Hướng Dẫn Thiền Tập - Hòa Thượng Tuyên Hóa

Thảo luận trong 'THIỀN TÔNG' bắt đầu bởi ChânKhông, 26 Tháng mười một 2012.

  1. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    1. Sơ Cơ Tập Thiền
    Tiếng Hán, ngồi thiền là “đả tọa”. Tọa là ngồi, còn đả nghĩa là đánh. Ngồi chịu đòn, chịu đánh. Song ai đánh ai đây? Bạn tự đánh bạn đấy! Thế nghĩa là lý gì? Đa số người khi bắt đầu tập ngồi, họ không thực hành một cách thành thật, hễ ngồi vào thì thân nghiêng qua vẹo lại, đầu chúi tới gật lui, loay hoay nhúc nhích hoài mà không an định được. Tóm lại, họ ngồi không yên định được. Tuy vậy, chính cái chỗ, chính cái lúc không an định này mình phải làm chủ: đó gọi là định. Thân không muốn định, mình phải quản thúc, kiềm chế nó, cũng giống như “đập” nó vậy. Do đó gọi là "đả tọa”. Bạn cũng không để tâm ngó ra ngoài. Mỗi khi ý niệm chạy rong bạn phải lập tức kéo nó về lại, khiến cho tâm mình không chạy ra ngoài. Bạn sẽ cảm giác cái việc “kéo lại” này đau khổ thật chẳng khác gì sự khổ sở của kẻ bị đánh vậy. Do đó gọi là "đả tọa”.
    Vì vậy, việc tiên quyết của kẻ sơ cơ tập thiền là phải chịu khổ. Cái khổ này không thật là khó nhẫn, cũng chẳng có chi là to lớn lắm đâu, chỉ là đau chân, mỏi lưng, nhức xương vậy thôi. Do thế chữ "đả tọa” không phải là thứ ngọt ngào dễ nuốt đâu. Song, nếu bạn không “đả tọa” thì vĩnh viễn bạn chẳng gặt hái được thứ gì ngọt ngào. Do đó cổ nhân nói:
    "Chẳng chịu một phen lạnh thấu xương
    Sao đặng hoa mai thơm ngát hương?”

    Ở Mỹ ai cũng chủ trương tự do. Con nít tự do phát triển, chẳng ai phiền kỷ luật dân dạy chúng. Đó là một quan niệm lầm lẫn về tự do. Trẻ em nếu không dạy dỗ thì sẽ vô quy tắc, vô lễ độ. Đương nhiên có những em phát triển đúng theo đường hướng tốt đẹp thánh thiện. Song đại đa số trẻ em đều trưởng thành theo khuynh hướng hạ lưu, xấu xa (mà xã hội làm bối cảnh). Thậm chí có trẻ em trở nên du đảng, giết người, đốt nhà, cướp của, buôn bán thuốc phiện, không có chuyện gì mà chúng chẳng thể làm. Đó âu cũng là lầm lẫn và lạm dụng hai chữ “tự do”.
    Nhiều phụ huynh biết sanh con đẻ cái, song chẳng biết giáo dục cho con cái đúng đắn. Việc này thật chẳng khác gì trồng cây. Khi cây non đâm cành, nẩy nhánh tứ phía loạn xạ, mà mình không xén, không tỉa chúng thì tương lai cây sẽ chẳng phát triển tốt đẹp đặng. Rốt cuộc cây cũng chỉ đáng dùng làm củi chụm mà thôi. Song le nếu biết tỉa, chẳng lo cây ngay từ lúc còn non nớt thì cây sẽ lớn mạnh, cao thẳng tốt tươi, vòi vọi. Lúc ấy ta có thể dùng cây để làm nhiều chuyện hữu ích: làm đà, làm trụ, xây nhà, xây cửa. Do đó, đã có con cái, phận làm cha mẹ phải dạy dỗ chúng con đường chính. Dẫn dắt chúng hướng về nẻo lành, nếu không phụ huynh thật không tròn trách nhiệm của mình vậy.
    Việc dạy dỗ con cái ra sao thì việc tọa thiền cũng hệt như vậy. Mọi người trong ta đều có một trẻ con phải dạy dỗ; đó là “tâm” của mình. Tâm (chỉ vọng tâm) thì cũng giống như đứa con nít, vô cùng non nớt, ấu trĩ. Do đó nó thì lúc muốn lên trời, lúc lại xuống đất; khi thì nghĩ thiện, khi thì tưởng ác. Chỗ dụng công của việc ngồi thiền chính là ngay đó:
    Ngay lúc ta chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác chính là chỗ ta phải đem vọng tâm, cuồng tưởng, tạp niệm thu hồi trở lại. Song làm sao thu hồi? Đây,

    1. Đừng tranh: lòng tranh giành, tranh cãi, đấu tranh, là lòng sân hận ai cũng có. Tuy chẳng ai miễn được, song le mình phải giảm thiểu tối đa.
    2. Đừng tham: không nên tham lam tiền của vật chất, tham lam sắc dục. Một khi tham lam mê mẫn rồi thì chẳng khi nào mình tỉnh ngộ.
    3. Đừng cầu: chẳng nên tìm cầu, đòi hỏi, truy đuổi theo những thứ bên ngoài. Càng không nên mong mỏi những thứ bên ngoài. Càng không nên mong mỏi những thứ chẳng thuộc về mình.
    4. Đừng ích kỷ: Lòng ích kỷ là gốc của mọi phiền toái, mọi lôi thôi rắc rối. Nếu mọi người chẳng ai ích kỷ thì thiên hạ sẽ thái bình, chiến tranh tai nạn chấm dứt. Người tu càng không nên ích kỷ. Tuy bạn chẳng thể lập tức trừ đoạn nó ngay, nhưng phải hết mình ra sức mà khử nó.
    5. Đừng tự làm lợi mình: A! Ngồi thiền chẳng phải là tự lợi sao? Có thể là tự lợi nhưng cũng là lợi tha. Nếu bạn làm tấm gương tốt thì sẽ ảnh hưởng kẻ khác cũng trở thành tốt. Vì sao thế giới không tốt? Bởi vì cá nhân mình không tốt. Nếu cá nhân mình tốt thì mọi người chịu ảnh hưởng, ai cũng sẽ tốt.
    6. Đừng dối trá: lúc nào bạn cũng nên chân thật và thành ý. Bạn không muốn lừa ai, cũng không muốn tự lừa mình. Chẳng nên nói dối ai, mà cũng chớ tự nói dối.

    Sáu điều trên là điều kiện tiên quyết cho việc tọa thiền. Bạn cần thấu triệt chúng, ngay trước khi co chân xếp bằng.
     
    #1
  2. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    2. Kiên Nhẫn và Tôn Trì Quy Củ
     
    Điều đầu tiên cần học khi thực tập thiền quán là phải kiên nhẫn và tôn trì quy cũ. Nên nói:”bất dĩ quy cũ, bất thành phương viên”, nếu không có côm-pa và thước T, làm sao chúng ta có thể vẽ vòng tròn và hình vuông được? Nếu không giữ quy cũ, làm bất cứ việc gì đều không thành tựu.
    Trước hết, các vị phải nhẫn chịu đau chân và đau lưng. Cả trong khi tâm các vị loạn động và trạo cử, các vị phải tìm một cách nào đó để bình tịnh nó. Tốt hơn hết là quý vị ngồi trong tư thế kiết già. Thế ngồi này được gọi là “kim cương tọa”. Khi các vị ngồi trong thế kim cương tọa, các vị có thể dễ dàng nhập định. Khi thấy quý vị nhập kim-cương đại-định, ngay cả chư quỷ cũng sẽ nể sợ và không dám quấy rầy.
    Mỗi thời thiền tọa được báo hiệu bằng ba tiếng mõ. Sau khi tiếng mõ đã được đánh lên, mọi cử động đều phải ngưng lại và mọi người đều giữ yên lặng trong suốt thời thiền tọa. Không phải chỉ mọi người phải giữ im lặng, mà ngay cả ma quỷ và các Thiện Thần Hộ Pháp cũng không dám gây ra một tiếng động nào. Điều lý tưởng là ngồi trong tư thế kiết già và giữ tâm bình khí hòa.
    Bây giờ tôi sẽ kể cho quý vị câu chuyện về “Quỷ-Bức Thiền-Sư”. Vị này vốn làm nghề tụng kinh thuê cho những người thuê ông ta cầu siêu cho các vong linh quá cố. Ông được gọi là "Ông Nam-Mô” – một ông thầy cúng suốt ngày ông ta tụng “Nam mô, Nam mô, Nam mô” không biết bao nhiêu lần. Ông tụng thật nhiều “nam mô” nhưng cũng chỉ “nam mô” cho người khác và không bao giờ “nam mô” cho chính mình. Ông không bao giờ "nam mô” để thấy mình đang làm gì.
    Rồi thì một ngày nọ, ông ta đi “nam mô” cho ai đó và sau đó thì trở về nhà. Có lẽ lúc đó trời đã xế chiều; trên đường về, ông đi ngang qua một làng nhỏ và một con chó sủa lên khi ông đi qua. Trong nhà, tiềng một người đàn bà già nói “Ơ, coi ai ngoài đó mà con chó sủa dữ dội vậy?” Có tiếng một người đàn ông đứng dậy và đến nhìn qua lỗ hổng nơi cửa sổ. Cửa sổ không phải bằng kiếng mà bằng giấy dầu. Người đàn ông nói “Ồ, đó chỉ là con ma chuyên chạy tụng kinh sám”. Ông ta nói lớn tiếng làm cho ông thầy nghe được và tự bảo rằng “Kìa, tại sao anh ta gọi mình là con ma chạy tụng kinh sám? Mình luôn luôn tụng kinh để giúp người, vậy mà ông ta bảo mình là con ma chạy tụng kinh sám!”.
    Nhưng dầu sao thì ông ta cũng không làm gì được; vì thật tình chính ông ta đi tụng thuê cho người khác, và nếu có ai muốn gọi ông ta là một con ma tụng kinh thì ông ta cũng không kiện thưa người ấy được. Nghĩ vậy, ông bèn nuốt hận kềm chế sự tức giận của mình.
    Một lát sau, ông đến một cái cầu. Trời bắt đầu mưa, cho nên ông chui xuống gầm cầu để trú mưa. Bấy giờ ông ở dưới cầu, được khô ráo, nhưng trận mưa dai dẳng làm cho ông không có cái gì để làm cho qua thì giờ. Vì không có gì để làm, ông tự bảo “Ồ, ai cũng nói rằng ngồi thiền được lắm. Vì rằng mình chẳng có gì làm cả, trong khi chờ đợi, mình thử thiền xem sao”. Rồi ông ngồi xuống, và kéo chân thành thế kiết già. Ông xếp chân và ngồi rất nghiêm túc, và ngay lúc ấy, một sự lạ lùng mầu nhiệm xảy ra.
    Hai con quỷ hiện ra. Mặc dầu chưa bao giờ ông thực sự thấy quỷ, ngày này qua ngày khác ông thường độ họ, cho nên ông ta ít nhiều cũng được coi là quyến thuộc của chúng và ông ta không tỏ vẻ sợ hãi.
    Một con quỷ nói với con kia: “Có một ngôi chùa vàng ở đây. Nhanh lên! Hãy đảnh lễ đi! Có xá-lợi của Đức Phật ở trong ngôi chùa vàng. Nếu chúng ta đảnh lễ xá-lợi Phật, nghiệp chướng của chúng ta sẽ được tiêu trừ." Thế là hai con quỷ bắt đầu đảnh lễ, sau khi chúng nó đảnh lễ hồi lâu thì cái chân của vị tăng được gọi là “con ma chuyên chạy tụng kinh sám” bắt đầu bị đau. Để có thể ngồi thoải mái hơn, vị tăng chuyển thế ngồi kiết già thành thế ngồi bán già, đó là tư thế chân trái nằm trên bắp đùi phải.
    Lần này hai con quỷ đến đảnh lễ, thấy có chuyện lạ, một con quỷ nói:
    “Nè”! Ngôi chùa vàng kia vừa chuyển thành ngôi chùa bạc. Mày có nhận ra không?”
    “Thì sao nào?”, con quỷ kia đáp lại “Chùa bằng bạc vẫn quý rồi, chúng ta nên đảnh lễ đi!”

    Rồi cả hai con quỷ đồng đảnh lễ, chúng đảnh lễ một hồi lâu cho đến khi chân của vị tăng lại bị đau và ông ta uể oải duỗi ra nghỉ, giống như khi quý vị từng làm mỗi khi ngồi thiền mệt mỏi. Vị tăng lúc đó suy nghĩ: "Ta nên nằm nghỉ chốc lát.”
    Nhưng ngay lúc đó, hai con quỷ thoáng thấy ngôi chùa mình đang lạy biến thành một đống bùn. Một con quỷ kêu lên: “Nè! Coi kìa, nhanh lên! Hãy đánh nó đi!”. Nhận thấy hai con quỷ sắp đánh mình, vị tăng sững người vì sợ hãi, nhẹ nhàng trở lại ngồi gọn gàng trong tư thế kiết già. Vừa đúng lúc hai con quỷ đồng thanh la lên: “Ồ! Thật đúng là xá-lợi của Đức Phật ở trong đó. Thật là trò biến hóa như yêu quỷ. Phút trước đó là ngôi chùa vàng, phút sau là chùa bạc, rồi trở thành đống bùn. Chúng ta tốt hơn chỉ nên đảnh lễ bất luận chuyện gì xảy ra!”, rồi chúng lạy không nghỉ cho đến khi trời sáng.

    Sự kiện này có một ảnh hưởng tác động đến vị tăng – “con ma chuyên chạy tụng kinh sám” . Ông ta ngồi suy nghĩ: “Nếu ta ngồi trong tư thế kiết già thì đó là ngôi chùa bằng vàng, nếu ta ngồi với tư thế bán già thì đó là ngôi chùa bằng bạc, còn nếu ta không ngồi với hai tư thế ấy thì chẳng có gì khác ngoài một đống bùn. Tốt hơn là nên bắt đầu tu tập, không nên chạy tụng kinh đám nữa.” Rồi ông ta vùi mình trong đề tài ấy ngay và công phu tham cứu rất nghiêm mật. Sau một thời gian, ông được ngộ đạo, được tặng danh hiệu “Quỷ Bức Thiền Sư” (Thiền Sư bị quỷ bức bách) vì nếu ông không bị hai con quỷ dọa đánh, ông chắc hẳn sẽ còn trì hoãn công phu và sẽ không bao giờ thành công trong việc tu tập.
     
    #2
  3. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    3. Mỗi Người Phải Tự Chấm Dứt Sanh Tử Của Chính Mình

    Tham thiền là pháp môn ấn tâm vi diệu do đức Thích Ca thân truyền tại đỉnh Linh Sơn. Dạo ấy, đức Phật cầm một cành hoa trong tay và đưa lên, miệng mỉm cười. Không ai trong pháp hội hiểu đặng ý Phật, duy chỉ có ngài Ma Ha Ca-Diếp minh bạch ý chỉ của Phật. Ngài liền mỉm cười. Đây là lần đầu tiên pháp môn “dĩ tâm ấn tâm” được truyền và từ đó, pháp môn ấy được các vị Tổ truyền thừa cho các thế hệ tiếp nối.
    Ngài Đại Ca-Diếp lúc bấy giờ đã trên trăm tuổi. Là vị tu hạnh đầu-đà bậc nhất, luôn luôn phấn chấn nỗ lực dụng công, Ngài không cười cợt bừa bãi đâu. Lý do Ngài mỉm cười là vì liễu ngộ ý chỉ của Phật, rồi biểu thị pháp “lấy tâm ấn tâm” đấy.
    Đức Phật Thích Ca truyền pháp môn này cho Ngài Đại Ca-Diếp làm sơ tổ. Sơ Tổ truyền cho Tổ thứ hai là Ngài A-Nan-Đà. Ngài A-Nan-Đà lại truyền cho Tổ thứ ba là Ngài Thương-Na Hòa-Tu, và Ngài Thương-Na Hòa-Tu truyền tiếp cho vị Tổ thứ tư là Ngài Ưu-Ba Cấp-Đa. Cứ như thế “tâm pháp” được truyền thừa cho đến Ngài Bồ Đề Đạt-Ma, vị Tổ thứ 28 ở Ấn Độ. Ngài Bồ Đề Đạt-Ma nhận thấy căn-tánh dân Ấn lúc bấy giờ chưa thuần thục, trong khi căn tánh dân Trung Hoa thì chín mùi, đủ sức tiếp thọ Pháp Đại Thừa. Vì thế Tổ dùng đường biển đi qua Trung Hoa, và đến Quảng Châu vào năm 527 sau Tây lịch. Do đó Quảng Châu còn được gọi là “Tây Lai Sơ Địa”. Nhưng người Quảng Châu bấy giờ chưa có thể tiếp nhận Pháp Đại Thừa này liền vì họ không nhận biết Tổ là ai. Họ miệt thị gọi Ngài là “malacha” (quỷ la sát!). Một từ ngữ khinh miệt dùng để gọi người Ấn Độ. Người bèn đi Nam Kinh bổn ý là muốn độ Pháp Sư Thần Quang. Khi Pháp Sư Thần Quang giảng kinh ở Nam Kinh, biện tài của Ngài vô ngại đến nỗi chư thiên tán hoa trên trời xuống, và dưới đất sen vàng vụt mọc lên.
    - Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma hỏi Ngài Thần Quang:
    “Ông giảng kinh để làm gì?”

    -“Tôi giảng để dạy người liễu sanh thoát tử”

    - Ngài Bồ-Đề-Đạt-Ma lại hỏi: “Trong kinh toàn là giấy trắng mực đen, ông nương vào đâu liễu sanh thoát tử?”
    Nghe vậy Ngài Thần Quang bực mình lắm, nghĩ rằng ông râu này phỉ báng Tam Bảo. Nổi giận, Ngài cởi chuỗi tràng hạt bằng sắt nặng chình chịt ra quấn vào mặt Tổ, đánh gãy mất hai chiếc răng của Tổ. Ngày xưa, rất nhiều người biết võ công kể cả những thầy tu.. đã là thầy tu thì không được mang khí giới trong mình, cho nên nhiều thầy đeo chuỗi hạt bằng sắt để làm khí giới phòng thân, sử dụng nó như cây nhuyễn tiên để đối địch.
    Lại nói truyền thuyết về hàm răng của những vị Thánh nhân: rằng nếu răng của vị Hiền Thánh rơi xuống đất, thì trời sẽ hạn hán ba năm, và người dân vùng ấy có thể chết đói vì mất mùa. Cho nên khi thấy mình bị đánh gãy luôn một lần hai cái răng, Tổ không nỡ để cho dân chịu khổ vì mình. Thay vì để răng rơi xuống đất, Ngài nuốt chửng hai răng ấy, rồi bỏ đi. [Ở Trung Hoa có câu tục ngữ “Đả nha vãng đổ liễu yến” nghĩa rằng nếu răng ông bị đánh gãy, hãy nuốt vào bụng là từ giai thoại này mà ra.]
    Khi lời thốt ra mà không ứng hợp, Tổ liền biết hiện tại cơ duyên Thần Quang chưa đến, Ngài liền tới núi Tung Sơn, tỉnh Hồ Nam. Trên đường Tổ gặp một con chim oanh vũ bị nhốt trong cái lồng mây. Con chim nhận ra Ngài và hỏi:

    “Tây lai ý,

    Tây lai ý,

    Thỉnh nhữ giáo nhã

    Xuất lưng kế”


    Tạm dịch:

    “Với ý chỉ từ phương Tây,

    Với ý chỉ từ phương Tây,

    Xin Ngài dạy con,

    Kế sách thoát khỏi lồng này”


    Bồ-Đề-Đạt-Ma bèn dạy cho chim kế rằng:

    “Xuất lung kế,

    Xuất lung kế,

    Lưỡng thối trường thân,

    Lưỡng nhãn bế,

    Thử tiện thị nhữ xuất lung kế”


    Tạm dịch:

    “Kế thoát lồng,

    Kế thoát lồng,

    Hai chân duỗi thẳng

    Mắt nhắm nghiền,

    Chính là diệu kế bay thoát lồng”

    Con chim lắng nghe xong là hiểu ngay. Rồi nó ngay cẳng ra, nhắm nghiền mắt lại, giả chết. Khi người chủ chim đi làm về, anh ta đến lồng thấy chim, bèn la lên: “Úi da! Chim ơi ngươi làm sao thế?”
    Hoảng hốt, anh ta mở cửa lồng, bồng chim ra. Chàng chim nín thở bất động… Người chủ chim thấy làm lạ, coi tới coi lui chàng chim, rồi ngĩ: “Chim không cục cựa, giống y như đã chết. Song chết rồi thì sao thân không lạnh?”. Do dự, phân vân hết sức, anh ta từ từ mở tay ra… Đúng lúc ấy, chàng chim vỗ cánh bay khỏi tay anh ta. Tự do!
    Câu chuyện này đáng làm cho chúng ta suy nghĩ. Ai trong chúng ta không như chim nhốt trong lồng? Tuy ngày ngày ta sống nhởn nhơ, song ta nào có tự do, ra ngoài vòng sanh tử. Mà sự thật là ta sanh ra mê muội, rồi thì mê muội chết đi, chưa hề thấy bản lai diện mục của mình. Vì vậy, nếu muốn được tự do sanh tử, thì trước hết hãy coi mình là kẻ đã chết.* Cho nên nói:

    “Nhược dục nhân bất tử
    Tức hạ tử công phu.”

    Tạm dịch:

    “Nếu muốn mình không chết
    Thì phải tu hết mình”

    Mục đích việc tu hành, là muốn thấu rõ mình từ đâu sanh ra và mình chết sẽ đi về đâu? Và để thấu rõ lý do gì mình không thể làm chủ vận mạng của chính mình.

    “Có chứ”. Các vị có thể nói: ”Tôi làm chủ thân tôi. Thân này thuộc về tôi”. Nếu các vị thật sự làm chủ thân mình, sao các vị chẳng làm thân trẻ mãi không già? Đến lúc bịnh sao các vị không tự chủ – đừng bịnh? Tới lúc chết, các vị lại càng không thể tự chủ. Cho nên mình cần phải thật sự hiểu rõ ngọn ngành sanh tử. Rằng:
    "Lai thời hồ đồ, khứ thời bi
    Uổng tại nhân gian, tẩu nhất hồi
    Bất như bất lai diệc bất khứ
    Diệc vô hoan hỉ diệc vô bi.”

    Tạm dịch:
    “Đến thật hồ đồ, đi buồn lo
    Sống uổng trên đời chạy vòng vo
    Chi bằng không đến cũng không đi
    Cũng chẳng vui sướng chẳng sầu bi.”

    Con người sanh ra trong u mê, chết đi trong u mê. Khi lâm chung thì buồn rầu khổ não. Nếu bị cảnh trạng này xoay chuyển thì làm người thật vô nghĩa. Vòng vo quanh quẩn hoài trong u buồn, khổ bi thì thật uổng đời lắm. Chi bằng không đến không đi, há không khỏe hơn sao? Được vậy tức thoát khỏi vòng hoan hỉ sầu bi, thực sự tự do tự tại.
    Chúng ta không nên tự nhốt mình trong lồng. Lồng gì? Chiếc lồng là thân này. Thân người là một tập hợp hư giả của tứ đại: đất, nước, gió, lửa mà bổn hữu Phật tánh thì bị nhốt trong cái lồng tứ đại ấy, y như chim bị nhốt trong lồng, không thể thoát ra được. Nếu muốn thoát lồng mình phải học “vô quái vô ngại, vô khủng vô bố, vô phiền vô não” (không chướng ngại ai, cũng không gì chướng ngại mình, không sợ hãi gì, cũng không làm ai sợ hãi, không có phiền não gì, cũng không làm ai phiền não). Có nghĩa là chúng ta phải làm chủ chính mình. Vì lý do đó, chúng ta nên học ngồi thiền. Mỗi người phải tự chấm dứt sanh tử của chính mình. Không một ai khác có thể làm chuyện ấy thay mình.. người khác có thể chỉ đường, nhưng mình phải tự mình bước đi. Nếu các vị muốn thoát lồng thì phải tự mình nỗ lực, phải một phen khổ công!

     
    #3
  4. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    4. Thiền Là Nhiếp Tâm

    Tọa thiền là con đường mà mọi hành giả phải đi. Thiền là gì? THIỀN, từ Phạn ngữ DHYANA, có nghĩa là “tu phép tư duy”“lắng tư lự”. Người Hoa thường đơn giản hóa ngoại ngữ, nên họ chỉ giữ lại vần đầu của danh từ DHYANA, chỉ còn đọc là CHAN (Thiền).
    Tọa thiền thì phải ngồi thiền. Vì sao vậy? Để nhiếp tâm. Khi kẻ sơ cơ tập ngồi thiền, thân y tuy ngồi nhưng tâm chẳng ngồi. Tâm y cứ mãi miết phóng theo vọng tưởng, không biết đến đâu: lúc Đông lúc Tây, chợt Nam chợt Bắc. Giống như được ngồi hỏa tiễn miễn phí, tâm bay lạng khắp nơi. Những vọng tưởng, ý nghĩ lăng xăng ấy, thật khó khống chế vô vàn.
    Tại sao người ta không có trí huệ? Bởi vì những suy nghĩ của họ cứ mãi lăng xăng chạy ra ngoài. Tại sao người ta già đi mỗi ngày? Bởi vì tâm của họ luôn luôn truy đuổi hết việc này đến việc khác. Tương tự như một chiếc xe mới: nếu các bạn lái một cách bừa bãi, các bạn sẽ lãng phí rất nhiều xăng. Chẳng những thế, chiếc xe của các bạn sẽ hư cái này, hỏng cái nọ, và có thể chẳng bao lâu nó sẽ nằm liệt. Nguyên lý này cũng áp dụng cho thân thể chúng ta. Nếu các bạn không biết điều hòa nó, ghép nó vào lỷ luật mà lại để cho nó tự do phóng túng, thì rốt cuộc các bạn sẽ tốn rất nhiều xăng. XĂNG ở đây là gì? Chính là cái khí lực tinh thần quý báu của các bạn. Bất luận đổ xăng nhiều bao nhiêu, các bạn ngày nào cũng lái xe vòng vo vô ích, thì bình xăng sẽ chóng cạn. Có kẻ ăn những thứ bổ dưỡng, nghĩ rằng thức ăn ấy có thể tăng thêm tinh thần khí lực của họ; song nếu họ không biết trân quý tinh thần của chính họ, bất luận ăn nhiều thứ bổ đưỡng bao nhiêu, họ cũng không thể bổ sung được cái tinh lực mà họ phung phí. Vì lý do này, nên có câu:

    Chế chi nhất xứ

    Vô sự bất biện

    Nghĩa rằng:
    Giữ tâm một chỗ

    Không gì chẳng xong.


    Các bạn phải tập thu tâm lại, kềm nó nằm yên một chỗ. Như vậy các bạn sẽ không lãng phí tinh lực, làm khô cạn nguyên lực tinh thần của mình. Nguyên tắc này cũng như ví dụ việc lái xe: Nếu các bạn khéo giữ gìn, cẩn thận lái xe thì sẽ không xảy ra tai nạn mà chiếc xe của các bạn sẽ hữu dụng trong một thời gian rất lâu. Cùng thế ấy, nếu các bạn biết điều hòa cơ thể, cơ thể sẽ không già. Thật ra, nó không chết!
    “Tôi không như thế”, có người nói. “Ai cũng phải chết. Ngay cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài cũng phải nhập Niết Bàn. Làm sao Thầy có thể nói được là thân xác của chúng con sẽ không chết?”.
    Các bạn phải nên biết: Đức Phật nhập diệt sau khi hoàn tất sứ mệnh giáo hóa của Ngài, nhưng Ngài không chết như mọi người. Ngài đã đi vào trạng thái không sanh không diệt, một trạng thái rốt ráo, hoàn toàn thanh tịnh. Đức Phật đã chứng đắc đại trí, và giải thoát khỏi sanh tử. Ngài tự do đến, tự do đi. Ngài khác với kẻ phàm phu chết vì bệnh tật. Khi đã làm xong tất cả việc phải làm, cứu độ hết thảy chúng sinh có nhân duyên với mình, Phật liền nhập diệt. Trước khi nhập diệt Ngài triệu tập tất cả các vị Bồ Tát, Thành Tăng, các vị A La Hán, trời, người, và tất cả chúng sanh trong mười phương đến Pháp hội để họ có thể từ biệt Ngài. Điều này cho thấy rằng Ngài biết trước và thấu triệt sự sống chết của Ngài. Nếu các bạn muốn biết thêm, hãy đọc kinh Đại Bát Niết Bàn.
    Mục đích của tọa thiền là nhiếp tâm. Đồng thời các bạn cũng nhiếp tâm, nhiếp khẩu, nhiếp ý, để cho ba nghiệp được thanh tịnh. Thật vậy, khi các bạn ngồi thiền, thân các bạn không phạm giới sát, giới đạo, giới dâm; miệng không nói dối, nói lời thô ác, nói lưỡi hai chiều, nói lời ý ngữ; tâm không tham, không sân, không si; ý nghĩ không tuy đuổi việc bên ngoài. Khi ấy thân tâm các bạn mới yên ổn – thì đây là lúc để các bạn bắt đầu tập ngồi thiền. Ngồi thiền là nhắm đến việc điều hòa thân tâm, để cho thân không bị bịnh tật, miệng không nói lời bất thiện, và tâm không tranh chấp, không tham lam, không truy cầu, không ích kỷ, không thủ lợi cá nhân (tự lợi). Khi ba nghiệp được tịnh, thì trí huệ sanh. Tọa thiền lại trở về nguồn, phục hồi trí huệ bản hữu, phóng đại quang minh.
    Tất cả các bạn tới đây học Phật Pháp. Các bạn hãy dành đủ thời giờ, mặc dù công việc có bề bộn bao nhiêu. Dầu cho các bạn có trễ mất một buổi ăn, hay được ít tiền đi, các bạn cần phải kiếm thì giờ để học và hành Phật Pháp. Hãy đem lòng chân thật ra tu, rồi các bạn sẽ được cảm ứng. Nhưng nếu các bạn cho rằng ăn là quan trọng hơn Phật Pháp, hoặc là tiền có ý nghĩa hơn giáo pháp, thì các bạn sẽ không học được pháp nào. Các bạn hãy coi Phật Pháp là thiết yếu và quan trọng hơn mọi sự. Đó là thái độ căn bản của mỗi Phật tử.
     
    #4
  5. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    5. Thu Thập Thân Tâm
     
    Các bạn ngồi thiền thì phải biết mục đích ngồi. Thiền là phương pháp tu luyện sự tư duy, cũng là cách làm cho yên lặng mọi tư lự. Lúc bình thường chúng ta không ai nghĩ đến việc tu: do đó, mình bị 6 căn, 6 trần và 6 thức làm mê mờ, khiến quên tu. Do đó, ngồi thiền là cốt để hồi quang tự soi tâm mình, không chạy theo ngoại cảnh mà quét sạch nội tâm. Mình phải quét sạch hết mọi thứ cuồng tâm, dã tánh, tư dục, tạp niệm, vốn dĩ là những thứ chướng ngại sự tu hành. Giả sử bạn là kẻ có tâm cuồng vọng, tự đại đến độ không ai ưa bạn cả, hoặc bạn luôn có ý tưởng làm giàu, phát tài, hưởng thụ, ích kỷ, tự lợi, dối trá, tham lam, tranh giành, chạy theo ngoại vật v.v…thì bạn nên biết những ý tưởng ấy chính là “cuồng tâm” đấy.
    Khi bạn ngồi thiền, hãy xoay ánh sáng tâm linh soi sáng cõi lòng: bạn soi cho hết thất tình* lục dục** 6 căn 6 trần. Ngay lúc chiếu soi như vậy, bạn cần phải phản tỉnh tư duy: “Hằng ngày có phải chăng tôi cứ hướng tâm ra ngoài tìm cầu? hay tôi hướng nội, soi lòng để tìm chân lý?” Làm vậy tức là bạn phủi bụi nơi tấm gương tự tánh: Trí Huệ Tròn Đầy (Đại Viên Kính Trí). Tấm gương trí này xưa nay vốn thông thiên triệt địa, song le hiện nó tạm thời bị bụi bặm phủ kín. Do đó, Ngài Thần Tú Thiền sư dạy rằng:
    Thân như cây Bồ đề

    Tâm như đài kính sáng

    Luôn luôn siêng phủi sạch

    Chớ để bụi dính đầy.

    Cây Bồ đề chỉ sự giác ngộ; đài kính sáng tức là tấm gương trí huệ. Lúc nào bạn cũng phải nhớ lau chùi tấm gương ấy, không để bụi bám vào. Trí huệ tròn đầy như tấm gương này, xưa nay không việc gì mà nó không biết; nó rõ suốt và thấy suốt vạn sự. Song le bởi do ta bị 6 căn, 6 trần, 6 thức dụ hoặc nên cứ hướng tâm ra ngoài, rồi vì thế ta đánh mất đi trí huệ ấy, đắm mình theo việc truy đuổi hướng ngoại, không còn biết tự soi lòng nữa.
    Do đó, thiền hay sự tu luyện tư duy thật đơn giản: hồi quang phản chiếu, tìm chân lý ở nội tâm. Các bạn không nên để mình bị cột cứng vào chuyện thăng quan, phát tài, công danh, lợi lộc…
    Có vị hỏi: “Nếu chẳng đeo đuổi những thứ ấy, đời còn gì thú vị?” Các bạn cho rằng làm người là ý nghĩa thú vị lắm sao? Những việc bạn làm thực sự có giá trị chăng? Những việc ấy có giúp gì cho trí huệ của bạn không?
    Nếu bạn phủi sạch bụi bặm, Trí Huệ Tròn Đầy Như Gương Sáng của bạn sẽ chiếu suốt thiên địa, thấu khắp ba ngàn cõi Đại Thiên Thế Giới. Lúc ấy bạn sẽ chẳng trở lại ngu si phiền não nữa, há đây chẳng phải là tuyệt diệu lắm sao? Trái lại, nếu bạn tối ngày đầy phiền não ưu tư, thì bạn tự tạo địa ngục, tự giam mình vào đó; há đây là chuyện khoái lạc lắm ư?
    Tu hành là đoạn phiền não. Hiện tại các bạn ai cũng có phiền não. Nếu các bạn coi phiền não như cơm, mỗi ngày không ăn cơm phiền não, tựa hồ như không sống nổi, thế thì cuộc đời bạn cứu cánh có giá trị lắm sao?
    Nhân vậy, khi tọa thiền bạn cần giữ, cột tâm vào một điểm, rồi tuyệt ưu tư phiền não. Mặc cho trời sập, đất long, bom nổ, bạn cứ điềm nhiên, đừng chú ý nó.
    Bạn hỏi: “Nếu vậy, há tôi không trở thành thờ ơ, bỏ rơi thế sự sao?” Bạn thật có khả năng khống chế, chủ động việc thế sự sao? Đừng nói đến bạn, là người dân bình thường, ngay cả các vị nguyên thủ, lãnh đạo quốc gia cũng không có năng lực làm chủ thế sự. Họ có khả năng làm người ta hết phiền não chăng? Các vị Cao Ủy Liên Hiệp Quốc có thể làm chủ lòng người chăng? Đừng nói chi tới lòng người khác, ngay cả như chính con tim của họ, họ có làm chủ được không?
    Nếu bạn thật có khả năng đoạn hết phiền não, làm cho mọi người bình an, thì bạn mới đáng gọi là một bậc lãnh tụ thế giới. Trước mắt, bạn chưa thể làm vậy, do đó bạn phải bắt đầu từ nơi mình mà hạ thủ. Tức là: ghép mình vào kỷ luật, huấn luyện để tư tưởng bạn không còn tranh chấp, không còn tham lam, không còn mong cầu truy đuổi, không còn ích kỷ, tư lợi, dối trá. Làm được vậy, tối thiểu bạn không gây ô nhiễm môi trường, mà ngược lại bồi tiếp thêm chính khí trong trời đất, hóa giải đi mọi độc khí, sát khí dẫy đầy trong không trung. Nguyên lai, mục đích của tọa thiền là để ta trừ mọi thói hư, tật xấu, tham, sân. Do đó nếu bạn cứ đòi hỏi ăn ngon, mặc đẹp, ở sướng đồng thời lại muốn thành Phật, thì thật là điên cuồng.
    Có người nói: “Ấy Thầy mở miệng là chửi mắng người ta!” Không đâu, tôi không chửi mắng các bạn; tôi chưởi mắng những con quỷ. Bởi vì trong bụng nhiều bạn đầy dẫy bọn quỷ. Khi bọn quỷ ấy nghe mắng thì chúng khó chịu bức rức lắm; thế rồi bọn quỷ đó xui khiến, làm những bạn ấy không còn chịu ngồi thiền nữa.
    Bây giờ các bạn hãy nhân cơ hội tốt đẹp này mà phủi sạch bụi nơi tấm gương lòng, tức là Trí Huệ Tròn Đầy.
    “Nhưng tôi không biết làm sao tu?”
    Bạn hãy nhẫn nại. Chịu khó nhịn mắng, nhịn chửi. Từ từ bạn sẽ hiểu làm sao tu.
    Khi Thầy Duy-na gõ khánh kết thúc buổi tọa thiền, các bạn từ từ duỗi chân ra và động đậy chút ít. Hãy làm một cách từ tốn khoan thai; không nên thô động, gấp rút. Tuy đây là một điểm nhỏ, song ngay ở việc nhỏ, vi tế ấy bạn học cách điều hòa thân và tâm. Ở trong thiền đường, dù cho có rất nhiều người tham gia, nhưng bạn không bao giờ nghe tiếng động lào xào, huyên náo. Ai ai cũng chuyên ý vào câu thoại đầu để dụng công.
     
    #5
  6. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Phụ Lục:
    Trích Khai Thị 5:

    Qui Củ Thiền Thất
     
    Năm 1959, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (Dharma Realm Buddhist Association) được thành lập. Tiền thân của Hội là Tổng Hội Phật Giáo Trung Mỹ. Từ ngày thành lập đến nay, mỗi năm Hội đều tổ chức nhiều khóa Phật-thất và Thiền-thất; song, những Thất ấy đều được tiến hành trong im lặng nên rất ít người biết là tại Chùa Kim Sơn có đả Phật-thất hay Thiền-thất. Ðó cũng vì chúng ta không quảng cáo tuyên truyền, cũng không phan duyên, mà chỉ chân thật tu hành thôi. Nếu ai biết có đả Thiền-thất, muốn tới tham gia, thì vẫn được hoan nghênh. Song chúng ta tuyệt đối không cầu cạnh hay kêu gọi người khác giúp đỡ, nói rằng: "Chùa Kim Sơn đang đả Thất, có mấy vị 'vô-tâm đạo nhân' tu ở đó đấy. Quý vị hãy tới đó cúng dường thì công đức sẽ nhiều vô lượng." Từ xưa tới nay chúng ta không hề rêu rao, tự quảng cáo như thế!
    Ở Trung Quốc, mỗi khi có Thiền-thất, tiền cúng dường của thí chủ có thể đủ để trang trải chi phí cho cả năm; đôi lúc còn dư là đằng khác. Lúc đả Thất, rất nhiều vị cư-sĩ phát tâm cúng dường để kết thiện duyên và cung cấp cho chùa nhiều phẩm vật như gạo, mì, dầu, tương, thực phẩm khô, v.v...
    Tại Mỹ, Phật-giáo đang còn phôi thai nên phải chuyển hóa những sai lầm của quá khứ để hướng tới chỗ hoàn mỹ. Có câu: "Bắt đầu tốt đẹp, tức là đã thành công được một nửa." Chúng ta không dùng thủ đoạn để được cúng dường. Nếu chúng ta dùng những thủ đoạn và phương pháp như ở Trung Quốc, có lẽ chúng ta đã thành công hơn!
    Vì sao chúng ta không cầu xin cúng dường? Bởi vì chúng ta trước hết cần phải thành thật tu hành và thuận theo sự sắp đặt của chư Phật, Bồ-tát. Chư Phật, Bồ-tát, Thiên-long Bát-bộ, Hộ Pháp Thiện-thần thấy chúng ta dụng công tu Ðạo, tự nhiên sẽ khiến cho có cảm ứng. Nếu chúng ta không chân thật tu hành, thì dù có người đến cúng dường, chúng ta cũng phải vô cùng hổ thẹn; vì:
    Tam tâm bất liễu thủy nan tiêu,
    Ngũ Quán nhược minh kim diệu hóa.
    (Ba tâm chưa dứt, nước khó tiêu.
    Năm Quán nếu rõ, vàng cũng hóa.)

    Nếu chúng ta chưa đoạn ba tâm (tâm quá khứ, tâm hiện tại và tâm vị lai), thì dù thí chủ cúng dường một ly nước chúng ta uống cũng không tiêu hóa được. Nhưng nếu chúng ta hiểu rõ đạo lý của năm điều quán tưởng thì dù ăn vàng ăn sắt cũng tiêu hóa dễ dàng. Thế nào là Năm Quán?
    1. Hãy xét công lao nhiều ít đã tạo ra bát cơm này.
    2. Hãy suy nghĩ xem đức hạnh của mình hoàn hảo hay khiếm khuyết mà nhận đồ cúng dường.
    3. Hãy ngăn ngừa tâm mình, khiến xa lìa lỗi lầm, mà tham sân si là gốc.
    4. Hãy coi thức ăn là vị thuốc, dùng nó để trị thân khô gầy.
    5. Vì để tu thành Ðạo-nghiệp, do đó mình mới thọ thực.
    Ðêm nay là bắt đầu Thiền-thất. Thiền-thất ở Chùa Kim Sơn chúng ta và Thiền-thất ở các tùng lâm bên Trung Quốc khác nhau lắm. Họ đả Thiền-thất thì cũng chính là đả "thực thất," bởi vì đêm nào họ cũng ăn bánh bao! Ngay cả Chùa Kim Sơn ở Trấn-giang và Chùa Cao Mân ở Dương-châu cũng không ra ngoài lệ ấy. Rất nhiều Thiền-sinh chuyên môn tới những chùa có ăn bánh bao tối để dự Thiền-thất. Chỗ nào có bánh bao ngon là họ tới tham gia. Họ không chọn lựa phẩm chất của khóa Thiền mà chỉ chọn bánh bao to hay nhỏ, ngon hay dở. Do đó, một số chùa nổi tiếng là do có bánh bao to, ngon, thơm tho. Tôi nói vậy chẳng có ý hủy báng kẻ xuất gia không chịu buông bỏ chuyện ăn uống, mà chính vì thực tế có chuyện như vậy.
    Chùa Kim Sơn ở đây không có tục lệ ăn bánh bao, dù là một miếng nhỏ ăn lót dạ cũng không có.
    Ở Trung Quốc, trong khóa Thiền có rất nhiều cư sĩ đến cúng dường Thiền-sinh. Sau một giờ ngồi Thiền là có cư sĩ tới cúng dường bốn trái long nhãn. Sau giờ Thiền kế tiếp lại có kẻ khác tới cúng dường hai cái kẹo đậu phụng, hoặc miếng bánh. Nói tóm lại, cứ sau mỗi giờ Thiền đều có người tới cúng dường, khiến những vị "vô tâm Ðạo-nhân" nẩy lòng tham lam, ăn no phình bụng, chẳng thể tịnh tọa được nữa. Ở Chùa này những việc ấy sẽ không có; vì đó là sự khác biệt.
    Mỗi sáng, từ hai giờ rưỡi là bắt đầu tịnh tọa, rồi kinh hành-liên tục tới mười hai giờ khuya mới nghỉ ngơi. Phải tu khổ hạnh, khổ luyện. Phải làm chuyện chẳng ai làm đặng. Song, nếu chẳng đem hai chữ "sinh tử" treo trên lông mày, mà ngược lại, cứ cho rằng ngủ không đủ, rồi ngồi đó mà nhập "Tam-muội ngủ khì"- nếu quả như vậy thì vĩnh viễn sẽ chẳng thành tựu được.
    Phải "chẳng màng cái chết, quên đi mạng sống" mà đả thất. Phải chân thật dụng công đả thất. Phải gặt hái được kết quả mình phải đạt tới thì mới có thọ dụng. Chớ nên "tùy sóng đưa đẩy," ai làm gì thì làm theo. Thấy ai ngồi, ngồi theo; thấy ai ngủ, ngủ theo-như vậy là không được, chỉ lãng phí thời giờ, chẳng có ích gì cho chính mình cả.
    Xưa kia tôi từng tham gia đả Thiền-thất ở nhiều nơi. Ở đâu tôi cũng không bị vị Giám-hương (người đi tuần coi ai ngủ gục lúc ngồi Thiền thì dùng gậy đánh cho thức tỉnh) đánh cả. Vì sao? Bởi vì tôi không ngủ gật. Ban ngày ngồi ở Thiền-đường, ban đêm cũng ngồi ở Thiền-đường-cả ngày hai mươi bốn giờ đồng hồ tôi đều ngồi ở Thiền-đường, chẳng biết nghỉ ngơi là gì, ngủ ngáy là chi cả. Dù là một giây, tôi cũng chẳng lãng phí-lúc nào cũng dụng công phu mình phải dụng, lúc nào cũng đề khởi công phu của mình.
    Quý vị ở đây đều là những người có thiện căn sâu dày, thông minh, có trí huệ. Quý vị phải coi việc tu hành này thật quan trọng, chớ nên làm cho có lệ. Trong kỳ Thiền-thất này, nhất định phải có kẻ khai ngộ. Nếu không có ai khai ngộ thì sau khi Thiền-thất kết thúc, quý vị mỗi người phải chịu đòn một trăm gậy! Quý vị cảm thấy có thể chịu nổi một trăm gậy thì chẳng cần khai ngộ; nếu không chịu nổi thì phải ráng khai ngộ! Nếu ai sợ bị ăn đòn, thì bây giờ, lúc chưa bắt đầu Thiền-thất, có thể thối lui! Một khi đã tham gia thì phải tham gia từ đầu tới cuối, không được thối lui nửa đường. Theo quy ước của Thiền-đường, quý vị đã cáo biệt việc sống chết rồi-nếu có ai chết thì chỉ có cách vất xác xuống dưới Thiền-sàng, không được phép khiêng ra ngoài. Huống hồ là không có ai chết, thì mình không được nửa đường rút lui.
    Ngay đây quý vị phải vạch ra ranh giới giữa sống và chết. Nếu không sống tức là chết, nếu không chết tức là sống:
    Xả bất liễu tử, hoán bất liễu sinh.
    Xả bất liễu giả, thành bất liễu chân.
    (Vất không đặng cái chết, đổi không đặng cái sống.
    Bỏ không đặng cái giả, thành không đặng cái thật).

    Ðó là cửa ngưỡng cửa của Chùa Kim Sơn. Do đó Thiền-thất năm nay, quý vị cần phải vô cùng nỗ lực. Bất kể ra sao đi nữa, quý vị phải nhận rõ "bản lai diện mục" của mình. Nếu không nhận thức được "bản lai diện mục," thì không ai được tính chuyện trốn khỏi cửa lớn của Chùa Kim Sơn! Nếu quý vị trốn đi, quý vị sẽ bị "ở tù"! Ðại khái đó là quy luật của Thiền-thất năm nay, hy vọng quý vị sẽ tuân theo!
    (Giảng ngày 6 tháng giêng, năm 1974 tại Chùa Kim Sơn, San Francisco)
     
    #6
  7. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Tham Thoại Ðầu-Dùng Vọng Tưởng Ðể Chế Phục Vọng Tưởng

    Bây giờ sắp bắt đầu Thiền-thất.
    Ở Thiền-đường thì chúng ta không niệm Phật; trong lúc đả Phật-thất thì chúng ta không tham Thiền. Bây giờ, chúng ta phải "đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, đứng cũng Thiền, nằm cũng Thiền"-nói chung là đi, đứng, nằm, ngồi đều tham Thiền.
    Trước kia, kẻ tham Thiền thì chẳng hề khởi niệm; đó gọi là "vô niệm":
    Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện.
    Lục căn hốt động bị vân giá.
    (Một niệm chẳng sinh toàn thể (chân tâm) hiện.
    Sáu căn bỗng động, (Phật tánh) bị mây che.)

    Tham Thiền tức là tham cứu "một niệm chẳng sinh." Tới đời Minh thì người ta mới áp dụng phương pháp "tham thoại đầu." Nay thì Thiền-đường nào cũng tham thoại đầu. Thoại đầu có nhiều loại, như "Ai niệm Phật?" hoặc "Khi cha mẹ chưa sinh ra ta thì mặt mày ta ra sao?" hoặc "Thế nào là 'chẳng có'?" v.v...
    Tham Thiền là không khởi vọng tưởng gì cả
    . Thí dụ khi tham cứu câu "Ai Niệm Phật?" thì quý vị cứ suy nghĩ, tìm xem ai là kẻ niệm Phật. Song, kỳ thật đây cũng chỉ là một vọng tưởng; chẳng qua là chúng ta dùng một vọng tưởng để khống chế mọi vọng tưởng khác mà thôi. Biện pháp này gọi là "dĩ vọng chế vọng, dĩ độc công độc. Thậm chí niệm "A Di Ðà Phật" cũng là "dùng vọng chế vọng"; nghĩa là cái ý nghĩ niệm Phật là vọng, không thật. Và ngay cả cái niệm tham cứu câu "Niệm Phật là ai" cũng là vọng; song đó là vì một vọng tưởng này có khả năng khống chế được tất cả các vọng tưởng khác. Ðó là đạo lý tham Thiền.

    Người tham Thiền thì "Phật tới chém Phật, ma tới chém ma," không chấp trước cảnh giới nào cả. Khi tham Thiền tới chỗ "trên không biết có trời, dưới không biết có đất, giữa chẳng biết có người; ngoài chẳng biết có vật, trong chẳng biết có tâm," thì bấy giờ quý vị sẽ hợp làm một với Pháp-giới, có thể hoát nhiên khai ngộ. Quý vị hãy nhớ: Ðừng bị lay chuyển bởi thanh-trần (ngoại cảnh), đừng nhìn đông ngó tây, và cũng đừng để cho tâm loay hoay, không chuyên nhất!
    Khi tham Thiền đạt tới chỗ "không mình, không người, không chúng sinh, không thọ giả," thì quý vị sẽ chặt đứt được gốc rễ sinh tử và sẽ được gặp mặt Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni - bấy giờ quý vị mới biết được cái hay của việc tham Thiền.
    Từ vô lượng kiếp tới ngày nay, chúng ta thật may mắn gặp được pháp môn "đả Thiền-thất." Do đó, chúng ta phải đặc biệt chuyên nhất, chí thành khẩn thiết, ra sức dụng công, đừng phung phí thời giờ quý báu, đừng nghĩ ngợi vẩn vơ về những chuyện ăn, mặc, hay chỗ ở; bởi "một chút thời gian là một chút mạng sống"-thời gian và sinh mạng đều quý báu như nhau:
    Nhất thốn quang âm nhất thốn kim,
    Thốn kim nan mãi thốn quang âm,
    Thất lạc thốn kim dung dị đắc,
    Quang âm quá khứ nan tái tầm.

    Nghĩa là:
    Một tấc thời gian, một tấc vàng,
    Tấc vàng khó mua tấc thời gian,
    Tấc vàng rơi mất còn dễ kiếm,
    Thời gian trôi bẵng mới khó tìm.

    Bài thơ trên nói lên giá trị quý báu của thời gian lúc bình thường, huống hồ là lúc đả thất-thời gian ấy còn đáng quý hơn nữa. Không ai biết được vào phút nào, giây nào mình sẽ khai ngộ; do đó, quý vị nên tranh thủ từng giây từng phút, đừng lãng phí. Hy vọng quý vị tham gia Thiền-thất đều dũng mãnh tinh tấn, không phóng dật, buông lung. Phải nhẫn chịu mọi thứ khổ thì mới đạt được an lạc. Chịu đựng được điều mà người khác khó thể chịu đựng, nhẫn nhịn được điều mà người khác khó thể nhẫn nhịn, đó mới là tinh thần tu Ðạo!
    (Giảng vào tháng 9 năm 1975 tại Chùa Kim Sơn)
     
    #7
  8. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369

    Bí Quyết Khống Chế Vọng Tưởng

    Vạn Phật Thánh Thành mỗi năm đều có tổ chức vài Thiền-thất, mỗi thất là bảy ngày. Trước lễ vía A-Di-Ðà thì có một Phật-thất (7 ngày), rồi sau đó là liên tiếp ba Thiền-thất (21 ngày). Hằng năm, những người đến dự Thiền-thất đều tham gia từ đầu đến cuối, khiến công đức được viên mãn. Năm nay, hy vọng quý vị đến tham gia cũng giữ sự chung thủy, chẳng thối lui nửa chừng, bỏ Thiền-đường đi mất; bằng không thì công phu sẽ phải bỏ dở, lãng phí thời giờ, chẳng có sở đắc.
    Tư thế lúc ngồi cần phải ngay ngắn, thẳng lưng. Ðầu phải thẳng, không cúi xuống, không ngửa lui, không nghiêng trái, không quẹo phải. Sau đó, bắt tréo hai chân theo thế kiết-già-lấy chân trái bỏ lên đùi phải, kế đó lấy chân phải bỏ lên đùi trái-đó là tiêu chuẩn. Bởi vì tư thế kiết-già phu tọa khiến chúng ta dễ nhập Ðịnh, cho nên còn gọi là thế hàng ma tọa, thế kim-cang tọa, hay thế liên hoa tọa. Tư thế này có thể giúp tiêu trừ nghiệp chướng trong vô lượng kiếp, khiến liễu sanh thoát tử, tạo được vô lượng công đức.
    Lúc bắt đầu ngồi Thiền, quý vị cần phải luyện tập tư thế căn bản này. Kế đến, quý vị hãy điều chỉnh thân thể-mắt nhìn xuống chót mũi, từ mũi nhìn xuống miệng, từ miệng nhìn xuống tâm. Ðó là bí quyết để khống chế vọng tưởng. Sau đó mới điều hòa hơi thở-đừng mau, đừng chậm-hãy thở một cách tự nhiên. Lúc này quý vị mới tham cứu câu "Ai là kẻ niệm Phật?" Trải qua một thời gian lâu dài, việc tham Thiền sẽ có tác dụng.
    Việc dụng công tham Thiền cũng giống như "gà mẹ ấp trứng" vậy. Gà mẹ lúc nào cũng nghĩ đến gà con, cứ chuyên tâm hết lòng ấp trứng. Chẳng phải ấp được năm phút là chạy đi, rồi một lúc sau lại trở về ấp tiếp, ấp chưa tới năm phút lại chạy mất...; bởi làm như vậy thì vĩnh viễn không bao giờ trứng nở ra gà con đặng. Tham Thiền cũng thế-lúc nào cũng phải dụng công miên mật. Ðừng sợ đau lưng, đừng sợ nhức chân, đừng sợ khổ cực, đừng sợ gian nan. Hãy một lòng một dạ tham Thiền. Tham cái gì? Tham câu "Niệm Phật là ai?" Tham cho tới khi "sông cạn, núi cùng, nước dừng, đá hiện" thì lúc đó mới khai ngộ được.
    Tham Thiền lại cũng giống như "rồng ấp ủ hạt châu." Rồng lúc nào cũng ôm giữ bảo châu, chẳng hề lơ là hoặc không cẩn thận chú ý. Vì vậy, hạt châu ngày một sáng, còn rồng thì ngày đêm canh giữ hạt châu. Người tham Thiền cũng phải như thế-trong mỗi phút mỗi giây đều không khởi tạp niệm. Cổ nhân nói:
    "Nhất niệm bất sanh, toàn thể hiện."

    Nghĩa là khi một niệm không sanh khởi thì chân tâm, Phật-tánh hiện bày. Cũng có thể nói rằng:
    "Vọng niệm bất sanh, toàn thể hiện."

    Hễ vọng niệm không sanh khởi thì lúc ấy toàn thể sẽ hiện rõ. Khi ngừng bặt vọng tưởng, quý vị sẽ có cơ hội thành tựu.
    Người tham Thiền không nên nghĩ đến việc thành Phật, đừng để tâm tới chuyện khai ngộ, cũng chớ nghĩ tới chuyện đắc trí huệ. Cứ nỗ lực dụng công, cần cù chăm chỉ tu hành. Khi thời gian chín muồi thì sẽ khai ngộ. Ở trong Thiền-đường, quý vị cứ ngồi Thiền, xong lại đi kinh hành, rồi ngồi tiếp, xong lại đi kinh hành, rồi ngồi tiếp, xong lại đi tiếp... Cứ như vậy, tu một thời gian lâu dài thì quý vị sẽ có cơ hội thành tựu, bởi vì "cửu tọa hữu Thiền," ngồi lâu thì sẽ có Thiền.
    Tham Thiền lại cũng giống như "mèo rình chuột." Mèo phải định thần chú ý rình tại ổ chuột, chờ chuột chui ra là chụp ngay. Mèo không thể giải đãi; hễ tâm tán loạn thì không còn chú ý đặng. Người tham Thiền cũng thế-lúc nào cũng phải giữ chặt chánh niệm, không được sanh vọng niệm. Ðó là kiến thức vào Ðạo sơ cấp nhất của việc tham Thiền.
    Người tu Ðạo chớ xuống Nam-sơn cũng chớ lên Bắc-hải mà tìm Ðạo. Ðạo vốn ở ngay thân ta. Nếu quý vị có thể ngồi kiết-già phu tọa, chuyên tâm chú ý tham Thiền, thì đó là Ðạo. Không nên có tâm thích chuyện cao siêu diệu vợi, hướng tâm ra ngoài tìm Ðạo; vì như thế thì vĩnh viễn không tìm ra được đâu. Nếu quý vị bỏ cái gần kề để chạy đi tìm cái xa xôi, thì tới đâu quý vị cũng gặp toàn chuyện khó khăn, phiền toái. Ðó là tự mình chuốc lấy rắc rối, tự mình rước khổ vào thân!
    (Thiền-thất, 12/1980)
     
    #8
  9. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369

    Tham Thoại Ðầu

    "Tham" nghĩa là tìm-tìm xem ai là kẻ niệm Phật.
    "Tham thoại đầu" tức là nghiên cứu câu "Ai là người niệm Phật? Kẻ niệm Phật là ai?" Có câu:
    Ðại nghi, đại ngộ;
    Tiểu nghi, tiểu ngộ;
    Bất nghi, bất ngộ.
    (Nghi lớn, ngộ lớn;
    Nghi nhỏ, ngộ nhỏ;
    Không nghi, không ngộ.)

    Khi tham thấu triệt câu thoại đầu "Ai là kẻ niệm Phật?" rồi, thì sự tham Thiền ấy chính là thanh Kim-cang-vương Bảo-kiếm chặt đứt hết mọi dục niệm, chỉ còn một niệm tham cứu câu thoại đầu mà thôi. Lúc mọi ý niệm đều ngừng bặt, bấy giờ, Ðạo-tâm sẽ bừng dậy.
    Trước khi đả Thiền-thất thường có đả Phật-thất. Phật-thất xong mới đả Thiền-thất thì hiệu quả mới tốt đẹp. Trước niệm Phật, sau mới tham cứu thoại đầu "Ai là kẻ niệm Phật?"
    "Tham" có nghĩa là tìm-tìm xem ai là kẻ niệm Phật
    . Là quỷ ư? Vậy thì thuộc loại quỷ nào? Là người ư? Người nào vậy? Là mình ư? Mình chết rồi thì còn niệm được chăng? Bỏ vô quan tài rồi thì chẳng ai còn niệm Phật nữa cả! Hãy tìm xem, rốt ráo thì ai niệm Phật? Và niệm ai chớ? Hãy tìm xem, kẻ niệm Phật là ai? Ai đang niệm Phật? Quý vị tìm không ra ư? Dù quý vị vĩnh viễn tìm kiếm, cũng không tìm ra được! Nếu quý vị tìm ra được chữ "Ai" này, thì vọng tưởng gì cũng hết sạch. Vì sao quý vị vẫn còn vọng tưởng? Vì quý vị vẫn chưa tìm ra được cái "Ai"!
    Tìm cái "Ai" này có thể mất đến cả đại kiếp. Khi quý vị thấy những người tu hành lão luyện ngồi Thiền chẳng động đậy, chính là họ đang tìm cái "Ai" này vậy! Bởi vì chuyên tâm tham cứu cái "Ai" này nên mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, thoát nhiên khai ngộ. Lúc ấy, trong bóng tối âm u bỗng xuất hiện ánh hào quang sáng chói, chuyện gì quý vị cũng thấy rõ cả. Rằng:
    Mê thời thiên quyển thiểu,
    Ngộ thời nhất tự đa.
    (Lúc mê, ngàn sách còn ít,
    Ngộ rồi, một chữ cũng dư.)

    Ðó là đạo lý của việc tham cứu câu "Ai là kẻ niệm Phật?" Do đó, hễ người nào không khởi vọng tưởng thì người ấy có công phu. Người luôn khởi vọng tưởng thì bất cứ công phu gì cũng không thành cả. Ðó là điểm cốt tủy của việc tham Thiền.
    Công phu tham Thiền cốt ở sự chuyên nhất tham cứu-đi cũng tham, ngồi cũng tham, đứng cũng tham, nằm cũng tham. Nói tóm lại, lúc nào cũng phải tham Thiền, chớ bỏ qua cơ hội tham Thiền. Vì thế, lúc đả Thiền-thất chúng ta không lạy Phật, không tụng Kinh, không lên chánh-điện, không cúng quá-đường. Hễ tới giờ thì ăn; ăn xong lập tức tới Thiền-đường tiếp tục tham Thiền. Lúc cần đi nhà vệ sinh thì đi, xong rồi phải tức khắc trở lại Thiền-đường để tiếp tục tham Thiền. Ðừng lãng phí một phút một giây, bởi vì biết đâu chính trong một phút một giây ấy quý vị có thể khai ngộ thì sao? Do đó, hãy tranh thủ từng giây, từng phút một!
    Có câu: "Ðừng rời cái này!" Không rời cái gì? Tức là không rời câu thoại đầu "Ai là kẻ niệm Phật?" Không rời xa câu này, nên đó chính là thanh gươm trí huệ cắt đứt thất tình, lục dục. Một khi thói hư tật xấu trừ sạch thì bổn tánh sẽ hiện tiền. Khi bổn tánh hiện tiền thì Ðạo-quả Giác-ngộ sẽ thành tựu.
    Trong thời gian tham Thiền, quý vị phải đối diện với thực tế, khắc phục mọi hoàn cảnh, giữ chặt tông-chỉ. Phải nhớ rằng khổ đau là khởi đầu của an lạc. Tôi thường nói với quý vị là:
    "Chịu khổ thì hết khổ,
    Hưởng phước thì mất phước!"

    Cổ nhân có dạy:
    "Họa là chỗ phước dựa vào,
    Phước là nơi họa cậy nương."
    Theo sau chuyện hung xấu thường có điềm lành tới; bên cạnh chuyện yên ổn có thể sẽ có chuyện không may. Pháp thế gian thì luôn ở thế đối đãi như vậy. Từ bao kiếp lâu xa đến nay không biết chúng ta đã tạo bao nhiêu ác nghiệp, thế nên giờ đây chúng ta phải chịu quả báo. Nếu quý vị biết nỗ lực dụng công, dũng mãnh tinh tấn, trả sạch hết nghiệp thì sẽ thành tựu Ðạo-quả.
    Quý vị hãy chú ý! Bất luận là cảnh giới thuận (theo lòng mình) hay cảnh giới nghịch (với ý mình) thì quý vị cũng hãy nhẫn chịu-nhẫn chịu không nổi cũng phải ráng nhẫn chịu! Tu Ðạo chính là tu nhẫn nhịn; có câu:
    "Nhẫn là bảo bối vô giá."

    Nếu quý vị có thể nhẫn nhịn, chịu đựng mọi chuyện, thì sẽ có được sự an lạc chân chánh. Cũng như kẻ luyện võ mà chưa đủ kinh nghiệm-lúc phải vật lộn thì quên bẵng tất cả chiêu số, đến khi đánh đấm xong mới nhớ ra các thế võ để đánh thì đã quá muộn! Tham Thiền cũng vậy-khi cảnh giới đến thì quý vị phải nhẫn chịu, phải chịu thiệt thòi, phải cắn răng chịu đựng; khivượt qua khó khăn rồi quý vị mới đạt được sự tự tại.
    Khi tham Thiền, quý vị phải sáng tham như vậy, chiều cũng tham như vậy. Sáng tu Thiền, chiều cũng tu Thiền. Tu lâu ngày thì sẽ thành tựu. Nhẫn nại được, tức là dù đau lưng cũng chẳng màng, đau gối cũng mặc kệ, cứ nhất tâm nhất niệm tham câu "Ai là kẻ niệm Phật?" Nếu lúc nào cũng được như vậy thì quý vị sẽ chẳng khởi vọng tưởng, có thể nhiếp thọ, thâu phục thân tâm, khiến tâm trí thanh tịnh tới mức một vọng niệm cũng không dấy khởi. Quý vị hãy giữ cho tâm đừng rời câu thoại đầu "Ai là kẻ niệm Phật?"; lúc nào cũng đề khởi, lúc nào cũng chẳng quên-đó chính là mục tiêu của sự dụng công.
    Việc tham thoại đầu thì chỉ có một vọng tưởng, còn tạp niệm thì có vô số vọng tưởng. Do đó, chúng ta dùng phương pháp "dĩ độc công độc"-lấy một vọng tưởng "tham cứu thoại đầu" để khống chế tất cả các vọng tưởng khác-dần dần, từng vọng tưởng một sẽ bị tiêu diệt, không còn tái khởi. Lúc ấy, bất luận là cảnh giới gì đến quý vị cũng không còn bị mê hoặc; quý vị biết biện biệt rõ ràng thì không thể nào bị "tẩu hỏa nhập ma." Người xưa nói:
    "Ninh khả thiên sanh bất ngộ,
    Bất khả nhất nhật trước ma."
    (Thà rằng ngàn đời không ngộ,
    Chẳng để một ngày vướng ma.)

    Khi tu Thiền-định, quý vị cần phải cẩn thận, dè dặt, chớ có cực đoan. Phải chánh đại quang minh, đừng để bọn ma quỷ có cơ hội hại quý vị. Khi quý vị có tạp niệm tức là quý vị mở cửa cho ma quỷ lọt vào! Do đó, tham thoại đầu chính là Pháp-bảo "đuổi ma"!
    (Thiền-thất 12/1280)
     
    #9
  10. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Cảnh Giới Thiền

    Ngồi Thiền, ngồi tới lúc trong không có thân tâm, ngoài không có thế giới, xa gần đều trống rỗng thì mới đạt đến chỗ không có ngã-tướng, không có nhân-tướng, không có chúng-sinh-tướng, không có thọ-giả-tướng; cũng là lúc "tâm quá khứ không có, tâm hiện tại không có, tâm vị lai cũng không có." Ðạt tới cảnh giới này chưa phải là đắc được công phu thật sự, cũng chẳng có gì đặc biệt đâu. Dù quý vị ngồi được một giờ, hay ngồi được mười giờ, nhẫn đến ngồi suốt một tháng, mười tháng, đó chẳng qua là công phu của quý vị có được chút ít tương ưng, chỉ mới được chút ít cảnh giới khinh an mà thôi. Trải qua cảnh giới nhẹ nhàng khinh an, cứ tiếp tục tham Thiền thì quý vị sẽ nhập cảnh giới Sơ-Thiền.
    Sơ-Thiền-Thiên gọi là "Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa," tức là cảnh giới xa rời những lạc thú của chúng sanh. Tại cảnh giới "Ly Sinh Hỷ Lạc Ðịa, quý vị rất mau nhập Ðịnh. Trong lúc nhập Ðịnh, hơi thở sẽ ngừng hẳn-không ra không vào, không đi không đến-giống như con rùa tới mùa đông thì rụt đầu vào mu, đình chỉ sự hô hấp bên ngoài, song sự hô hấp ở bên trong vẫn tiếp tục. Ðó là hiện tượng "đông miên." Người tham Thiền, khi nhập Ðịnh thì ngừng thở, nhưng khi xuất Ðịnh thì vẫn hít thở như thường. Quý vị hãy chú ý! Tới cảnh giới này quý vị chớ khởi vọng niệm: "A! Ngừng thở rồi!" Khi vọng niệm ấy nảy sinh thì hô hấp sẽ tiếp nối ngay. Do đó không thể thiếu cảnh giác, bằng không quý vị sẽ lỡ mất cơ hội và phải làm lại từ đầu.
    Từ Sơ-Thiền, nếu quý vị tinh tấn tu tập thì sẽ nhập Nhị-Thiền. Nhị-Thiền-Thiên gọi là "Ðịnh Sanh Hỷ Lạc Ðịa," tức là trong cảnh giới Ðịnh, niềm hỷ lạc sanh khởi. Nên có câu:
    Thiền duyệt vi thực, Pháp hỷ sung mãn.
    (Thiền vị là thức ăn, sung mãn niềm vui Pháp.)

    Nhập cảnh giới này, chẳng những ngừng thở, mà tim cũng ngừng đập. Mạch tim chỉ ngừng chớ không phải dứt hẳn, nên khi xuất Ðịnh sẽ trở lại bình thường.
    Từ Nhị-Thiền, nếu quý vị tiến tu thì nhập Tam-Thiền. Tam-Thiền-Thiên gọi là "Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa," nghĩa là xa rời mọi sự hoan lạc thô thiển, chỉ còn niềm vui vi tế, vô cùng vi diệu. Nhập cảnh giới Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa, thì không những hơi thở ngừng, tim hết đập, mà ý niệm cũng dứt hẳn, hệt như một người chết vậy. Lúc ý niệm dứt thì mọi vọng tưởng mông lung cũng dứt.
    Khi hơi thở ngừng lại máu huyết hết dưỡng khí nên sự tuần hoàn cũng đình chỉ, do đó tim cũng không đập, không còn có mạch nữa. Lúc ấy tạp niệm chẳng còn. Giả sử hơi thở là gió, mạch là sóng, mà ý niệm là nước-nếu gió im thì sóng lặng, nước tự nhiên yên tịnh. Ðó chính là đạo lý "giớ ngừng, sóng lặng" vậy. Ðây là tác dụng tạm thời lúc nhập Ðịnh chứ không phải là dứt hẳn như khi chết. Lúc nào muốn phục hồi hơi thở hay mạch đập thì chúng lại hoạt động bình thường.
    Từ Tam-Thiền mà tinh tấn tu Thiền-định thì nhập cảnh giới Tứ-Thiền. Tứ-Thiền-Thiên gọi là "Xả Niệm Thanh Tịnh Ðịa," nghĩa là xả bỏ niềm vui vi diệu của Tam-Thiền, tâm niệm thanh tịnh. Hơi thở ngừng, huyết mạch ngừng, ý niệm ngừng; song cảnh giới ấy cũng phải xả bỏ luôn thì lúc đó bản tánh Chân-như thanh tịnh mới hiện tiền. Cảnh giới này, quý vị chớ nghĩ lầm là xuất sắc hay đặc biệt, bất quá chỉ là ở cõi Tứ-Thiền mà thôi, chưa phải là cảnh giới chứng đắc Ðạo-quả. Ðây vẫn còn là địa vị phàm phu, bởi vì dục vọng chưa đoạn tuyệt. Từ cảnh giới này, nếu quý vị tu phép Tà-định của ngoại đạo thì sẽ nhập Vô Tưởng Thiên, thọ hưởng cảnh giới vô cùng an lạc. Nhưng nếu quý vị tu phép Chánh-định thì sẽ nhập Ngũ Bất Hoàn Thiên, tức là cảnh giới của bậc chứng quả.
    Nếu chứng được Sơ-quả A-la-hán, tức là quả vị Tu-đà-hoàn, thì không những khi nhập Ðịnh không còn vọng niệm, mà khi đi đứng nằm ngồi đều chẳng có vọng tưởng, chẳng có chấp trước. Ðạt được Sơ-quả thì chỉ mới đoạn được tám mươi tám phẩm kiến-hoặc (sự mê mờ do cái thấy) trong Tam-giới mà thôi. Hãy còn bảy vòng sinh tử nữa, chứ chẳng phải chứng Sơ-quả là nhập Niết-bàn được đâu. Lúc chứng được Sơ-quả, bất luận là gặp cảnh giới gì cũng không bị dao động, "đối cảnh vô tâm" (gặp cảnh, không khởi tâm tưởng), duy chỉ có Ðạo-tâm, chuyên nhất tu Thiền. Giả như cảnh giới bên ngoài có trang nghiêm, đẹp đẽ ra sao, như là gái đẹp, trai bảnh, cũng không thể làm cho tâm quý vị dao động. Lúc bấy giờ quý vị cũng chẳng tham tiền, tham sắc, tham danh, tham ăn, hay tham ngủ nữa. Mọi thứ đều không tham thì mới có thể gọi là chứng quả. A-la-hán Sơ-quả đi không gây ra tiếng động bởi vì chân họ cách xa mặt đất ba phân. Vì sao vậy? Vì thánh-nhân đắc quả có lòng từ bi, sợ rằng sẽ đạp chết các côn trùng nhỏ, nên mới đi trong hư không.
    Quý vị hãy chú ý! Không được tự xưng là đã chứng ngộ khi chưa chứng ngộ, hay là đã đắc quả khi chưa đắc quả. Như thế là phạm giới vọng ngữ, tương lai phải đọa địa ngục kéo lưỡi. Tôi phải nói trước cho quý vị rõ, còn tin hay không là tùy ở quý vị. Trong số Phật tử có kẻ chưa khai ngộ mà cứ tự rêu rao là đã khai ngộ, đó là hành vi không thể chấp nhận được. Dù thật quý vị đã khai ngộ, quý vị cũng không nên khoe khoang: "Tôi khai ngộ rồi! Tôi có Ngũ-Nhãn Lục-Thông rồi nè!" Quý vị chớ tự tuyên truyền, tự mình quảng cáo cho mình; vì như thế thật chẳng có ý nghĩa gì cả.
    Ngay cả Phật và Bồ-tát, các Ngài cũng không tự tuyên truyền, tự quảng cáo. Nếu có ai biết vị này là Bồ-tát hay vị kia là Phật hóa thân thị hiện ở thế gian, thì các Ngài liền biến mất. Ðời Ðường có hai vị Ðại-sư, một vị là Hàn Sơn, một vị là Thập Ðắc. Hàn Sơn là hóa thân của Ðức Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, còn Thập Ðắc là hóa thân của Ðức Phổ Hiền Bồ-tát. Cả hai ngài Hàn Sơn và Thập Ðắc vốn là quý vị đồng tu rất thân với nhau. Ngài Thập Ðắc khi còn thơ ấu được Phương-trượng Phong Can đem về Chùa Quốc Thanh nuôi nấng và dạy bảo. Ngài Thập Ðắc chuyên việc nấu nước trong nhà trù và mỗi ngày góp nhặt đồ ăn thừa cho vào ống trúc đem cúng dường ngài Hàn Sơn. Ngài Hàn Sơn thì ngụ ở động Nguyệt-quang trên núi Thiên-thai, mỗi ngày tới Chùa Quốc Thanh nhận đồ thừa để ăn. Hai ngài tâm đồng ý hiệp, thường cười đùa bỡn cợt với nhau, nên cả chùa ai cũng cho các ngài là hai người điên, chẳng ai đếm xỉa gì đến họ cả. Không ai biết rằng hai ngài là Bồ-tát hóa thân, du hý ở nhân gian để cứu độ những chúng sanh cần được độ.
    Một hôm, quan Thái-thú Lã Khưu Yên tới gặp Hòa-thượng Phong Can và hỏi rằng: "Thưa Thiền-sư, trong quá khứ chư Phật và Bồ-tát thường hóa thân tới thế giới này, vậy thời nay chư Phật và Bồ-tát có còn hóa thân tới cõi này nữa hay không?"
    Ngài Phong Can đáp: "Có chớ! Bất quá ngài không nhận ra mà thôi. Bây giờ tại Chùa Quốc Thanh núi Thiên-thai, vị Thầy chuyên nấu nước ở nhà trù chính là Phổ Hiền Bồ-tát đấy. Thầy có một người bạn là Hàn Sơn, tức là Văn Thù Bồ-tát. Sao ngài nói chẳng có ai?"
    Lã Thái Thú nghe xong rất vui mừng, bèn đi gấp đến Chùa Quốc Thanh để đảnh lễ hai vị Bồ-tát Hàn Sơn và Thập Ðắc.
    Thầy Tri-khách Chùa Quốc Thanh thấy quan Thái-thú đến viếng thì ân cần tiếp đãi. Nhưng khi nghe vị quan này muốn gặp Hàn Sơn và Thập Ðắc thì ngạc nhiên vô cùng, chẳng biết vì sao ông ta lại muốn gặp hai người điên này. Tuy không hiểu được lý do, Thầy cũng dẫn quan Thái-thú tới nhà trù. Bấy giờ đúng lúc hai ngài Hàn Sơn và Thập Ðắc đang cười nói bô bô như hai kẻ điên khùng khiến ai cũng nực cười. Nhưng Lã Thái Thú vô cùng cung kính đảnh lễ hai Ngài, rồi cũng hết sức cung kính thưa: "Ðệ tử là Lã Khưu Yên xin thỉnh cầu quý Ðại Bồ-tát từ bi dạy bảo cho kẻ mê muội này!"
    Ngài Thập Ðắc hỏi: "Ông làm gì thế?"
    Thái-thú đáp: "Con nghe Hòa-thượng Phong Can dạy rằng hai Ngài là hóa thân của Ðức Văn Thù và Ðức Phổ Hiền. Bởi vậy con đặc biệt tới đây để xin đảnh lễ và khẩn cầu quý Ngài khai thị cho con."
    Ngài Thập Ðắc nghe xong thì vừa thụt lùi vừa nói: "Ngài Phong Can nói nhảm! Ngài Phong Can nói nhảm! Ngài Phong Can là hóa thân của Ðức A Di Ðà, sao không lạy Ngài mà lại tới đây quấy rầy chúng tôi?"
    Nói xong thì chạy ra khỏi chùa, lên tới động Nguyệt-quang núi Thiên-thai rồi, cả hai ngài nhập vào vách đá. Thái-thú thấy vậy vô cùng thất vọng bởi vì hai vị Bồ-tát đã ẩn mình trong vách đá, không ra nữa. Ông ta nghĩ thầm: "Thôi hãy về lạy Ðức Di Ðà vậy!"; nhưng khi y về tới chùa thì mới hay Ngài Phong Can cũng đã viên tịch. Ðúng là "đang diện thác quá" (vuột mất cơ hội trước mắt). Cho nên có câu rằng:
    "Ðối diện với Ðức Quán Thế Âm mà chẳng nhận ra được Ngài."
    Trong Thiền-đường này cũng có Quán Thế Âm Bồ-tát, song tôi không thể tiết lộ cho quý vị biết được, để Ngài khỏi bị quý vị đuổi chạy mất!
    (Thiền thất 12/1980)
     
    #10
  11. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Ngồi Thiền Có Thể Chấm Dứt Sinh Tử

    Vào những năm cuối của triều đại Bắc Tống, Trung Quốc có một vị anh hùng dân tộc tên là Nhạc Phi. Cha ông qua đời khi ông còn thơ ấu. Mẹ ông là một người hiền đức, trí huệ. Cả hai mẹ con nương tựa nhau mà sống. Nhạc Phi được mẹ dạy học và dạy viết. Bởi nhà quá nghèo, không có tiền mua giấy bút và mực nên Nhạc Phi phải tập viết chữ trên cát; thế mà về sau ông nổi tiếng viết chữ đẹp. Ðến lúc trưởng thành thì ông đầu quân. Mẹ ông lúc ấy xâm trên lưng ông bốn chữ "tận trung báo quốc" để nhắc ông phải luôn ghi nhớ chí nguyện lớn lao cứu nước cứu dân.
    Lúc bấy giờ quân Kim xâm lược Bắc Tống, chiếm Biện-kinh (Khai-phong), đày hai vua Hội Tông và Khâm Tông lên miền Bắc. Hội Tông là vua đã thoái vị, có hai người con là Khâm Tông và Khang Vương. Khang Vương lúc ấy đang ở Hàng-châu, liền lên ngôi, đặt tên nước là Nam Tống, tự xưng là Tống Cao Tông, phong Tần Cối làm Tướng-quốc. Ðương thời, các quan văn thì chủ trương hòa giải với quân Kim, nhưng các quan võ thì chủ trương chiến tranh.
    Bấy giờ Nhạc Phi đại thắng quân Kim ở trấn Chu-tiên (rất gần Biện-kinh) và dự định tiến đánh kinh đô quân Kim ở Hoàng-long (tức Kiết-lâm, Nông-an bây giờ). Chẳng may Nhạc Phi bị Tần Cối đố kỵ và dùng mười hai đạo kim bài giả để triệu hồi về kinh thành. Nhạc Phi vốn mang tư tưởng "trung quân, ái quốc" nên vâng mệnh vua trở về kinh đô. Lúc tới sông Trường-giang, ngang qua Chùa Kim Sơn, ông đến bái kiến Thiền-sư Ðạo Duyệt.
    Thiền-sư Ðạo Duyệt khuyên ông đừng trở về kinh thành, hãy ở lại Chùa Kim Sơn (Trấn-giang) xuất gia tu hành thì có thể sẽ tránh được tai nạn. Song, Nhạc Phi vốn đã coi thường sống chết và lại nghĩ rằng bổn phận kẻ làm tướng là phải tuân mệnh vua, không thể cho là "tướng ở ngoài có lúc không phải tuân theo lệnh vua." Do đó ông đã không nghe theo lời khuyên của Thiền-sư Ðạo Duyệt. Lúc chia tay, Thiền-sư tặng ông một bài kệ:
    Tuế để bất túc,
    Cẩn phòng thiên khốc,
    Phụng hạ lưỡng điểm,
    Tương nhân hại độc.
    (Chưa đến cuối năm,
    Ðề phòng trời khóc,
    Dưới "phụng" hai chấm,
    Hãm hại ngươi đấy!)

    Khi Nhạc Phi về tới Hàng-châu, Tần Cối dùng ba chữ "Mạc tu hữu" (bịa đặt) để hạ lịnh bỏ tù hai cha con Nhạc Phi. Gần đến ngày thọ hình, Nhạc Phi mới chợt hiểu thâm ý bài kệ của Thiền-sư Ðạo Duyệt. Năm ấy, ngày hai mươi chín tết, trời mưa tầm tả. Nhạc Phi ngồi trong ngục lắng nghe tiếng mưa rơi và chợt vỡ lẽ rằng đại nạn đã kề bên. Lời tiên tri của Thiền-sư Ðạo Duyệt cuối cùng đã ứng nghiệm. "Phụng hạ lưỡng điểm" (dưới chữ "phụng" có thêm hai chấm) tức là chữ "tần," ám chỉ Tần Cối. Quả nhiên Nhạc Phi sau đó bị xử chém tại Phong Ba Ðình.
    Bấy giờ Tần Cối hỏi đao phủ: "Nhạc Phi khi sắp bị chém có nói gì chăng?" Ðao phủ đáp: "Tôi chỉ nghe y nói rằng y hối hận vì không chịu nghe lời Thiền-sư Ðạo Duyệt ở Chùa Kim Sơn nên mới nhận lãnh hậu quả thê thảm này." Nghe vậy, Tần Cối vô cùng tức giận, liền phái Hà Lập tới Chùa Kim Sơn gấp để bắt Thiền-sư Ðạo Duyệt. Song Thiền-sư trong khi nhập Ðịnh một ngày trước đó đã biết được nhân duyên này, nên Ngài đã để lại một bài kệ:
    Hà Lập tự Nam lai,
    Ngã vãng Tây-phương tẩu.
    Nhược phi Phật-pháp đại,
    Khải bất lạc tha thủ.

    Nghĩa là:
    (Hà Lập từ Nam đến,
    Ta nhắm Tây-phương đi.
    Phật-pháp nếu không tường,
    Ắt lọt vào tay hắn.)

    Chuyện này chứng minh rằng khi công phu Thiền-định của người tu hành đã tới cực điểm thì có thể khống chế được sinh tử, muốn lúc nào vãng sinh cũng được, tự mình điều khiển định mệnh-đó là một điều rất đương nhiên. Thuở xưa, các Thiền-sư đều có công phu như vậy-tự do sống chết, toại tâm như ý. Ðời Ðường có vị Thiền-sư tên Ðặng Ẩn Phong, có thể lộn ngược đầu xuống đất mà viên tịch. Gần đây có vị Phật Sống ở Chùa Kim Sơn đứng mà viên tịch. Ðó đều là nhờ có công phu Thiền-định nên họ có thể đến và đi tự do, không bị hạn chế gì cả.
    (Thiền thất tháng 12 năm 1980)
     
    #11
  12. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Tham Thiền là Phương Pháp Khai Ngộ

    Phật-giáo sau khi được truyền sang Trung Quốc thì phân làm năm tông phái là Thiền, Giáo, Luật, Tịnh, Mật. Thiền là Thiền-định; Giáo là Giáo-lý; Luật là Giới-luật; Tịnh là Tịnh-độ; Mật là trì Chú. Lúc này là lúc đả Thiền-thất, nên chỉ giảng về lý Thiền, còn bốn tông phái kia thì tạm thời không đề cập đến.
    Thiền-na, dịch là "Tư Duy Tu," nghĩa là thường tư duy, suy gẫm về một việc. Việc gì? Tức là thoại đầu. Xem xét "Ai Niệm Phật?" gọi là tham Thiền. Kỳ thật, tham thoại đầu cũng chỉ là vọng tưởng; bất quá chúng ta dùng vọng tưởng để chế phục vọng tưởng, "dĩ độc công độc," tức là lấy một vọng tưởng để tiêu diệt nhiều vọng tưởng khác. Công phu tham thoại đầu đòi hỏi phải trải qua thời gian dài thì mới thành tựu, do đó nói: "Tham cứu lâu mới có Thiền."
    "Tham" cũng giống như lấy cái khoan đục vào gỗ vậy. Chưa đục xuyên thủng thì chưa ngừng, chẳng thể nửa đường bỏ phế; bởi nếu thế thì công phu từ trước hoàn toàn vất bỏ. Tham Thiền, quan trọng nhất là nhẫn nại được. Khi nhẫn nại đến chỗ tột đỉnh thì có thể chẳng nảy sinh một vọng niệm nào cả. Khi "một niệm chẳng sinh" thì có thể khai ngộ. Có câu:
    "Ðầu sào trăm thước, dấn thêm một bước."

    Nghĩa là khi quý vị ở đầu ngọn sào dài trăm thước, quý vị vẫn tiếp tục bước thêm một bước nữa. Lúc ấy, "mười phương thế giới đều hiện toàn thể." Song, pháp môn này mỗi niệm lúc nào cũng tu trì thì mới có hiệu quả; không thể lười biếng, không thể buông lung. Trong Chứng Ðạo Ca có nói rằng:
    Ðốn giác liễu Như Lai Thiền
    Lục Ðộ Vạn Hạnh thể trung viên
    Mộng lý minh minh hữu Lục Thú,
    Giác hậu không không vô đại thiên.

    Nghĩa là:
    Thiền Như Lai thoát hiểu rồi.
    Lục Ðộ, vạn hạnh, thể tròn đầy.
    Mộng thì rõ ràng có sáu nẻo,
    Ngộ xong trống rỗng, chẳng đại thiên.

    "Ðốn" tức là lập tức giác ngộ một đạo lý. Rằng:
    Lý khả đốn ngộ, sự tu tiệm tu.
    (Lý có thể hiểu ngay lập tức, song sự thì phải từ từ tu.)

    Về "sự" thì chúng ta cần phải tu từng bước một, còn về "lý" thì cần phải hiểu rõ ngay tức khắc. Khi đốn-ngộ thì chúng ta biết giếng ở đâu để đi lấy nước; còn lúc chưa đốn-ngộ thì chúng ta chỉ nghe tiếng dây ròng rọc kéo nước mà không biết giếng ở đâu. Ví dụ này thuyết minh Phật-tánh từ đâu lại. Làm sao để chứng đắc Phật-tánh? Chứng Phật-tánh không có pháp gì khác, chỉ một cách là tham Thiền, ngồi Thiền.
    Lục Ðộ là pháp môn Bồ-tát tu hành. Bố thí thì "độ" tánh bỏn xẻn và tham lam. Trì giới thì "độ" việc hủy phạm. Nhẫn nhục thì "độ" tánh sân hận. Tinh tấn thì "độ" thói giải đãi, biếng nhác. Thiền định thì "độ" sự tán loạn. Trí huệ thì "độ" tâm ngu si. Khi Lục Ðộ tu đến viên mãn thì mới khai ngộ đặng.
    Chúng ta lúc nào cũng ở trong mộng. Rằng:
    Nhân sinh nhất trường mộng,
    Nhân tử mộng nhất trường.
    Mộng lýthân vinh quý,
    Mộng tỉnh tại cùng hương,
    Triều triều thị tác mộng,
    Bất giác mộng hoàng lương,
    Mộng trung nhược bất giác,
    Uổng tác mộng nhất trường.

    Nghĩa là:
    Người sống: một tràng mộng,
    Người chết: mộng một tràng.
    Trong mộng thân vinh quý,
    Tỉnh mộng vẫn nghèo xơ,
    Ngày ngày cứ nằm mộng,
    Chẳng biết mộng "kê vàng,"
    Nằm mộng mà chẳng biết,
    Uổng thay mộng một tràng.

    Lúc mộng, chúng ta thấy rõ ràng có Lục-thú (sáu nẻo: trời, người, A-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục); đến lúc giác ngộ mới thấy tam thiên đại thiên thế giới đều chẳng có. Vì sao? Vì không còn chấp trước. Chẳng còn chấp trước thì đem vạn vật "phản bổn hoàn nguyên"; như thế làm sao còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng đặng? Mọi thứ đều chẳng còn! Có người nghe rằng bốn tướng đều hết thì chẳng dám tu hành, vì ngộ nhận rằng: "Tu đến cực điểm thì người ta chẳng hiện hữu nữa, chúng sinh cũng hết sạch, thọ giả cũng không còn, vậy thì sao đây? Lúc ấy công việc làm cũng hết luôn, e rằng tôi sẽ thất nghiệp mất!"
    Quý vị nhất định cần có việc làm sao? Vậy thì cứ tiếp tục điên đảo! Khi tu hành đến chỗ không còn bốn tướng, thì quý vị sẽ "quét sạch tất cả pháp, xa rời tất cả tướng," chứng đắc Thực-tướng của mọi sự. Rằng:
    Nhất pháp bất lập, vạn pháp giai không.
    (Một pháp chẳng lập, mọi sự đều không.)

    Chẳng thể nói suông là mình hiểu đạo lý này, mà chúng ta bắt buộc phải chân chính chứng đắc cảnh giới "một pháp chẳng lập, mọi sự đều không." Lúc ấy sẽ chẳng còn gì là khổ, chỉ hưởng thọ sự an lạc.
    Người ta ở đời, nếu không chấp trước danh vọng thì cũng ôm chặt lợi lộc, không chấp trước tiền tài, thì lại mê đắm sắc đẹp, do đó không thể nhìn thủng (hiện tượng), chẳng thể buông bỏ (mọi chấp trước). Muốn nhìn thủng, muốn buông bỏ, song lại chẳng đặng. Vì sao chẳng kham? Bởi vì trong tâm có "con quỷ" tinh tế và "con sâu" linh lợi tác quái, do đó rất nhiều việc mình để lỡ cơ hội, đối diện với Ðức Quán Âm mà chẳng nhận ra Ngài. Ðức Quán Âm Bồ-tát ở ngay trước mặt, thế mà cứ đi tìm kiếm khắp nơi. Ðó chính là bị điên đảo vọng tưởng chi phối vậy.
    Chữ "tham" trong tham Thiền có nghĩa là quán chiếu, quan sát. Quán chiếu cái gì? Quán chiếu Bát-nhã. Nghĩa là trong mọi ý niệm, mọi thời điểm, quý vị phải quan sát chính mình ở đây (tự tại), đừng quan sát kẻ khác (tha tại). Hãy quán sát xem mình có ở tại đây hay chăng-nếu mình ở đây thì có thể tham Thiền, dụng công tu hành; nếu mình chẳng ở đây, tức là mình khởi vọng tưởng lăng xăng, nghĩ ngợi vớ vẩn. Thân tuy ở trong Thiền-đường, nhưng tâm lại dong ruổi tận Nữu Ước hay Ý Ðại Lợi. Tới đâu cũng phan duyên, thành ra không tự tại nữa.
    Quán chiếu tự tại tức là Bồ-tát. Quán chiếu không tự tại tức là phàm phu. Quán chiếu tự tại là thiên đường. Quán chiếu không tự tại là địa ngục. Nếu chúng ta quán chiếu với sự tự tại, tâm không chạy ra ngoài, thì có thể "thực hành Bát-nhã Ba-la-mật thâm sâu." Lúc tham Thiền, thân ngồi tại Thiền-đường, tâm miên mật tham cứu liên tục, không gián đoạn, thì mới đúng là thực hành Bát-nhã thâm sâu, tìm được trí huệ. Khi đắc đại trí huệ thì mới tới được bờ bên kia, bờ giải thoát.
    Bí quyết tham Thiền là "triều dã tư, tịch dã tư" (ngày tham cứu, đêm cũng tham cứu). Tham cứu cái gì? Tham cứu "Niệm Phật là Ai?" Ngày nay tham cứu, ngày mai tham cứu. Ngày ngày tại Thiền-đường "thực hành Bát-nhã Ba-la-mật thâm sâu," song không phải chỉ một thời gian ngắn là có thể nếm được mùi vị Thiền ngay đâu. Quý vị phải trải qua thời gian dài lâu mới được. Khi có công phu "thực hành Bát-nhã Ba-la-mật thâm sâu" thì mới có thể "soi thấy năm Uẩn đều không."
    Năm Uẩn còn gọi là năm Ấm. "Uẩn" có nghĩa là tụ tập; "Ấm" có nghĩa là che đậy, bao phủ. Vì sao chúng ta không được tự tại, không đắc giải thoát? Bởi vì chúng ta bị năm Ấm che phủ! Năm Uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.
    1. Sắc-uẩn: Có chướng ngại thì gọi là sắc, có hình tướng cũng là sắc. Sắc-uẩn chẳng không thì thấy sắc sẽ bị sắc-trần mê hoặc, nghe âm thanh thì bị thanh-trần mê hoặc, ngửi mùi hương thì bị hương-trần mê hoặc, nếm mùi vị thì bị vị-trần mê hoặc, tiếp xúc với vật thì bị xúc-trần mê hoặc. Nếu khiến cho sắc-uẩn là không, thì bên trong không có tâm, bên ngoài không có hình tướng, xa gần không có vật thể. "Sắc" cũng có nghĩa là đủ thứ sắc đẹp, nhan sắc khiến mắt ta hỗn loạn, không nhận biết rõ ràng, mờ mịt giống như kẻ mù vậy. Trong Ðạo Ðức Kinh có nói:
    Ngũ sắc linh nhân mục manh,
    Ngũ âm linh nhân nhĩ lung,
    Ngũ vị linh nhân khẩu sảng.

    Nghĩa là:
    Năm sắc khiến mắt người mù,
    Năm âm khiến tai người điếc,
    Năm vị khiến miệng người đờ.

    Những thứ ấy đều do bị sắc-uẩn mê hoặc. Nếu phá được sắc-uẩn rồi, thì núi sông, đất đai, thành quách, nhà cửa đều rỗng không cả, chẳng còn gì rắc rối nữa. Do đó, sắc-uẩn chưa không, thì chúng ta còn chấp trước ở sắc. Khi chấp trước ở sắc thì không thể trừ khử được kiến-hoặc (sự mê muội của cái thấy).
    Kiến-hoặc là do khi gặp cảnh thì khởi lòng tham ái. Cảnh giới tức là sắc. Khi đối trước cảnh giới nào cũng sinh lòng tham lam hay yêu thích, tức là có chấp trước. Kiến-hoặc có tám mươi tám phẩm; nếu chặt đứt hết được thì sẽ chứng Sơ-quả A-la-hán. Người tu Ðạo chúng ta, trước tiên cần phải đoạn tám mươi tám phẩm kiến-hoặc vốn tồn tại trong Tam-Giới, rồi sau đó mới đoạn trừ tám mươi mốt phẩm tư-hoặc ở Tam-Giới.
    Tư-hoặc là do mê muội chân lý nên khởi phân biệt, tức là đối với tất cả đạo lý mình không nhận thức được rõ ràng. Khi đoạn trừ hết tám mươi mốt phẩm tư-hoặc thì sẽ chứng Tứ-quả A-la-hán.
    2. Thọ-uẩn. "Thọ" là lĩnh nạp lĩnh thọ, phát sinh cảm giác. Khi cảnh giới đến, chẳng cần suy nghĩ gì, liền tiếp thụ lĩnh nạp, phát ra cảm giác. Như ăn món gì, cảm giác thấy ngon, đó là "thọ." Mặc áo đẹp, cảm thấy vui, cũng là "thọ." Ở nhà tốt, cảm thấy thích, đó là "thọ." Ngồi xe tốt, có cảm giác êm ái, đó cũng là "thọ." Khi thân tiếp thọ bất kỳ thứ gì, cảm giác ra sao, đều gọi là "thọ."
    3. Tưởng-uẩn: tức là tư tưởng, ý niệm. Vì năm Căn tiếp xúc, lãnh thọ cảnh giới của năm Trần nên phát sinh ra đủ thứ vọng tưởng, đủ thứ ý niệm. Chúng thoắt sinh ra thoắt diệt mất, khởi lên tác dụng suy nghĩ đến sắc, đến thọ.
    4. Hành-uẩn. Hành có ý nghĩa thiên lưu, dời đổi, lúc tới lúc đi, lúc đi lúc tới, chẳng khi nào ngừng nghỉ, trôi mãi không dừng. Ðộng cơ làm ác làm thiện là ở trong tâm, song do vọng tưởng, suy tư chi phối và phản ảnh qua những hành vi, cử chỉ của thân khẩu ý (mọi hành vi ấy đều thuộc hành-uẩn).
    5. Thức-uẩn. Thức có ý nghĩa phân biệt; cảnh giới tới thì sinh tâm phân biệt. Ví dụ: Thấy sắc đẹp thì sinh lòng vui thích, nghe lời ác thì sinh lòng ghét bỏ, v.v...
    Nếu phá thủng được năm Uẩn thì sẽ vượt qua mọi khổ ách, cũng chẳng còn tai ách gì cả. Vì sao chúng ta có tai ách? Bởi vì chúng ta chưa dẹp bỏ được hai thứ chấp trước là chấp ngã và chấp pháp (mọi sự mọi việc).
    Trong bài Chứng Ðạo Ca của Ðại sư Huyền Giác có nói:
    Ngũ Uẩn phù vân không khứ lai;
    Tam Ðộc thủy bào hư xuất một.

    Nghĩa là:
    Năm Uẩn như mây trôi, chẳng đến đi,
    Ba Ðộc như bọt nước, giả có, mất.

    Năm Uẩn xưa nay vốn không có tự tánh, hệt như đám mây trôi, thoắt nhiên có, thoắt nhiên mất. Khi không rõ thấu đạo lý này, chúng ta sẽ mãi bị năm Uẩn che lấp, không thể tự tại, không đặng giải thoát. Người tu Ðạo phải phá năm Uẩn. Như mây bay lại, mặc nó lại; nếu nó trôi đi, mặc nó đi. Không cần chú ý tới, không cần chấp trước nó. Ba thứ độc tham, sân, si thì giống như bọt nước, vốn không có thực thể. Chúng tự sinh ra rồi tự mất đi, nên đừng chấp trước vào chúng. Bài "Chứng Ðạo Ca" lại nói:
    Chứng Thực-tướng, vô nhân pháp,
    Sát-na diệt khước A-tỳ nghiệp.
    Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sinh,
    Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp.

    Nghĩa là:
    Chứng Thực-tướng, không nhân, pháp,
    Sát-na rũ sạch nghiệp A-tỳ.
    Nếu đem lời dối, gạt chúng sinh,
    Tự chịu cắt lưỡi hằng sa kiếp.

    "Thực-tướng" tức là "vô tướng, vô sở bất tướng" (không có hình tướng gì, song không có gì chẳng phải là nó). Cũng có nghĩa là "tảo nhất thiết pháp, ly nhất thiết tướng" (quét sạch tất cả mọi pháp mọi sự; rời bỏ mọi hình tướng, mọi quan niệm). Có thể nói là "phản bổn hoàn nguyên, chứng đắc tự tánh thanh tịnh." Tới được cảnh giới này thì cũng chẳng có người, chẳng có pháp. Nhân, pháp đều quên hết. Cũng không còn chấp người, hết luôn chấp pháp (mọi sự mọi việc). Ðó là chứng đắc lý và thể của Thực-tướng. Lúc ấy chỉ trong sát-na, có thể tất cả tội nghiệp đọa địa ngục Vô-gián đã tạo ra trong vô lượng kiếp về trước lập tức tiêu diệt hoàn toàn. Ðại sư Vĩnh Gia nói rằng: "Nếu tôi đem lời giả dối để gạt gẫm chúng sinh, tôi xin cam tâm tình nguyện xuống địa ngục rút lưỡi, chịu khổ trong vô số kiếp nhiều như cát bụi vậy."
    Lúc ở Thiền-đường, quý vị hãy chân thật tu hành. Giống như kéo tằm, quý vị phải nhẫn nại, từ từ kéo từng sợi tơ thì mới không bị rối. Chớ nên tự cho mình là thông minh, muốn tìm đường tắt, muốn dùng phương pháp khoa học để khai ngộ; đó chỉ là suy nghĩ vớ vẩn. Nếu khoa học có thể làm cho khai ngộ, thì các nhà khoa học gia đã không tự chui vào thế kẹt, họ đã sớm khai ngộ từ lâu rồi và chẳng ai có thể dự phần để khai ngộ với họ đâu! Chớ nên nghĩ ngợi mông lung mà phải thành thật, đúng phép mà tham cứu "Niệm Phật là Ai?" Lưng mỏi cũng phải chịu, chân đau cũng phải nhẫn; nhẫn nại mãi sẽ tới lúc quý vị khai ngộ. Rằng:
    Bất kinh nhất phiên hàn triệt cốt,
    Chẩm đắc mai hoa phác tỵ hương?

    Nghĩa là:
    Không qua một lần lạnh buốt xương,
    Sao được hoa mai tỏa ngát hương?

    Quý vị hãy chú ý! Chớ quá thông minh rồi lại bị sự thông minh đánh lừa mình. Phải nhớ: Một phần nỗ lực tu hành là một phần công phu. Tu hành là chân thật công phu, không phải "khẩu đầu thiền" (thiền nói suông). Chỉ nói suông mà không thực hành, thì không ích lợi gì. "Thiền nói suông" chẳng những không giúp gì việc khai ngộ mà ngược lại còn chướng ngại là khác. Do đó nói: "Không nói, mới là Thiền."
    Một niệm linh quang có thể triệt chiếu thiên địa, quý vị cùng mười phương ba đời chư Phật chẳng hề khác biệt. Vì sao chúng ta không thể chứng đắc Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông? Vì kẻ phàm phu chúng ta vọng tưởng quá nhiều, do đó trí huệ bị che khuất, chẳng có quang minh, thành ra vô minh. Cả ngày cứ khởi mê hoặc, tạo nghiệp, nên thọ nhận quả báo đau khổ trong vòng sinh tử.
    Tam Thân tức là Pháp-thân, Báo-thân, Ứng-thân (hoặc Hóa-thân).
    Tứ Trí tức là Thành-sở-tác Trí, Diệu-quán-sát Trí, Bình-đẳng-tánh Trí, Ðại-viên-kính Trí.
    Ngũ Nhãn tức là Nhục-nhãn, Thiên-nhãn, Pháp-nhãn, Huệ-nhãn, Phật-nhãn.
    Lục Thông tức là Thiên-nhãn Thông, Thiên-nhĩ Thông, Tha tâm Thông, Túc-mạng Thông, Thần-túc Thông, Lậu-tận Thông.
    Khi quý vị không có vọng tưởng gì thì mới chứng đắc những cảnh giới này. Ðây chẳng phải là thứ triết lý, lý luận huyền diệu bí ẩn gì cả, chỉ là một thứ hiện tượng tự nhiên, từ chân thật công phu mà chứng đắc. Chẳng có chút gì kỳ lạ, rất là bình thường.
    Từ vô thủy kiếp đến nay chúng ta bị vô minh che phủ, chẳng gặp được bậc Thiện-tri-thức dắt dẫn, không biết thế nào là minh tâm kiến tánh (minh ngộ tự tâm, triệt kiến bổn tánh), không biết thế nào là phản bổn hoàn nguyên (trở về nguồn cội). Chúng ta tu Thiền chính là để minh tâm kiến tánh, để phản bổn hoàn nguyên vậy. Nếu được giải thoát thì sẽ không còn quái ngại, ngăn trở, xa rời mọi điên đảo mộng tưởng, cuối cùng tới đặng Niết-bàn vậy.
    Thiền thất (12/1980)
     
    #12
  13. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Không Trừ Vọng Tưởng thì Chẳng Thể Khai Ngộ

    Mục đích tham Thiền là để khai mở trí huệ, cầu giải thoát. Chúng ta phải chuyên tâm trì chí tham cứu câu "Ai là kẻ niệm Phật?" Khi tham tới cực điểm, quý vị sẽ quên bẵng tất cả mọi vọng tưởng-quên ăn uống, phục sức, ngủ nghỉ, và thậm chí quên cả đại, tiểu tiện! Lúc bấy giờ, "gió thổi không lọt, mưa rơi không thấm," quý vị chỉ miên mật tham chữ "Ai" mà thôi! Một niệm duy nhất này kiên cố như kim cang, không gì phá hoại nổi. Bấy giờ, quý vị "trên không biết có trời, dưới không biết có đất, ở giữa không biết có người"-tức là đạt tới cảnh giới "không có người, không có mình, không có chúng sinh, không có thọ giả"; và đó cũng là lúc mà quý vị thể nghiệm được trạng thái "trong không có thân tâm, ngoài chẳng có thế giới"-mình cùng vũ trụ đã hợp thành một thể.
    Xưa kia, nhiều bậc đại đức cao tăng đã có thể đạt tới trình độ "nhất niệm bất sinh" (không sinh vọng tưởng):
    "Tuy suốt ngày ăn cơm, nhưng chưa hề ăn một hạt gạo.
    Tuy suốt ngày mặc áo, song chưa hề mặc một sợi tơ."
    Khi đạt tới cảnh giới "vô nhân, vô ngã," không còn sự chấp trước về mình, người, thì làm gì có thời giờ để khởi vọng tưởng nữa chứ? Các vị ấy cho rằng lãng phí một phút cũng có thể làm vuột mất cơ hội khai ngộ, do đó họ chuyên tâm tham cứu câu "Ai là kẻ niệm Phật?"; chưa tìm ra được chữ "ai" thì họ chưa chịu nghỉ ngơi. Tìm chữ "Ai" là phương pháp khống chế vọng tưởng tốt nhất.
    Tại Chùa Cao Mân ở Dương-châu có một vị sư tên là Diệu Ðộ. Khi Thầy tham Thiền tới trình độ "đi mà không biết là mình đang đi, đứng mà không biết là mình đang đứng, ngồi mà không biết là mình đang ngồi, nằm mà không biết là mình đang nằm," thì cái gì Thầy cũng chẳng nghĩ tới, chỉ chú tâm vào câu "Ai là kẻ niệm Phật?" mà thôi. Có một hôm, Thầy muốn tiểu tiện nhưng vì chuyên tâm tham cứu chữ "Ai" quá miên mật nên Thầy vào lộn Thiên Vương Ðiện và lầm tưởng phía trước bệ Ðức Bồ-tát Vi Ðà là nhà xí! Ngay lúc sắp tiểu tiện, Thầy chợt ngẩng đầu lên và thấy Bồ-tát Vi Ðà đang trừng mắt nhìn mình, tay thì giơ cao cây bảo-xử, khiến Thầy sợ hãi đến tỉnh táo cả người! Biết là mình đã đến lộn chỗ, Thầy vội vã sụp lạy Bồ-tát Vi Ðà, sám hối tội lỗi, cầu xin Bồ-tát tha thứ.
    Vì sao có thể có chuyện như vậy? Là vì Thiền-sư Diệu Ðộ chuyên tâm dụng công, một lòng một dạ tham cứu chữ "Ai," hoàn toàn không để ý đến những việc khác, cho nên Thầy mới lầm tưởng Thiên Vương Ðiện là nhà vệ sinh!
    Có người nghĩ vớ vẩn rằng: "Tôi cũng bắt chước Thiền-sư Diệu Ðộ, tôi sẽ lên đài Quán Âm thay vì dùng nhà vệ sinh!" Nếu quý vị cố ý làm như vậy thì quý vị cách xa Ðạo mười vạn tám ngàn dặm rồi! Quý vị nên biết rằng Thiền-sư Diệu Ðộ chẳng bắt chước ai cả, Thầy chỉ nhất tâm tham cứu câu "Ai là kẻ niệm Phật?", mải miết tập trung tinh thần vào một vấn đề, do đó mới xảy ra cớ sự như vậy. Nếu quý vị cố ý bắt chước đi sai đường thì thật là sai lầm vô cùng; cho nên, ngay cả cái ý tưởng muốn bắt chước này quý vị cũng chớ nên có! Phải nhớ rằng:
    "Sai một ly, đi một dặm."
    Nhiều người ở trong Thiền-đường song chẳng chịu dụng công, cứ ngồi nghĩ ngợi lăng nhăng: "Sao chưa có ai đánh khánh vậy kìa? Mau mau khai tịnh để mình duỗi chân duỗi tay, vươn vai ưỡn lưng cho đỡ mỏi đi chứ!" Hoặc có người thì vọng tưởng tới chuyện ăn uống: "Vẫn chưa tới giờ ăn sao? Ðói bụng chịu hết nổi rồi!" Có người thậm chí tính toán: "Ðã mười hai ngày rồi, như vậy là còn chín ngày nữa công đức mới viên mãn. Mong sao xong lẹ lẹ cho rồi để mình khỏi phải bị hành tội nữa!" Người ta tham gia Thiền-thất thì mong cho thời gian càng dài càng tốt để được có thêm cơ hội khai ngộ, còn những người này ngồi trên Thiền-sàng mà cứ như ngồi trên bàn chông, lúc nào cũng thấy bứt rứt xốn xang-nếu không đổi chân thì lại vươn vai, không ngồi yên được. Người ta thì nhập Ðịnh, còn họ thì nhập "phi phi," vọng tưởng lăng nhăng không ngớt. Nếu đã như vậy thì việc gì phải đến tham gia Thiền-thất? Cứ làm bộ làm tịch ra vẻ tu hành để làm gì kia chứ? Chi bằng đừng tới tham gia để khỏi phải tự chuốc lấy đau khổ cho rồi!?
    Song, quý vị nên biết rằng muốn chấm dứt sinh tử thì phải đem hai chữ "sinh tử" treo ngang mày để hễ mở mắt là thấy vấn đề sinh tử, nhắm mắt cũng không quên chuyện tử sinh. Lúc nào cũng phải dụng công tu hành thì mới có thể chấm dứt được sinh tử. Nếu tại Thiền-đường mà quý vị không luôn luôn nghĩ đến việc "liễu sinh thoát tử," trái lại lúc nào cũng nghĩ ngợi lăng nhăng, cứ lo vọng tưởng của mình chưa đủ nhiều, thì thật là đáng thương biết bao!
    Người dụng công tu Ðạo thì không được khởi vọng tưởng dù chỉ trong một giây. Có câu rằng:
    "Ðại sự vị minh, như táng khảo tỷ."
    (Việc lớn chưa rõ, như đưa đám cha mẹ.)

    Khi chúng ta chưa hiểu được "sinh tử đại sự" thì cũng đáng buồn thảm, bi ai giống như cha mẹ qua đời vậy. Do đó, lúc tham Thiền thì phải luôn luôn dụng công tu hành, chớ lãng phí một giây một phút và cũng chớ buông lung. Dụng công tới lúc "lô hỏa thuần thanh," công phu chín muồi, thì tự nhiên sẽ có cảm ứng. Có cảm ứng thì công phu mới tương ưng. Cho dù đã khai ngộ rồi quý vị cũng vẫn phải không ngừng cố gắng tiến tới trước. Ðừng lười biếng, đừng tự giam hãm mình nơi "hóa thành;" đừng cho rằng tới đây là hết, rồi không muốn tiến thêm nữa. Những ý tưởng như vậy chính là các hòn đá cản trở sự tu hành.
    Biết rõ ràng là vọng tưởng không làm ta khai ngộ, vậy thì tại sao vẫn cứ khởi vọng tưởng chứ? Biết rõ ràng đó là vọng tưởng mà tại sao không quét sạch chúng đi? Ðó chính là khuyết điểm của đa số người đời - biết rõ mà vẫn cố ý vi phạm. Nói rõ ra tức là quý vị vẫn "không thể nhìn thủng, chẳng thể buông bỏ," vẫn còn chấp trước cái này, câu nệ cái nọ, chấp nam chấp nữ..., kết quả là lãng phí hết thời giờ quý báu.
    Thời gian đả Thiền-thất là vô cùng quý giá, bởi vì không dễ gì mà gặp được cơ duyên tốt đẹp như thế. Trong thời gian này, quý vị hãy ném hết mọi vọng tưởng lên chín tầng mây để cho lòng được thanh tịnh, chuyên chú vào câu "Ai là kẻ niệm Phật?" Ðừng xao lãng! Mọi người hãy nỗ lực tham Thiền! Tham! Tham! Tham!
    (Thiền thất 12/1980)
     
    #13
  14. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Khai Ngộ Phải Ðược Ấn Chứng Mới Ðúng Pháp

    Trước thời Oai Âm Vương Phật ra đời, ai ai cũng có thể khai ngộ mà chẳng cần người nào ấn chứng cả. Từ thời Oai Âm Vương Phật trở về sau, những ai tự giác khai ngộ đều nhất định phải có Tổ-sư hoặc bậc Thiện-tri-thức (đã khai ngộ) ấn khả, chứng minh thì mới đúng phép. Cũng như ở Pháp-hội Lăng-Nghiêm, có hai mươi lăm vị Thánh-nhân tường thuật sự chứng đắc viên-thông của họ và thỉnh Ðức Phật Thích-Ca ấn chứng.
    Bây giờ tôi kể cho quý vị nghe một công án về sự ấn chứng.
    Ðời Ðường (nước Trung Hoa), có Ðại-sư Vĩnh Gia. Ngài sinh ở huyện Vĩnh-gia, tỉnh Triết-giang. Bởi vì cả đời Ngài không rời huyện Vĩnh-gia nên người đương thời gọi Ngài là Ðại-sư Vĩnh Gia. Sau khi xuất gia, Ngài nghiên cứu giáo lý Thiên-Thai Tông, thích tu Thiền-quán; nhờ xem Kinh Duy Ma Cật mà hoát nhiên đại ngộ. Về sau, khi gặp Thiền-sư Huyền Sách (đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng), ngài Vĩnh Gia bèn thuật lại tự sự. Thiền-sư Huyền Sách khuyên ngài nên đến Tào-khê tham bái Lục Tổ để thỉnh cầu ấn chứng; nếu không, chẳng nhờ thầy mà ngộ, thì là hàng "ngoại đạo Thiên-nhiên."
    Khi ngài Vĩnh Gia tới Chùa Nam Hoa ở Tào-khê, gặp đúng lúc Lục Tổ đang tọa Thiền. Ngài rất cống cao ngã mạn, tới bên Thiền-sàng của Lục Tổ, cũng chẳng vái chào, chẳng đảnh lễ, cầm cây tích-trượng đi nhiễu quanh Thiền-sàng ba vòng, rồi đứng chống tích-trượng.
    Lục Tổ mới hỏi: "Một vị Sa-môn cần hội đủ ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh. Một hạnh cũng không khiếm khuyết thì được gọi là Sa-môn (dịch là Cần Tức-cần tu Giới Ðịnh Huệ, tức diệt Tham Sân Si-siêng tu Giới Ðịnh Huệ, dứt bỏ Tham Sân Si). Ðại-đức từ nơi nào tới, sinh lòng đại ngã mạn như thế?"
    Ngài Vĩnh Gia đáp: "Chuyện lớn là sinh tử, vô thường quá chóng vánh."
    Lục Tổ hỏi: "Sao không thể hội cái vô sinh? Sao chẳng liễu ngộ thứ chẳng chóng vánh?"
    Ngài Vĩnh Gia đáp: "Thể hội tức là vô sinh. Liễu ngộ vốn không chóng vánh."
    Lục Tổ dạy rằng: "Ông thật hiểu ý nghĩa của vô sinh vậy."
    Ngài Vĩnh Gia hỏi vặn: "Vô sinh mà còn có ý hay sao?"
    Lục Tổ trả lời rằng: "Không có ý thì ai đang phân biệt?"
    Ngài Vĩnh Gia đáp: "Phân biệt cũng chẳng phải là ý!"
    Lục Tổ dạy: "Như thị! Như thị!"
    Rồi ngài Vĩnh Gia được ấn khả chứng minh, trở thành Pháp-tự của Lục Tổ.
    Sau khi được Lục Tổ ấn chứng, ngài Vĩnh Gia muốn lập tức trở về Chùa Khai Nguyên ở Vĩnh-gia. Song Lục Tổ lưu ngài ở lại một đêm, hôm sau mới xuống núi về quê nhà. Bởi vì chỉ trong một đêm mà giác ngộ được chân-đế của Phật-pháp nên người đương thời gọi ngài là "Nhất Túc Giác Hòa Thượng" (vị Sư giác ngộ nội trong một đêm). Về sau ngài cực lực tuyên dương pháp Ðốn-ngộ của Thiền-môn, viết tác phẩm Chứng Ðạo Ca thuyết minh cảnh giới đốn-ngộ. Ðó là một tác phẩm bất hủ, đã trở thành bản văn phải học trong Phật môn.
    Khi chúng ta ngồi trong Thiền-đường, cứ nhìn bề ngoài thì giống như chúng ta đang dụng công tu hành, song thật ra thì chỉ ngồi nghĩ ngợi, vọng tưởng lăng xăng, chẳng dụng công tu hành chút nào cả. Có vị nghĩ rằng: "Bây giờ là thời đại khoa học, phải dùng phương pháp khoa học để khai ngộ"; nhưng lại nghĩ lui nghĩ tới mãi, chẳng chút khoa học gì cả, đó chính là "kẻ ngốc nói chuyện mộng mỵ."
    Kẻ nào khai ngộ rồi thì đều phải thắng được mọi khảo nghiệm, nếu không y sẽ mắc tội đại vọng ngữ, phải đọa địa ngục Vô-gián. Phàm lệ, ai tự rêu rao về mình: "Tôi đã khai ngộ rồi! Tôi đã chứng quả rồi!" thì đều phải chịu quả báo (đọa địa ngục). Hy vọng quý vị đều hết sức cẩn thận, không tùy tiện nói càn, kẻo về sau phải chịu quả báo!
    Ở đây quý vị dậy rất sớm, ngủ thật trễ. Vì sao lại tu cực khổ như vậy? Bởi vì thêm một phút tham Thiền là thêm một cơ hội giác ngộ. Hiện tại quý vị ngồi ở Thiền-đường tập trung tinh thần, dụng công tham cứu câu "Niệm Phật là ai?", tuy chẳng phải là không có vị chuyên tâm dụng công, song những vị chân chính muốn giác ngộ, đắc được thọ dụng, thì ít lắm. Phần đông người ta không biết rõ việc tham Thiền ra sao, cũng không nhiệt tâm; họ chỉ tu cho có lệ, làm cho qua ngày. Với thái độ đả Thiền-thất như vậy thì dù có đả thất tới "tận vị lai kiếp" cũng chẳng thể khai ngộ được. Tôi hy vọng mỗi quốc gia đều có nhiều vị giác ngộ, để họ giúp ích cho tiền đồ Phật-giáo mai sau.
    Trong lúc đả Thiền-thất, quý vị chớ nói chuyện, đừng nghĩ ngợi lăng xăng. Quý vị hãy chân thật dụng công thì mới có cảm ứng, mới khai trí huệ. Có trí huệ thì mới không điên đảo. Không điên đảo thì mới có thể giáo hóa chúng sinh. Nếu chính mình không hiểu rành mạch chân lý thì lấy tư cách gì để dạy kẻ khác? Ðây chẳng phải là "kẻ đui dắt người mù" sao? Thật là vô cùng nguy hiểm!
    Việc tham Thiền thì cũng tương tự như bác nông phu gieo hạt ngũ cốc vào mùa xuân; đến mùa hè thì cày cấy, tưới nước, nhổ cỏ, bón phân; qua mùa thu mới gặt được mùa tốt và khi mùa đông tới thì bác mới được no ấm. Hy vọng suốt một năm của bác nông phu là được đủ ăn đủ mặc. Tham Thiền cũng vậy. Quý vị cần cẩn thận giữ chặt tâm niệm, lúc nào cũng quản thúc chính mình. Trong Thiền-đường, lúc đi mình có dụng công chăng? Lúc ngồi mình có dụng công chăng? Nói tóm lại, đi, đứng, nằm, ngồi, đều phải dụng công tu hành. Quý vị cảm thấy dụng công làm sao thích hợp, thì cứ theo đó mà dụng công, chẳng có gì hạn chế. Ví dụ, quý vị cảm thấy tham thoại đầu chẳng tương ưng, thì có thể niệm Phật, hoặc tu chỉ-quán. Chỉ cần phương pháp ấy thích hợp, tương ưng với quý vị thì quý vị sẽ có cơ thành tựu.
    Vô luận là dụng công ở pháp môn nào, tâm phải chuyên nhất, đừng có vọng tưởng. Khi dụng công tới cực độ thì sẽ có tin tức tốt đẹp. Nếu có vọng tưởng, suy nghĩ lăng xăng hoài, thì dụng công ở pháp môn nào cũng chẳng có tương ưng. Phàm nếu là người chân chính dụng công, thì đi chẳng biết là đi, ngồi cũng chẳng biết là ngồi-đi hay ngồi đều không để ý thì làm sao khởi vọng tưởng được chứ? Quý vị chỉ cần biết "Niệm Phật là ai? Niệm Phật là ai?" Cứ một câu này, niệm niệm chớ để gián đoạn, luôn luôn tham cứu trong lòng. Bấy giờ, dù khát quý vị chẳng biết khát, đói cũng chẳng biết đói; nóng cũng không biết là nóng, lạnh cũng chẳng hay là lạnh. Vì sao không biết? Vì tâm chuyên nhất vậy. Lưng đau cũng quên đau, chân nhức cũng không biết nhức, mọi ý niệm đều tiêu vong cả. Chỉ còn có một niệm: "Ai niệm Phật?" Luôn đề khởi nó, rồi buông bỏ. Buông bỏ xong lại đề khởi. Lúc nào cũng miên mật, dụng công liên tục, không gián đoạn. Dụng công tới chỗ cực độ, thì bất kỳ một va chạm ngẫu nhiên nào cũng có thể làm quý vị hốt nhiên khai ngộ.
    Tại sao quý vị không hốt nhiên khai ngộ? Vì quý vị chưa chuyên tâm trì chí, chưa hiểu đạo lý minh tâm kiến tánh, không biết cảnh giới phản bổn hoàn nguyên, cũng chẳng biết cố hương ở nơi đâu nên lưu lạc nơi đất khách như tên ăn mày.
    Cuối cùng tôi nói với quý vị câu này: Hãy tham cứu câu "Niệm Phật là ai?" cho tới chỗ "núi cùng nước cạn, nghi hết đường"; bấy giờ, quý vị sẽ thấy cảnh giới "bóng liễu, hoa xinh hiện một thôn."
    (Thiền thất 12/1980)
     
    #14
  15. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Tham Thiền Phải Hồi Quang Phản Chiếu

    Ði đứng nằm ngồi
    Không lìa bỏ
    Lìa bỏ cái đó
    Tức thành lầm lỗi.


    Cái đó là cái gì? Chính là câu thoại đầu để chúng ta dụng công tham thiền. Lấy chân tâm mà tu Ðạo, đề khởi câu thoại đầu rồi tham cứu một cách miên mật, không dứt đoạn. Hàng giờ, hàng khắc, hàng phút, hàng giây, không một tạp niệm nào, một vọng tưởng nào xen vào, tóm lại trong tâm tư, niệm trước niệm sau, chỉ rặt một câu thoại đầu là đề mục tham cứu. Vậy thì đâu còn thời gian nào khác để nói chuyện với nhau, làm rộn người khác? Cũng không có cơ hội để lười biếng nghỉ ngơi, càng không có dịp để nói chuyện thị phi, chuyên một lòng giữ câu thoại đầu để tham ngộ. Có câu kệ rằng:
    Mọi sự qua suông sẻ
    Khó xả duy nổi nóng
    Nếu quả không tức giận
    Ðó là hòn ngọc quý
    Lại không biết hận người
    Sự việc đều trôi chẩy
    Phiền não chẳng hề sanh
    Lấy đâu tạo oan nghiệt?
    Thường chỉ rặt trách người
    Khổ đau chuốc mãi mãi.
    Người tham Thiền nếu có được thái độ như vậy mới mong có ngày "nhập môn". Tại Thiền đường ai ai cũng phải hồi quang phản chiếu, quay về nơi mình, tự hỏi mình, có phải ta đương dụng công, hay ta đương phóng tâm theo vọng tưởng? Hãy nhìn chính mình, phải chăng ta đương rọi sáng để soi chính ta? Chớ không phải soi ra ngoài? Ðó là điều chúng ta phải rất mực chú ý.
    Dụng công nơi Thiền đường, ta phải ghi nhớ hai câu sau:
    Ma-ha-tát, chẳng lý tới kẻ khác
    Di-đà Phật, ai nấy tự lo lấy!

    Từng thời từng khắc, tự quản lý mình, khỏi cần để ý tới ai, càng không nên làm phiền hà người khác, như vậy là chướng ngại sự dụng công của mọi người, khiến họ có thể lỡ cơ hội khai ngộ, một việc không thể chấp nhận được. Như tôi thường nói với quý vị:
    Thành thực nhận lỗi mình
    Không bàn lỗi người khác
    Lỗi người tức lỗi ta
    Ðồng thể gọi Ðại bi.

    Ai ai cũng có tư tưởng đó thì tất cả đều một lòng một ý tu hành, không còn nghĩ gì khác, chẳng còn nhiều chuyện bàn tán, làm rộn mọi người.
    Người tham thiền cốt yếu phải nhận định cho rõ rệt một vấn đề căn bản. Ðó là vấn đề gì? Cái đó là tập khí. Ngồi thiền là để loại trừ tập khí, những thói xấu, để thanh lọc tâm tư, để giải trừ những thói xấu đố kỵ những ai hơn mình. Hãy mang những tâm đố kỵ, những tâm phiền não vô minh, gạt bỏ hết. Có như vậy, Chân tâm sẽ tỏ lộ, trí huệ sẽ hiển bầy, và lúc đó thiền giả mới có hy vọng nhận được tin vui.
    Bởi đâu mà mọi người ưa những chuyện thị phi? Chính vì lý do ngu si. Bởi đâu mà sanh tâm tật đố? Cũng là do ngu si. Bởi đâu mà có tâm hại người? Là ngu si hết. Phàm làm những chuyện không hợp lý đều do ngu si mà phát sanh ra. Vậy bởi đâu mà có ngu si? Chính vì không chịu tu tập thiền định, nên không có trí huệ, cho nên chúng ta cứ luẩn quẩn trong vòng nhân ngã thị phi, không ra khỏi được. Do đó, chúng ta phải hồi quang phản chiếu, nhìn nhận lỗi mình trong quá khứ, dốc lòng hối cải, thay vì khư khư giữ mãi những tập khí xấu xa mà không chịu buông bỏ.
    Tại sao khi ngồi thiền lại buồn ngủ? Bởi cầu Pháp mà lòng không chân thực. Nếu như thành tâm cầu Ðạo thì tuyệt đối không bao giờ buồn ngủ. Quý vị hãy thử kinh nghiệm coi, tôi nói lẽ đó có đúng hay không?
    Thiền thất khai thị, tháng 12, 1980
     
    #15
  16. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369

    Thiền Ðường Là Ðạo Tràng Tuyển Phật

    Mọi người đến Thiền đường dụng công có thể coi như dự một cuộc khảo thí, khảo thử ai là người được quả vị Phật. Làm sao để có thể được trúng tuyển? Cốt yếu họ phải đạt được trạng thái "bên trong không thân tâm, bên ngoài không thế giới", hay nói cách khác đây là cảnh giới:
    Nhìn mà không thấy,
    Nghe mà không hay
    Ngửi không có mùi.
    Ai có được công phu này sẽ có hy vọng trúng tuyển.
    Tại sao nhìn mà không thấy? Bởi có sự "hồi quang phản chiếu". Tại sao nghe mà không hay? Bởi "phản văn văn tự kỷ" tức quay cái nghe để nghe chính mình. Tại sao ngửi mà không có mùi? Bởi vì thâu nhiếp thân tâm, nên mùi vị không làm cho dính mắc. Ðây là trạng thái khi mắt nhìn sắc mà không thấy sắc, tai nghe tiếng mà coi như không âm thanh, mũi ngửi mùi hương mà không thấy hương, lưỡi nếm mà vô vị, thân xúc chạm mà không cảm giác, ý có pháp mà không dính pháp. Tới được cảnh giới này mới có hy vọng trúng tuyển thành Phật. Chỉ khi nào "trong lò lửa mà sắc vẫn xanh tươi" (lô hỏa thuần thanh), chân đứng trên "đỉnh cao chóp núi", tại "đầu sào trăm thước" mà nhảy tới, chừng đó mới có hy vọng. Bởi vậy, trong chốn Thiền đường, chúng ta không thể bỏ phí thời gian. Cổ nhân đã từng nói:
    Một tấc quang âm một tấc vàng
    Tấc vàng khôn đổi tấc quang âm
    Vàng mất rồi ra còn kiếm được
    Quang âm để mất biết tìm đâu.

    Chúng ta phải nắm lấy thời cơ, cố gắng dụng công tu hành. Pháp tu thì có nhiều, duy có pháp "tham thiền" là cao siêu hơn cả. Trong pháp môn này, nếu dụng công cho tới mức độ chín mùi thì có thể làm một cuộc xoay chuyển hoàn toàn, có thể "bội trần hiệp giác", và được trúng tuyển thành Phật.
    Người tu Ðạo Bồ-tát có thể bỏ cả nước, cả nhà, cả vợ con. Bên trong thân thể còn có thẻ bỏ cả đầu, mắt, não tủy, chỉ một lòng lo cho chúng sanh, bố thí mọi thứ mà không tiếc. Nếu được trang bị một trạng thái tinh thần như vậy, thì tại "trường tuyển Phật" mới có hy vọng được trúng tuyển. Quý vị nên biết rằng đây là sự tuyển chọn của chư Phật, tuyệt đối công minh, không thể nhờ cậy vào sự cầu may mà phải nhờ vào công phu chân thực của chính mình mới được.
    Phật tuyển lựa Phật, chẳng phải ma tuyển lựa Phật, nhưng ma giúp Phật. Phật thì trực diện giáo hóa chúng sanh, còn ma thì giáo hóa gián tiếp, giáo hóa bằng mặt trái, thúc đẩy chúng ta phát đại nguyện lực, giúp chúng ta nỗ lực tu hành. Cho nên ma chính là khuôn mặt khác của Thiện tri thức. Tôi thường nói:
    Ma mài dũa đường Ðạo
    Chân Ðạo mới có ma
    Càng mài thì càng sáng
    Càng sáng càng thêm mài
    Mài như trăng trong sáng
    Giữa trời chiếu quần ma
    Ánh sáng chiếu tan ma
    Bổn lai Phật xuất hiện.

    Cho nên chúng ta không nên đối xử với ma như một kẻ thù mà coi ma cũng như một Thiện tri thức. Quán tưởng cách đó, chúng ta sẽ an tâm mà tránh được phiền não. Tỷ dụ có người nói xấu ta, người đó là Thiện tri thức của ta. Một việc ta làm đúng, nhưng có người bảo ta làm không đúng, ta lại càng cố làm cho đúng thêm một mức nữa, như câu nói: "Tới đầu sào trăm thước, còn dấn thêm bước nữa". "Thấy được lỗi của ta, người đó là thầy ta", chúng ta phải coi người nào kiếm ra lỗi lầm của mình chính là thầy của mình, chúng ta phải tạ ơn người đó, chớ không phải coi người đó là kẻ thù.
    Chư Phật không phải hồ đồ như chúng ta, do đó nếu chúng ta cứ mang mãi cái diện mạo giả dối, thì không bao giờ có thể được tuyển lựa thành Phật. Chúng ta phải chân thành cầu cái chân thực, đã chân thực còn cần phải chân thực hơn, phải "chân, chân, chân, chân, chân, chân, chân!" bẩy lần chân mới mong được tuyển chọn. Ðó là "thất chân bát chánh", trong thiền thất 7 ngày phải chân thực tu hành, đến ngày thứ 8 là cải tà quy chánh. Tới lúc đó bao nhiêu tập khí xấu cùng một lượt quét sạch để tới chỗ tịnh khiết hoàn toàn!
    Thiền thất khai thị tháng 12 năm 1980
     
    #16
  17. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Tham Thiền Là Thực Tập Lục Ðộ Ba-La-Mật

    Làm nhiệm vụ Duy-na phải chú ý điều này: Ðến giờ khai tịnh, vị Duy-na phải gõ một tiếng khánh báo hiệu, để mọi người chuẩn bị đứng dậy; khi thấy tất cả đã chuẩn bị xong bèn gõ thêm một tiếng khánh nữa, tức thì tất cả đồng loạt đứng lên, tiếp theo là hai tiếng mõ báo hiệu bắt đầu bước đi. Khi chạy hương thì phải chia ra làm hai vòng, vòng ngoài dành cho người chạy mau, vòng trong cho những ai chạy chậm. Ðây là một cách thức điều hợp, cốt sao cho tất cả cùng theo được dễ dàng, người chạy mau hay chạy chậm đều thích nghi. Người ta nói: "Xiết quá thì chặt, lơi tay thì lỏng; chẳng chặt chẳng lỏng mới nên công", ý nói không chấp vào một pháp nào nhất định, mà phải linh động.
    Trong Kinh Kim Cang có câu: "Không có pháp nào nhất định có tên là A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề". Muốn một cái gì cố định tức là tạo thành vấn đề.
    Kinh Kim Cang còn có câu: "Các pháp là bình đẳng, không có cao thấp". Do đó người tu cũng phải bình đẳng. Tuy rằng Phật có Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông, nhưng Phật vẫn tự coi như không có gì khác với chúng sanh, do đó có câu nói: "Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không có sai biệt", tâm là Phật, Phật là chúng sanh; chúng sanh là Phật, Phật là tâm.
    Chạy mau cũng tham thiền, chạy chậm cũng tham thiền, tự liệu sức của mình mà theo. Cốt ở chỗ tự nhiên, không kiểu cách, không có chút gì miễn cưỡng, cứ như thế dụng công, kiên nhẫn. Sống lưng thấy khó chịu, chân có đau, cũng đừng quan tâm. Thứ gì cũng không ham, cái đó gọi là bố thí. Thân không làm điều ác, tức là thân nghiệp thanh tịnh; miệng không nói chuyện thị phi, tức là khẩu nghiệp thanh tịnh; tâm không có vọng tưởng, tức là ý nghiệp thanh tịnh. Ba nghiệp thanh tịnh gọi là trì giới. Có thể chịu đựng sự đau, gọi là nhẫn nhục; có thể dụng công liên tục, bất chấp các khó khăn, mà không thối chí, gọi là tinh tấn. Có thể ngồi an ổn chẳng động, mà thường biết rõ ràng, gọi là thiền định. Do định mà phát sanh trí huệ, tức là Bát-nhã. Cả lục độ thành tựu viên mãn vậy là đáo bỉ ngạn, tới bờ giác ngộ.
    Ðến khi chỉ tịnh, Thầy Duy-na phải xem chừng khi nào vị ban thủ đi tới đúng chỗ ngồi của người đó thì gõ một tiếng mõ. Khi tất cả đều đến đúng chỗ của họ rồi thì gõ thêm tiếng mõ nữa. Ai nấy ngồi xuống ngay ngắn, sống lưng thẳng, đầu không gục xuống, lưng không cong. Người ta nói "tọa như chung", nghĩa là ngồi như hình cái chuông, đầu ngay, lưng thẳng, tư thế an ổn và vững vàng.
    Tham câu "Niệm Phật là ai" không có nghĩa là niệm (recite) câu thoại đầu này. Ðây là tham tức là nghiên cứu cái chữ "ai". Có người bảo: "Tôi biết rồi, niệm Phật là tôi". Như vậy là không đúng! Câu thoại đầu này nếu ta thực sự giải đáp được rõ ràng, tức là ta đã thấy tánh, tìm được cội nguồn của Pháp, nhờ đó mà ta đã về được quê nhà. Thực tế không phải đơn giản và dễ dàng theo như kiểu chúng ta nghĩ: "Chính là tôi đó mà! Tôi đang niệm Phật". Quý vị niệm Phật ư? Vậy khi con người quý vị chết thì còn niệm Phật được không? Quý vị sẽ bảo là "không". Nếu không thì sao lại nói là người niệm Phật là quý vị? Nên nhớ rằng người niệm Phật là không chết, nếu quý vị phải chết thì người niệm Phật không phải là quý vị. Niệm Phật thành Phật, nhưng ai thành Phật? Ai tới quả vị Phật? Quý vị đã chết rồi kia mà!
    Bởi vậy, chính tại nơi này quý vị phải tham cứu, tham không buông lơi, cho tới lúc "biển cạn đá tan", cuối cùng sẽ tới ngày "nước chảy, đá hiện", và, trong khoảnh khắc quý vị bừng ngộ: "A! Nguyên lai là như vậy!"
    Thiền thất khai thị tháng 12,1980
     
    #17
  18. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Phải Thực Tập Công Ðức Vô Tướng

    Thiền Ðường là chỗ tuyển Phật, nơi đây là phước điền để gieo trồng công đức. Có câu nói:
    Chỉ trong giây lát ngồi tĩnh tọa
    Hơn xây hằng sa tháp bẩy báu
    Tại sao có thể nói như vậy? Bởi việc xây dựng chùa tháp chỉ là công đức có hình có tướng.
    Trong Kinh Kim Cang có câu:

    Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng
    Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như lai.

    Tạm dịch:
    Phàm có tướng đều là hư vọng
    Nếu thấy mọi tướng không tướng, tức thấy Như lai.

    Công đức do ngồi tĩnh tọa dù trong chốc lát cũng không bao giờ mất. Có người nói: "Vậy tôi khỏi làm những công đức ở bên ngoài, tôi chỉ làm công đức bên trong". Nghĩ như vậy là sai. Phải làm cả hai loại, vừa tu công vừa tu đức, cho tới lúc công đức được tròn đầy, phước và huệ đều đầy đủ, mới thành "Lưỡng Túc Tôn" được.
    Nên nhớ rằng xây dựng chùa miếu, thì chùa miếu lâu ngày cũng sẽ bị biến hoại theo thời gian; tạo được tháp, tháp cũng bị cháy tiêu khi có hỏa hoạn. Duy ngồi tĩnh tọa là có thể mang tự tánh của Tam bảo Phật Pháp Tăng đi đến chỗ thành tựu, đó là công đức vô lậu, bất chấp mọi thứ gió mưa, hỏa hoạn, muôn đời không mất, do đó công đức vô tướng có giá trị gấp muôn vạn lần hơn công đức hữu tướng.
    Ngồi tham trong chốn Thiền đường, xả bỏ mọi vọng tưởng, lấy tâm chân thật để tu tập, thì công đức ấy là vô lượng. Ngược lại không được như vậy thì chẳng có ích lợi gì, cho nên có câu nói: "Công đức tĩnh tọa dù trong giây lát còn giá trị hơn là công xây tháp nhiều như cát sông Hằng".
    Quý vị đến đây tham dự Thiền thất, đều là những người có sẵn căn lành nên mới gặp được nhân duyên này, để cùng tham thiền chung với nhau. Nay, chúng ta hãy giữ lòng thanh tịnh, đừng theo lối "tâm viên ý mã" để cho tư tưởng chạy ra bên ngoài. Như vậy là không đúng với Ðạo, bỏ uổng thời gian bẩy ngày trôi qua, không có ích lợi gì, để phụ chính lòng mình khi mới tới. Phải tìm cách chế ngự vọng niệm cho tâm được an tịnh. Có câu rằng:
    Tâm thanh, trăng hiện đáy nước
    Ý định, trời không vẩn mây

    Nhằm mục đích này, sang năm (năm 1982), một khóa thiền kéo dài mười tuần Thiền Thất sẽ được cử hành, thời gian tĩnh tọa là bảy mươi ngày. Hiện nay trên toàn thế giới, không thể kiếm ở đâu ra một Ðạo tràng mà người ta tham thiền trong bảy mươi ngày liên tục như vậy.
    Vạn Phật Thánh Thành muốn sửa đổi thời Mạt Pháp thành thời Chánh Pháp nên mới xả thân mạng lo việc tu hành, dụng công cho Ðạo. Nếu như có ai thực lòng tu, thì chỉ có thể tới Vạn Phật Thánh Thành họ mới có được cơ hội này. Các nơi khác thì tu hời hợt, công phu chỉ là làm cho qua chuyện. Theo danh nghĩa thì cũng là Thiền Thất, nhưng trên thực tế thời gian biểu không giống nhau. Tại Vạn Phật Thành mỗi buổi từ 2 giờ rưỡi sáng đã bắt đầu đi hương, cho tới 12 giờ đêm mới nghỉ, và trong khoảng thời gian này chỉ có một tiếng đồng hồ là gián đoạn mà thôi. Ðây là quy lệ của chúng ta về Thiền Thất.
    Thiền thất khai thị tháng 12 năm 1980
     
    #18
    huyenbi.tuThanks.
  19. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Sáu Ðại Tông Chỉ Của Người Tu Ðạo
     
    Kẻ tu hành phải có con mắt trạch pháp ("Trạch Pháp nhãn" hay "Dharma-selecting vision"), mới có thể chọn lựa thứ gì là chánh pháp, thứ gì là tà pháp. Chánh phápla?hông tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối. Ðây là sáu đại tông chỉ, người tu Ðạo noi theo sẽ có được chánh tri và chánh kiến. Ngược lại, tà pháp chính là tranh, tham, cầu, ích kỷ, tự lợi, nói dối. Nếu có sáu thứ đó thì sẽ có tà tri tà kiến. Ðây là điểm then chốt, là đường phân ranh giữa hai phía, hướng tới phía trước là Chánh pháp, về phía sau là tà pháp. Chúng ta phải nhận cho rõ điểm này.
    Giả như không có tà tri tà kiến thì chỉ cần giữ định lực kiên cố, ma vương sẽ không có cách gì quấy phá ta, không thể làm cho tâm ta lay động. Có câu rằng: "Phật đến giết Phật, ma đến giết ma". Câu này là nghĩa thế nào? Ðây chỉ là lời khuyên ta không nên quá chấp vào cảnh giới. Thấy Phật đến mà cũng không tiếp nhận hình ảnh này, huống chi là thấy ma! Tuy rằng trong nhiều trường hợp các cảnh giới đó là những tin báo trước, rất linh ứng, nhưng chúng ta cũng không nên tin vào. Ðiều mà chúng ta cần tin tưởng chính là sáu đại tông chỉ, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng tự lợi, chẳng nói dối. Ðó chính là lưỡi gươm chém ma, cái chầy hàng phục ma vậy.
    Như có đủ chánh tri chánh kiến thì dầu có được chư thiên hiện thân đến cúng dường, và cung kính khấu đầu, người tu cũng không động tâm. Rủi có sự động tâm hay sanh tâm hoan hỷ, thì loại ma hoan hỷ sẽ thừa cơ đến phá, làm người tu phát cuồng. Rủi có tâm u sầu thì loại ma u sầu sẽ đến làm cho tâm nhiễm phiền não, hoặc có khi sanh tâm chấp trước, tâm ngã mạn. Tất cả những thứ đó đều do ma quấy phá, khiến cho tâm mất sự thanh tịnh.
    Bởi vậy cho nên hễ gặp bất cứ loại cảnh giới kỳ quặc nào, người tu cũng không nên tin, không để cho tâm động. Chỉ nên tin vào trí huệ của mình, tin rằng tự tánh có thể sanh ra vạn pháp, tự tánh bổn lai là thanh tịnh, bổn lai không bị nhiễm ô, bổn lai không điên đảo. Như vậy thì còn cái gì để mong cầu nữa? Phàm có sự cầu mong là có sự nhiễm ô; có tranh, có tham, có ích kỷ, có tự lợi, có nói dối tức là có nhiễm ô. Gặp bất cứ pháp nào chúng ta đều có thể lấy sáu tông chỉ lớn đó làm thước đo, để quan sát, thứ nào hợp là Chánh pháp, thứ nào không hợp là tà pháp.
    Sáu đại tông chỉ có thể phá tà tri tà kiến của thiên ma ngoại đạo. Tất cả những hành vi tạo tác của thiên ma ngoại đạo đều có tính cách sở cầu, chủ ý để tranh, tham, cầu, ích kỷ, tự lợi, nói dối, cho chính mình chẳng phải cho tha nhân. Ðó là những tư tưởng thuộc về hàng bàng môn tả đạo.
    Người tu Ðạo phải tích lũy công, bồi đắp đức hạnh, nhưng không được chấp trước những điều đã thực hiện, như câu thường nói: "quét sách mọi pháp, ly hết mọi tướng", chớ không thể nói rằng: "Tôi làm công đức này, tôi tu hành như thế kia" hay nói: "Tôi đã đạt tới cảnh giới này, tôi có pháp thần thông kia". Cho rằng có những thứ đó, nhưng xét kỹ chúng đều là hư dối, không nên tin, không thể bị mắc vào. Nếu tin vào nhưng điều kỳ dị, những pháp thần thông thì người tu không thể vào được chánh định, chánh thọ (tức Tam-muội). Nên hiểu rằng chánh định, chánh thọ không phải từ bên ngoài mà có được, nó phải từ trong tự tánh mà sanh ra. Bằng cách nào người tu đạt được? Ðó là do công phu hồi quang phản chiếu, quay lại nơi mình (phản cầu chư kỷ), chánh định chánh thọ mới thành tựu được.
    Vạn Phật Thánh Thành là nơi tụ hội của muôn vạn bậc thánh. Tuy nhiên bốn phía xung quang Thành lại có những ma vương đương chờ cơ hội để nhập vào. Nếu như người tu mà tâm không thanh tịnh, trong đầu chỉ toàn là vọng tưởng thì ma vương sẽ thừa cơ lẻn đến xúi bẩy, tỷ dụ như chúng làm cho người tu tiên đoán chuyện này chuyện nọ. Nếu người tu lại tin rằng đó là thần thông mình đạt được, thì chính người đó đã bị cho vào tròng, thành kẻ quyến thuộc của Ma vương.
    Cũng như khi nghe được một thanh âm nào, quý vị đã vội cho rằng đó là lời trong hư không. Thật ra hư không chẳng có tiếng nói, mà phải biết rằng: "lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm theo duyên". Giả tỷ nghe thấy thanh âm của hư không, đó chỉ là cảnh giới ma chớ không phải do "Ðại Viên Kính Trí" mang lại. Có xá gì một chút tin tức nhỏ nhoi không đáng kể!
    Tâm tư của người tu phải thanh tịnh. Chớ tham cầu khả năng dự tri. Dự tri chẳng mang lại điều gì hay mà ngược lại chỉ gây thêm phiền phức, khiến cho chúng ta phân tâm, không tập trung được tinh thần, do đó vọng tưởng sẽ rối bời và phiền não thêm chồng chất. Nếu chẳng có dự tri, quý vị sẽ không có phiền não, tâm không bị chướng ngại. Tâm Kinh có nói: "Bởi không chướng ngại, nên không sợ hãi, ly hết mọi mộng tưởng điên đảo, Niết-bàn cứu cánh". Ðây mới chính là mục tiêu của hành giả trên con đường tu Ðạo.
     
    #19
  20. ChânKhông

    ChânKhông T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    509
    Đã được cảm ơn:
    369
    Tham Miết Sẽ Tự Nhiên Khai Ngộ
     
    Phép tắc ngồi tham thiền là mắt trông xuống mũi, mũi quán miệng, miệng quán tâm; cách đó dùng để chế ngự tình trạng tâm ý lăng xăng như câu người ta nói "tâm viên ý mã", và cốt giữ cho tâm khỏi hướng ra ngoài tìm kiếm. Trong Thiền đường, hành giả không được nghiêng ngó đông tây, vì nếu cứ như vậy thì tâm sẽ bắt theo cảnh bên ngoài mà không thể nào tham được. Ðiểm này là chỗ quý vị phải đặc biệt chú ý! Thời gian của thiền thất là vô cùng quý giá, một phút một giây cũng không thể bỏ phí, quý vị phải nắm lấy cơ hội đó mới có thể phát triển trí huệ.
    Người tu hành chớ nên trân quý cái túi da hôi thối này. Phải lìa ý nghĩ đó mới có thể dụng công tu hành; Nếu không lìa được nó, người tu sẽ biến thành nô lệ của nó và từ sớm đến tối chỉ phục vụ nó mà thôi. Do đó người tu hành chân chánh phải coi nó như một túi da hôi thối, nghĩa là tránh sự coi trọng nó. Coi nó là quan trọng thì sẽ có chướng ngại trên đường tu. Chúng ta phải "mượn cái giả, tu cái thiệt", tức chỉ coi nó là một phương tiện.
    Trong lúc tham, điều tối kỵ là ngủ gục. Có hai loại bệnh mà đa số thiền sinh thường mắc phải, một thứ là trạo cử, một thứ là hôn trầm; nếu như tâm không bị vọng tưởng, thì lại bị cảnh hôn trầm. Bởi vậy khi dụng công phải vận dụng hết tinh thần để tham, tuyệt đối không để cho ngủ gục. Nếu đã vào định rồi thì đó là chuyện khác.
    Công phu tham thiền sẽ dẫn tới chánh định chánh thọ, cái đó cũng gọi là tam-muội. Nếu như chứng được thì đây là cảnh giới "như như bất động, liễu liễu thường minh". Làm sao đạt được? Tất phải một phen khổ công, tinh tấn vượt mực, trong tâm không một vọng tưởng, cho đến lúc "một niệm chẳng sanh, toàn thể hiện", cuối cùng thấy được "bổn lai diện mục, bổn địa phong quang".
    Chìa khóa của tham thiền là thoại đầu. Niệm trước niệm sau là tham thoại đầu. Tham miết sẽ tự nhiên khai ngộ, tham cho đến lúc "sơn cùng thủy tận", tự nhiên sẽ có tin vui, cảnh giới "hoa tươi dưới liễu" sẽ xuất hiện trước mắt. Có người nói: "Tôi đã tham dự bao nhiêu lần thiền thất, chẳng biết tại sao tôi không khai ngộ?". Nguyên do vì bạn chẳng chịu khổ công mà lại cứ mong cầu sự khai ngộ. Nên hiểu rằng khai ngộ là kết quả của sự tích lũy công phu. Lâu dần công đức viên mãn, thời gian tới nơi, tự nhiên bạn được khai ngộ. Bạn không có công phu gì, mà lại muốn khai ngộ thì đó là một vọng tưởng si mê, chẳng khác gì "ếch nhái mà muốn thưởng thức thịt thiên nga", một chuyện không thể thực hiện được.
     
    #20

Chia sẻ trang này