẳng sinh cũng chẳng diệt
    Lìa nói, lìa tướng nói
    Sinh cùng với không sinh
    Đều là Đại Nhật Tôn
    Quán ở A Tự Môn
    (Nghĩa vốn chẳng sinh tức là Tâm Bồ Đề. Nay muốn hiển thấy thì dùng
    phương tiện nào để được thấy)
     
    #2
  3. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    _ Hoặc Chướng (một trong bốn loại chướng ngại) đã ngăn che
    Nhập vào Trí mạnh bén
    Giáp vòng thành lửa sáng
    Như Kiếp Hỏa rực rỡ
    Cầm Đao với sợi dây
    Thiêu đốt Nghiệp phiền não
    Nhóm Vô Minh (Avidya), Chu Ngột (sự sai lầm)
    Chẳng còn có dư sót
    _ Tiếp quán Tâm Bồ Đề
    Dùng nước Đại Bi gội (mộc: thấm gội, gội đầu)
    Nên tưởng trong khắp thân
    Chảy rót Cam Lộ trắng
    Rưới khắp mười phương cõi
    Các chúng sinh nóng bức
    Sinh trưởng mầm Bồ Đề
    Thứ tự sinh các con
    (Đây là Ngũ Luân Tự (chữ) thành Phật Thân)
    Tức tên là Pháp Thân
    Bí Mật Nội Hộ Ma”
    _ Lại nữa, Thế Tôn nói
    “Ta thành Bồ Đề rồi
    Diễn nói mười hai loại
    Lửa Trí” Lửa đầu tiên
    Tên Đại Nhân Đà La (Mahendra)
    [Tức tên gọi riêng của Kim Luân. Làm hình chày Kim Cương, t ức chỗ ngồi
    vuông vắn. Chỉ quán trong Đàn Tứ Giác có Bản Tôn]
    Tuệ Quang (ánh sáng Tuệ) Tâm Bồ Đề
    Hình vuông, màu vàng rực (hoàng kim)
    [Biểu thị tòa Kim Cương]
    Tôn ấy rất đoan nghiêm
    Vòng hoa lửa vây quanh
    Trụ Tịch Tam Ma Địa
    (Đây tức là Tỳ Lô Giá Na cũng là Nội Hỏa, nghĩa của Pháp Thân. Bên dưới đều
    dựa theo đây)
    Quán xong, dùng Mật Ngôn
    Hay thành tất cả việc
    Thuận đời, lò Đàn vuông
    Vật cúng đều màu vàng
    _ Thứ hai: lửa Hạnh Mãn
    Hình tượng như trăng Thu
    Sáng tỏ vòng khắp cả
    Thân, áo màu trắng tinh
    Nguyệt Luân Mạn Trà La
    Cầm Châu (viên ngọc) với Quân Trì (Kuṇḍikā:bình chứa nước tắm rửa)
    Trừ: nước, lửa, trùng, sương
    Bệnh tật thân ta người
    Mọi loại tai họa ác
    Tâm do dự chẳng định
    Lửa này hay Tịnh Trừ
    _ Thứ ba tên Ma Lỗ (Marūta)
    Hình sắc rất khô đen
    [Như lửa giáng phục của nhóm Đồ Hôi (Bhasman:nhóm Ngoại Đạo dùng tro
    bôi khắp thân]
    Phong Luân, Đàn bán nguyệt
    Thế cầm lụa, gió thổi
    Nói người tu hành kia
    Tâm Số (Tâm tính toán) Nghi (nghi ngờ), tiến lùi
    Là Vọng Hoặc (mê hoặc sằng bậy) vô thủy
    Gốc phiền não chưa trừ
    Thường quấy nhiễu ràng buộc
    Dùng thêm Ám Chướng che
    Số (Tâm tính toán) y đây đốt trừ
    Tan hoại, đuổi Trọng Vân (Mây chồng chất)
    _ Thứ tư: Lô Hề Đa (Rohita)
    Tướng thân hình đoan mãn
    Tam Giác, vòng lửa sáng
    Mặt trời sớm màu đỏ
    Cầm đao, tướng giận dữ
    _ Thứ năm: Một Lật Noa (Mṛḍa)
    Tôn hình màu vàng nhạt
    Trên thân Tì (râu ria), Mấn (tóc mai), Phát (tóc)
    Đỉnh có Đại Uy Quang
    Mắt, trái: giận, phải: vui
    Màu, trái: đỏ, phải: vàng
    Ngồi Tam Giác bên trái
    Định (tay trái): đao, Tuệ (tay phải) cầm chày
    Hay thành hai loại việc
    Nhiếp Triệu và Tức Tai
    _ Thứ sáu: lửa Phẫn Nộ (Krodha)
    Tôn hình màu lửa rực
    Nhắm một mắt, gầm lớn
    Trên dưới hiện nanh chó
    Đầu tóc rối cao vót
    Hai việc: lửa và nước
    _ Thứ bảy tên Ôn Phước (Jaṭhara)
    Tức Đại Bát Niết Bàn
    Nhanh chóng, rất phẫn nộ
    Chữ Ắc (Aḥ:珆) đủ năm màu
    _ Thứ tám tên Phí Háo (Kṣaya)
    Màu như gom mọi điện
    Rất khó nhìn ngó được
    Ngồi trong Kim Cương Luân
    Hay trừ khiển Chướng nặng
    Với quyến thuộc Đỉnh Hạnh
    _ Thứ chín lửa Ý Sinh
    Tôn này tùy ý thành
    Mọi loại thân Phổ Môn
    Đại Lực Tự Tại Tuệ
    _ Thứ mười: Yết La Vĩ (Kravyādā)
    Bên tay phải Tôn ấy
    Tiếng Tịnh Hạnh Án Ấn
    _ Thứ mười một (Bản Phạn thiếu mất tên gọi)
    _ Mười hai: Mô Hạ Na (Mohana)
    Tôn hình, lửa Kiếp Tai
    Đạo Trường giáng phục Ma
    Nếu các loài hữu tình
    Làm ác chẳng thể ngưng
    Khuyến Đạo (khuyên nhủ mở lối), tăng chuyển đổi
    _ Lửa này hay Tịnh Trừ
    Phương tiện dùng chế phục
    Mê Hoặc khiến không biết (Ý mật)
    Dần dần dẫn vào Đạo
    _ Tiếp bày bốn Vi Mật
    Nghi Quỹ nên tu tập
    Bản Tôn Chân Ngôn Ấn
    Thân, miệng, ý tương ứng
    Ba vị hòa hợp đúng
    Mà làm các sự nghiệp
    Do ngoài dẫn vào trong
    Nghĩa Lý không sai biệt
    _ Tức Tai (Śāntika) đầu đêm khởi
    Tăng Ích (Puṣṭika), mặt trời mọc
    Trung (giữa ngày) Giáng Phục (Abhicāruka) mãnh lợi
    Câu Triệu (Akarṣāya) tất cả thời
    Ban đêm làm Kính Ái (Vaśīkaraṇa)
    Phiến Để Ca (Śāntika) Tịch Tai
    Thông minh với sống lâu
    Kèm Pháp trừ chướng nạn
    _ Năm sao (Mộc diệu, hỏa diệu, thổ diệu, kim diệu, thủy diệu) đã lấn bức
    Mọi loại các tai nạn
    Miệng lưỡi (khẩu thiệt) với đấu tranh
    Cung vua đã bức bách
    Trong ngoài chẳng hòa thuận
    Bảy Diệu (7 vì sao: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, La Hầu, Kế Đô) trái độ thường
    Gió mưa chẳng đúng thời
    Bệnh dịch với mất mùa
    Quỷ Mỵ, việc chẳng lành
    Khi tai nạn ấy khởi
    Ngồi chéo đùi, hướng Bắc
    Dựng gối (đầu gối) trước đùi phải
    Quần áo phải trắng tinh
    Ăn uống, hương, hoa, đất
    Đèn, đuốc cũng như thế
    Vành trăng bày Chân Ngôn
    Văn tự cũng màu trắng
    Trụ ba Giải Thoát Quán (Không, Vô Tướng, Vô Nguyện)
    _ Vào Không Tam Ma Địa (Śūnyatā-samādhi)
    Vận Tâm vòng Pháp Giới
    Mở rộng, không một Pháp
    Trong phút chốc, lắng Tâm
    Diệt trừ tất cả Kiến (Dṛṣṭi)
    Chưa trừ nơi Không Chấp (cố chấp vào Lý nghiêng về Không)
    Vào Vô Tướng Tam Muội (Animitta-samādhi)
    Lìa tất cả tướng ấy
    _ Tiếp Vô Nguyện Tam Muội (Apraṇihita-samādhi)
    Nơi Trí Chân Như (Tathatā-jñāna) ấy
    Lìa tướng, vốn rỗng lặng
    Cũng không nơi nguyện cầu
    _ Từ Tam Ma Địa (Samādhi) khởi
    Tưởng kỹ giữa ức, tim
    Viên Minh (ánh sáng như cái gương tròn) rộng một khuỷu (tức Tâm Bồ Đề)
    Giống như ánh trăng Thu
    Sáng trong, ngửa tại tim
    _ Tiếp quán miệng Bản Tôn
    Câu bí mật đã trì
    Rõ ràng thành đường chữ (chữ tạo thành con đường)
    Nhập vào miệng Du Kỳ (Yogi: người tu Du Già)
    Văn tự xoay bên phải
    Bày ở vành trăng tim
    Mỗi chữ, màu vàng ròng
    Tôn ra ánh sáng lớn
    Thân Tâm chẳng tán động
    Nhập vào A Tự Môn
    Tức ở mỗi một chữ
    Suy nghĩ nghĩa Thật Tướng
    Đây tên Tam Muội Niệm
    _ Trước kèm Quy Mệnh tụng
    Hăm mốt (21) mới trừ bỏ
    Từ Án (Oṃ) khởi đầu tiên
    Cho con (họ tên…) trừ tai họa
    Sa Phộc Hạ (Svāhā) cuối cùng
    Vốn không gặp thêm việc
    _ Niệm tụng dùng tiếng nhỏ
    Nên tu Ý vắng lặng
    Hộ Tôn (Pāla-nātha) tướng phẫn nộ
    _ Nếu người làm Hỏa Đàn
    Đào hình lò ấy tròn (hoặc vuông)
    Một khuỷu, sâu nửa khuỷu
    Đáy lò, bùn làm Luân (Cakra: bánh xe)
    Luân ấy đủ tám căm
    Lượng bằng một Trách tay [một gang tay](cao một ngón tay)
    Bốn đoạn (tiết) làm Chu Giới (giới hạn chung quanh)
    _Tô Đàn thuần màu trắng (hương khác dựa theo đây)
    Cỏ tranh tốt trên thềm
    Tùy ngày, xoay bên phải
    Dùng gốc che mầm ấy
    Hoặc bày mọi màu sắc
    Sáng đỏ rất nghiêm lệ (trang nghiêm đẹp đẽ)
    Tất cả việc vẽ, thành
    Đốt hương Trầm, đèn bơ
    Các hoa quả tươi đẹp
    Thức ăn uống…cúng dường
    Đầu tháng đến mồng tám
    Tam Dư (3 loại tàn dư của Phiền não, Nghiệp, quả báo) thời Hộ Ma
    Tâm Từ (Maitra-citta) sinh vui vẻ
    Ngoái nhìn ở tất cả
    _ Nơi lược Hộ Ma đấy
    Nên trì Biện Sự Minh (hoặc Bất Động)
    Dùng Cát Lý Minh Vương (Kilikila-vidya-rāja)
    Kết Hộ, gia trì vật
    Tuệ vũ (tay phải) Không (ngón cái) đè Địa (ngón út)
    Duỗi Ba La Mật (các ngón tay) khác
    Dùng nước thơm rưới khắp
    Chân Ngôn là:
    “Án, cát lý cát lý, phộc nhật-la, hồng, phán tra”
    輆 丁印丁匡砉忝 狫 民誆
    Oṃ_ kili kili vajra hūṃ phaṭ
    _ Muốn làm các sự nghiệp
    Thành tựu Pháp Kết Đàn
    Hộ Thân với Đệ Tử
    Tịch trừ các chướng nạn
    Do Ấn Minh này nên
    Các Thiên Tử Tịnh Cư
    Thường đến ở nơi ấy
    Quán chiếu, khiến mau nghiệm
    _ Lò đối Mạn Trà La
    Ngoại (bên ngoài) tương vọng (trợ nhau nhìn ngó) làm riêng
    Chỗ cúng như Đại Đàn
    Nửa lò, đốt đầy than
    Cành đã lấy trong cây
    Nhóm củi cứng Nhũ Mộc (cây có chất nhựa như sữa)
    Ném vào trong Quân Trà (Kuṇḍa: Lò lửa, lò Hộ Ma)
    Toại Hỏa (lửa phát sinh từ dụng cụ lấy lửa) đừng dùng đồ cũ
    Dùng quạt, chẳng dùng miệng thổi
    Liền rưới nước thơm sạch
    Đốt lò, tụng Minh sau
    “Án, bộ, nhập-phộc la, hồng”
    湡 鉓 捂匑 猲
    Oṃ_ bhuḥ jvala hūṃ
    Lửa đã phát sáng rực
    Phẫn Nộ Vương trừ dơ
    Khế Minh gia khắp vật
    Mỗi lần chạm, xưng Minh
    [Chỉ Lý Chân Ngôn lúc trước. Bốn ngón tay cùng cài chéo lưng ngón xoay
    chuyển, Tuệ (bên phải) đè Định (bên trái)]
     
    #3
  4. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    _ Liền ở trong ngọn lửa
    Mà tưởng có chữ La (先:Ra)
    Biến thành Hỏa Quang Tôn
    Tân màu đỏ, tóc vàng
    Ba mắt, bốn cánh tay
    Toàn thân rực lửa sáng
    _ Bậc Trí giương tay phải
    Co Không Luân (ngón cái) vào chưởng (lòng bàn tay)
    Đè Địa (ngón út), Thủy (ngón vô danh), Hỏa (ngón giữa)
    Phong (ngón trỏ) co móc Hô Triệu
    “Nay con cúi lạy thỉnh
    Hỏa Thiên Thượng Thủ Tôn
    Đại Tiên trong cõi Trời
    Phạm Hạnh đã sùng kính
    Nguyện giáng đến chốn này
    Nhận vật cúng Hộ Ma”
    Phụng Thỉnh Chân Ngôn là:
    “Án, ế hệ-duệ hứ, ma hạ bộ đa, nê phộc, lý-sử, trì-vĩ nhạ sa đa, ma ngật-lý
    hứ đát-phộc hộ để, ma hạ lam ma, a tất-nhĩ tán nễ hứ đổ bà phộc, a ngật-nẵng
    duệ, hạ vĩ dã, ca vĩ dã, phộc hạ nẵng dã, sa-phộc hạ”
    輆 珫鉒扛 亙扣穴凹 只向 源 盎介屹柰 亙鉎扛班摍凸
    亙扣先交統戌市扛北矛向 狣蚱份 成防 一防 向成矧伏 送扣桭
    Oṃ_ Ehyehi mahā-bhūta deva rṣī dvijasatta magṛhitvāduti, mahā-rama
    asmisaṃnihitobhava agniye havya kavya vahanaya svāhā
    _Hỏa Thiên đến dự, ngồi
    Ấn sái tịnh (rưới vảy cho sạch sẽ) nơi lửa
    (Dùng cỏ tranh làm Tiểu Thúc (bó nhỏ) hoặc Tam Cổ Ấn rưới nước lên lửa
    sạch (tịnh hỏa) bên trong lò)
    Chân Ngôn là:
    “Án, a mật-lý đế, hạ nẵng hạ nẵng, hồng, phán tra”
    輆 珃猵包 祌矧祌矧 嫟 民誆
    Oṃ_ Amṛte, hana hana, hūṃ phaṭ
    _ Rải hoa ở Quân Trà (lò Hộ Ma)
    Hiến nước thơm Át Già
    Kim Cương Quyền, duỗi Phong (ngón trỏ)
    Dùng khuấy nước Át Già
    Chuyển phải, rưới trong lò
    Tưởng xúc miệng Hỏa Thiên
    Cát Tường Chân Ngôn là:
    “Án, phộc la na, phộc nhật-la, đàm”
    輆 向先叨 向忝 漭
    Oṃ_ varada vajra dhaṃ
    _ Các chi Phần Hộ Ma
    Để sẵn ở bên phải
    Hai muỗng, vật khí trống
    Nhóm bơ, mật, dầu, củi
    Để ở ngay bên trái
    Nên dùng Nghi Hộ Ma
    Hai tay tại hai gối (2 đầu gối)
    Xuay theo phải, thuận chuyển
    Định Vũ (tay trái) cầm Châu Chử (chày ngọc)[Kim Cương Quyền]
    Duỗi Phong (ngón trỏ) kèm muỗng lớn
    Tay Tuệ (tay phải) cầm muỗng nhỏ
    Lấy Danh Tô (bơ tốt) ba lần
    Rót đầy muỗng lớn ấy
    Tuệ (tay phải) buông Tiểu (muỗng nhõ) nắm Đại (muỗng lớn)
    Cuối câu, tưới trong lửa
    Đưa vào miệng Hỏa Thiên
    _ Dầu, mật và sữa, Lạc
    Cháo sữa, cháo ngũ cốc (5 loại lúa đậu)
    Cơm gạo, Đạo Cốc (hạt gạo không bỏ vỏ), hoa
    Thứ tự hiến ba lần
    _ Quả ngọt, gỗ cây mận
    Nhóm Tường Vi (một thứ cây mọc ven tường), Nhũ Thụ (cây có chất nhựa
    như sữa)
    Trầm (cây Trầm Hương), Đàn (cây Đàn Hương), Bách (cây Bách), Phong (cây
    Phong) cấu (cấu tạo, xây đắp)
    Lượng dài một trách tay (một gang tay)
    (hoặc mười ngón tay, hoặc bốn ngón tay, thô kệch như ngón trỏ)
    Hai đầu đều tẩm bơ
    Ném vào trong Quân Trà (lò Hộ Ma)
    (3 lần, hoặc 21 lần, hoặc 108 lần)
    _ Đinh Hương, Bạch Đàn, Trầm
    Huân Lục, Long Não Hương
    Đậu Khấu, hạt cải trắng
    Cùng với Tô Hợp Hương
    Nửa làm bột, nửa (làm) viên
    Viên dùng bơ, mật hòa
    Theo trước, ném vào lửa
    Ba lần đều như đây
    (hoặc 108 lần, hoặc 21 lần. Lại dùng muỗng nhỏ tưới vào lửa 21 lần)
    Chân Ngôn là:
    “A ngật-nẵng duệ, hạ vĩ dã, hạ vĩ dã, phộc hạ nẵng dã, địa bỉ dã, địa bỉ dã
    (phiến để, tăng ích bố sắt trí ) câu lỗ, sa-phộc hạ”
    狣蛆份 成防 一防 砉成傛伏 叵汽 叵汽 叵扔伏 送扣桭
    Agnaye havya kavya vahanaya dīpya dīpya (Śāntīṃ, Puṣṭīṃ) kuru svāhā
    _ Chữ Hạ (Hā) dẫn tiếng ấy
    Tiếng dừng lại cùng Quả
    Hành Nhân ở bên trái
    Thầy dùng Tuệ (tay phải) cầm chày
    Tịch Tai Hộ Ma Chân Ngôn là:
    “Nẵng mạc tam mạn đa một đà nam (1) a, ma hạ phiến để nghiệt đa (2)
    phiến để ca la (3) bát la thiểm ma, đạt ma, nễ nhạ đa (4) a bà phộc, sa-phộc bà
    phộc (5) đạt ma tam ma đa, bát-la bát-đa, sa-phộc hạ”
    巧休 屹亙阢 后盍觡袎 珆 亙扣 圭阠 丫凹 圭阠 一先袎 渨在亙 叻猣
    市蛔凹袎 狣矢向 辱矢向 叻準 屹亙阤直挕袎 渢扣桭
    Namaḥ samanta-buddhānāṃ_ Aḥ_ mahā-śanti gata, śanti kara, praśama-dharma nirjāta, abhāva svabhāva dharma, samanta prāpta svāhā
    Thỉnh Hỏa Thiên rời lò
    Đến vị trí Đông Nam
    _ Tiếp nên cầm lò hương
    Thỉnh nơi Bản Cung Diệu
    Với Mệnh Nghiệp Thai Tú
    Quyền Ấn, Phong (ngón trỏ) Hỏa (ngón giữa) câu móc
    _ Tiếp thỉnh nơi Bản Tôn
    Hay tay nâng hoa mùa
    Khử dơ với Quang Trạch (sáng bóng)
    (hoặc Bộ Chủ gia trì)
    Liền xa lìa lò, ném
    Tưởng hoa khắp các Tòa
    Như trước, lại tịnh hỏa
    Thỉnh Tôn vào trong lò
    (đều dùng Bản Chân Ngôn thỉnh, mỗi mỗi cúng dường, hoặc Đường Bộ kèm
    quyến thuộc)
    Thành Tâm mà cúng dường
    Chuyên chú nơi Thánh Chúng
    Tuôn ra mây rộng lớn
    Cơm, thực (thức ăn), phướng, phan, lọng
    Tràn khắp vi trần cõi
    Phụng hiến chúng Thánh Thiên
    Các hữu tình ba ác (3 loại tâm ác)
    Được ánh sáng chiếu chạm
    Dứt khổ, thân tâm vui
    Cho đến Hộ Thế Thiên (Loka-pāla-deva)
    Ba lần Hộ Ma xong
    Hương, hoa, Thực (thức ăn) đã cúng
    Gom lại đều hòa chung
    _ Vì La Nhạ (Rāja: Vua chúa) Hộ Ma
    Quyến thuộc kèm bách hoạn (trăm chức quan)
    Chúng sinh trong Pháp Giới
    Thân mình…đều ba hộ (3 lần Hộ Ma)
    (dùng Diệt Ác Thú Chân Ngôn 3 lần, 5 lần, 7 lần. Trích trong Kinh Kim
    Cương Đỉnh)
    Cuối cùng, bốn mặt lò
    Thức ăn uống, quả trái
    Gia trì xong, Hộ Ma
    Thầy đi ra, rửa tay
    _ Lại ở chốn thanh tịnh
    Cầu cúng Bát Phương Thiên (các hàng Trời ở tám phương)
    (mỗi mỗi cúng nhóm chư Thiên, kèm như văn riêng. Lại lấy cơm, thức ăn để
    trong cái chậu nhỏ, bố thí cho hàng Quỷ Thần ở bốn phương)
    _ Quay lại cúng bái lửa
    (với nhóm Tú Diệu đều cúng tế ba lần)
    Vui vẻ thỉnh chư Thiên
    “Đại Thiên ! Sức uy thần tự tại
    Hay mãn vô lượng Nguyện chúng sinh
    Khiến điều mong cầu, nguyện thành tựu
    (khiến cầu tăng vinh hoa, giàu có. Khiến cầu yêu kính , nguyện đều thành)
    Cúi lạy chư Thiên về Bản Cung (cung điện của mình)
    Sau này, khi chí thành thương thỉnh
    Nguyện xin đến đây, nhận cúng dường”
    Chân Ngôn là:
    “Cát lý cát lý phộc nhật-la, mục hạ”
    丁印丁匡砉忝 鄖
    Kilikili-vajra muḥ
    _ Nếu người cầu tăng trưởng
    Tên Bố Sắt Trí Ca (Puṣṭika: Tăng ích)
    Tâm mừng vui, tương ứng
    Mồng chín đến mười lăm (trong tháng)
    Năm Thần Thông, kho báu
    Kiếm, luân (bánh xe), chày, tài vật
    Thuốc viên, thuốc xoa mắt (nhãn dược)
    Biến đổi tốt, tăng thọ (tăng thêm tuổi thọ)
    Phước, Trí với tiếng tăm
    Chức Nhâm (chức vị và chức trách của vị quan), y vua quan
    Các tường, thắng an lạc
    _ Ngồi Kiết Già, hướng Đông
    Quần áo đều màu vàng
    Thêm bớt câu Chân Ngôn
    Như trước không có khác
    Chuyên chú mây cúng dường
    Vòng khắp mười phương cõi
    Với chiếu các hữu tình
    Đều được nơi Vinh Thịnh (hiển đạt hưng thịnh)
    Phú Quý với sống sâu
    Tức mây ánh sáng này
    Ở nơi cư trú ấy
    Mưa vật dụng bảy báu
    Mưa Cam Lộ cõi Trời
    Rưới rót Tâm Hành Nhân
    _ Lò vuông hai khuỷu tay
    Chung quanh sâu nửa khuỷu
    Đáy để chày Tam Cổ (lượng như lúc trước)
    Dùng Đàn (Đàn Hương), Uất Kim (uất kim cương) bôi
    (Bạch Đàn làm hương đốt, đèn dầu mè)
    Quang Âm (ābhāsvara:Quang Âm Thiên) với Tuế Tinh (Vṛhaspati:Mộc Diệu)
    Nhóm Vinh Hữu Ý Tú (Ấn lúc trước)
    Chỗ cúng theo Nghi trước
    _ Nếu cầu Pháp Hoan Ái
    Tên Phộc Thí Ca La (Vaśīkaraṇa: Kính Ái)
    Tâm mừng giận tương ứng
    Mười sáu (ngày 16), hai mươi ba (ngày 23)
    Triệu (kêu gọi) người với Trời, Rồng
    Quỷ Thần, loài Phi Nhân
    Tất cả nơi kính yêu
    Nhà, nước với quyến thuộc
    Oán địch, các bạn bè
    Hòa thuận mà vui vẻ
    Với cầu Diệu Biện Tài
    Cúng tám Bộ Trời Rồng
    Tất cả chỗ hộ niệm
    Thỏa mãn điều cầu nguyện
    _ Ngồi Bán Già, hướng Tây
    Trên, cầu tăng trưởng đồng
    Cùng tôi (họ tên) nhiếp việc đó (nêu tên việc đó)
    Trì Minh, Tâm vui vẻ
    Hộ Tôn, tướng Tịch Phẫn (Yên lặng giận dữ)
    Kim Cương Câu (Vajarāṃkuśa) nhiếp triệu
    Dẫn mây, cúng Pháp Giới
    _ Tiếp triệu (kêu gọi) ba nẻo ác
    An trí nơi người, Trời
    (Tưởng Chúng được kêu gọi nhập vào Tâm ấy, kêu gọi đến)
    Mây Hoa Tiễn (mũi tên hoa) vui vẻ
    Bắn Nhị Thừa Yểm Ly (Tâm chán lìa của hàng Nhị Thừa)
    Giận, ghét, ba Chướng nặng
    Với trừ Tâm oán hận
    Khiến đến Cực Hỷ Địa (Pramuditā-bhūmi: Địa vị đầu tiên trong 10 Địa)
    (bắn ở 5 chỗ: vầng trán, 2 vú, trái tim, phần bên dưới)
    _ Lò như sen tám cánh
    Nở rộ, đủ đài nhụy
    Lượng một khuỷu, sâu nửa (nửa khuỷu tay)
    Đáy để hoa sen hồng
    Hai đường viền, bốn ngón (4 ngón tay)
    (màu trắng, cao một ngón tay)
    Trang phục: hồng, trắng, vàng
    _ Đè Không (ngón cái) nhấc Phong Luân (ngón trỏ)
    Mỗi phương đều một chấm
    Liền thành Đại Kết Giới
    Chữ Hồng (狫: Hūṃ) gia hộ khắp
    (Dùng vật báu cúng dường)
    _ Đốt Đinh Hương, Tô Hợp
    Dùng dầu quả (dầu của trái cây) thắp đèn
    Củi: cây Nhũ Thứ Quả (cây có nhựa như sữa, cây có gai, cây có quả trái)
    Dùng hoa đỏ cúng dường
    Trong lửa Đình-dạ duệ la
    Màu hồng, tóc xanh biếc
    Trời: Phạm Tử (Brahma-putra), Thái Bạch (Śukra)
    Thành nhóm Thai Thân Tú
    Hộ khắp, xin vui vẻ
    _ Nếu làm Pháp Giáng Phục
    A Tỳ Già Lỗ Ca (Abhicāruka)
    Hai mươi bốn (ngày 24), cuối tháng (ngày cuối tháng)
    Chế (chế ngự) Quỷ Thần, người ác
    Phá hoại mắt Chính Pháp
    Với các Rồng độc ác
    Tuôn mưa mạnh trái thời (chẳng đúng thời tiết)
    Sương, bạc (mưa đá) hại lúa mạ
    Nước lụt, hạn hán trái thời
    Quỷ Mỵ lưu hành khắp
    Nơi nơi hiện biến quái
    Mọi người chẳng an ninh
    Chỗ ở luôn não loạn
    Với hành chẳng trung hiếu
    Pháp này hay chế trừ
    Vì an vui Thế Gian
    Bày phương tiện lớn này
    Gồm lợi ích kẻ kia
     
    #4
  5. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    _ Nội (bên trong) khởi Tâm Từ Bi
    Ngoại (bên ngoài) là đại phẫn nộ
    Đen xanh trên các màu
    Trong tim, quán Viên Minh (Ánh sáng như cái gương tròn)
    Biến đồng Đại Nhật Tôn
    Rực rỡ không cùng loại
    Phát sáng như Kiếp Diễm (cuối đời Hoại Kiếp dấy lên tại nạn lửa lớn thiêu đốt
    hết Thế Giới)
    Chân Ngôn, gắng xưng mạnh
    Người bên cạnh nghe được
    _ Hộ Tôn, ý vắng lặng
    Liền quán Phẫn Nộ Tôn
    Khắp thân, các chân lông
    Tuôn ra mây khí trượng
    Cúng dường tận hư không
    Tất cả Tôn phẫn nộ
    Tuôn mưa các khí trượng
    Rơi lên chốn cư ngụ
    _ Lò lửa hình tam giác
    Trong để chày Độc Cổ
    Lượng đồng Phộc Thí Ca (Vaśīkaraṇa: Kính Ái)
    Đất Đàn, tô màu đen
    Tòa cây gai, hoa đỏ
    Hoa đen không hơi thơm
    Rải đầy xong cúng dường
    (cơm, thức ăn dùng nước cốt của Thạch Lựu thấm vào)
    Thiết trấp (nước cốt của sắt thép), nước phèn đen
    Hoa đen, hạt cải, bách (cây bách)
    Chút ít để (trong) Át Già
    Hương đốt, dùng An Tất
    Dầu hạt cải làm bấc (bấc đèn)
    Lỗ Địa La (Rudhira: máu huyết) mỡ bò [làm đèn]
    Cúng dường nơi Thánh Tôn
    Phẫn nộ gia hộ khắp
    Chân Ngôn là:
    “Hồng, cát lý cát lý phộc nhật-la, hồng hồng hồng, phán tra, phán tra, phán
    tra”
    狫 丁印丁匡砉忝狫狫狫 民誆民誆民誆
    Hūṃ kilikili-vajra hūṃ hūṃ hūṃ phaṭ phaṭ phaṭ
    _ Thứ tự nhiễu (quanh) Quân Trà (lò Hộ Ma)
    Bày cỏ gai hôi xấu
    Bấc Khổ Sâm trong lò
    Lửa dính nước Sái Tịnh
    Chữ La (先: Ra) thành Hỏa Thiên
    Màu đen, lửa khói khắp (Thỉnh Triệu dựa theo lúc trước)
    _ Máu mỡ của con bò
    Bơ, sữa, mật, dầu mè
    Vĩ Sa (Viṣa: chất độc) cùng hợp chung (hoặc dùng Đầu Tạc)
    Hăm mốt (21 lần) ném Quân Trà (ném vào lò Hộ Ma)
    _ Củi: xương, tóc, cây xấu
    Sâm (một loài cỏ quý) gai nhọn, vĩ sa (chất độc)
    Thấm ở dầu Lỗ Địa (máu huyết)
    Tưới khắp, tụng Chân Ngôn
    Chỉ bày Bản Phương Vị (vị trí của phương gốc)
    Khải thỉnh Trấn (Śanaiścara: Thổ Diệu), Huỳnh Hoặc (Aṅgāraka: Hỏa Diệu)
    Sâm Tinh (Ārda: Sâm Tú) và Liễu Tú (Āśleṣa)
    Phát Nguyện, ca vịnh khen
    “Đại Thiên ! Sức uy thần phẫn nộ
    Hay mãn chúng sinh, diệt oán địch
    Nay cầu phá địch, diệt oán thù
    Cúi lạy chư Thiên về Bản Cung
    Sau có lúc chí thành thương thỉnh
    Nguyện xin giáng đến, nhận cúng dường”
    Phụng Tống Chân Ngôn là:
    “Bố nhĩ đô, đồ ma dã, bạc để-dã nghiệt tha, a ngật-nịnh, sa-phộc bà phộc
    nam, bổ nẵng la ti-dã nga ma na dã, sa-phộc hạ”
    朮元北 帆亙仲 矛滽丫猌 狣蚱 辱矢名觡 旦巧先沃丫交叨伏 送扣桭
    Pūjito simayā bhaktyāgaccha agni svabhāvānāṃ punarapyāgamādaya
    svāhā
    _ Giải Giới như Nghi Tắc
    Đối thẳng trước mặt Tôn
    Duỗi thân, động chi tiết
    Nhổ bậy với tiếng than
    Việc của nhóm như vậy
    Chế ngự, đừng kiêu mạn
    _ Đại Giáo A Xà Lê
    Bậc Tuệ khéo, Hạnh sâu
    Muốn cầu Đại Tất Địa
    Nên luôn tu Hộ Ma
    Mỗi (1 lần) đủ ba Lạc Xoa
    Một lần, lửa cúng dường
     
    #5
  6. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    _ Lại nữa, tướng Hộ Ma
    Lửa đỏ hoặc vàng ròng
    Như Ngưu Tô sáng bóng
    Lửa thơm tho, không tiếng
    Trên lửa sinh lửa chồng
    Phân tán, hình dù lọng
    Vật đã được gia trì
    Ấm, khói với ánh sáng
    Ở trong phát tiếng lớn
    Phạm Âm Sư Tử Hống
    Tiếng sấm, vi diệu hưởng (tiếng dội lại vi diệu)
    Tiếng chuông, trống, Nhã Nhạc
    Nên biết tướng thành tựu
    Nếu hơi lửa ấy lạnh
    Màu không có sáng bóng
    Đại Tinh (ngôi sao lớn sáng trong Tinh Tú) bèn tiễn ra
    Hoặc lửa hôi như khói
    Biết Tẫn (lửa tàn) dấy vào đất
    Nên biết chướng trong ngoài
    Tu Sơ Pháp (Pháp đầu tiên) Tức Tai (ngưng dứt tai nạn)
    (Đây cùng với Giáng Phục thành)
    _ Hoặc mộng: Phật, Bồ Tát
    Kim Cương hoặc các vua
    Bà La Môn, Cư Sĩ
    Minh Vương hoặc Tam Bảo
    Mặc áo trắng đẹp mới
    Thân đeo các Anh Lạc
    Mỹ nữ trang phục đẹp
    Mang thai, hoặc Đồng Tử
    Cầm: hương, hoa, bình, lọng
    Hoặc cung kính cúng dường
    Nhiễu quanh mà hành Đạo
    Ăn: gạo tẻ, lạc, cơm
    Sữa Cam Lộ, quả, hoa
    Rừng rậm hoặc lên núi
    Đến Tháp hoặc lầu gác
    Hoặc ngồi xe, ngựa, voi
    Sư Tử, bò, hươu nai
    Bạch Hạc, Khổng Tước Vương
    Kim Sí Điểu với thuyền
    Trên biển, nước trong sạch
    Tự tại bay trên Không
    Lửa sáng rực khắp thân
    Ngồi trong Tòa nghe Pháp
    Hoặc ở Chúng nói Pháp
    Được trân châu, diệu bảo
    Thương Khư (Śaṅkha: Loa), Luân (bánh xe), kiếm, chày
    Khéo nói mà an ủi
    Mây ngũ sắc, điện chớp
    Gió nhẹ, mưa hoa Trời
    Hương xông ướp, tắm gội
    Đây đều ứng thành tựu
    Thức tỉnh, đừng ngủ lại
    _ Nếu mộng: người khôi quái (người chủ về sự giết chóc)
    Heo, lừa, lạc đà, chó
    Hoặc tiếp chạm, ở gần
    Xác chết cũng như thế
    Quỷ ác, đường đáng sợ
    Thân mặc áo rách xấu
    Người nữ hình xấu xí
    Các vật chẳng tốt lành
    Là Chướng, chẳng thành tựu
    _ Hoặc có vọng niệm khởi
    Trái khuyết Tam Muội Gia (Samaya)
    Địa (ngón út) Thủy (ngón vô danh) buộc bên trong
    Hỏa Luân (ngón giữa) quấn hai Phong (2 ngón trỏ)
    Trước hợp tập Đại Luân
    Hăm mốt (21) Chướng đều tiêu
    Ngủ say, Bộ Mẫu hộ
    Bộ Chủ hộ trụ xứ
    Các mộng ác chẳng lành
    Trăm biến (100 lần) Bộ Mẫu Minh
    _ Phàm lúc muốn ăn uống (khiết thực)
    Trì Minh dâng Bản Tôn
    Bộ Chủ Minh Chân Ngôn
    Gia trì thức ăn ăn
    Hộ Ma như kính Pháp
    Vi tế, hiểu rõ ràng
    Chút phần chẳng tương ứng
    Mọi ác đều đến tập
    _ Đủ ba số Câu Chi
    Thường được thấy Bản Tôn
    Tâm thông Môn giải thoát
    Trí Tuệ chẳng thể lường
    Nguyện Thế, Xuất Thế Gian
    Đều đầy đủ mong cầu


    _ KIẾN LẬP MẠN TRÀ LA HỘ MA NGHI QUỸ (Hết)_


    Quỹ này do Pháp Toàn 狣弋搏(Arya:Quỹ Phạm Sư) gom tập, đường lối chủ
    yếu của 旭亙(Homa) vậy.
    Bản đấy do Đại Sư Từ Giác thỉnh về (Bí Lục nói là: Nhân Lục Ngoại). Có
    điều khi chuyển chép thì sai lầm nhiều. Nay kiểm tra đính chính chỗ thiếu sót, dùng
    tuổi thọ khắc chữ, mong đợi bậc Hiền Thức tiếp tục thay đổi cho chính đúng
    Thời ấy, Tinh xá Nguyên Văn_ Cường Ngữ Đại Hoang Lạc (tức năm Đinh Tỵ),
    ngày của Quý Hạ (tháng 6) nóng bức khác thường như đang ở trong cái nồi đất. Ban
    ngày giảng 帆鈰(siddhāṃ), ban đêm xét xét duyệt lại, chỉ là vì Pháp, mỗi mỗi thành
    thật mà dùng.

    Phong Sơn Trường Cốc Luân Hạ_ VÔ ĐẲNG ghi
    19/08/2012
     
    #6

Chia sẻ trang này