Giãng Đại Cương Mật Tông Tây Tạng

Thảo luận trong 'VIDEO phật pháp' bắt đầu bởi Bian.tu, 28 Tháng mười hai 2012.

  1. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
  2. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
  3. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
  4. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Cho Bác tiếp bài của con nhé ...

    Thần chú của Mật Tông-MẬT TÔNG PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ

    Thần chú của Mật Tông (Phần 1)

    [​IMG]
    Hầu hết kinh điển Mật Tông đều nhấn mạnh rằng: Những mật chú đều là những chân ngôn của chư Phật và chư Bồ Tát có giá trị nhiếp tâm và truyền giảng vô lượng. Mật Chú giúp đỡ cho chúng sinh xa lìa tham, sân si, là những độc hại trong việc tu hành. Việc trì tụng những mật chú sẽ tiêu trừ các tai ương, giải cứu những ách nạn, đưa con người thoát khỏi cảnh giới sa đoạ. Thành thử, kiên tâm trì tụng với tất cả tâm thành, kết quả tốt đẹp không biết đâu lường được.

    Kinh Chuẩn Đề Đà Ra Ni của Mật Tông dạy những phương pháp trì tụng và nói về công năng của việc trì tụng những Chân ngôn. Có đến 10 bộ kinh dạy về Chân ngôn, từ thấp đến cao, mà trong ứng dụng bất cứ trình độ nào cũng tu tập được. Khi trì tụng lâu, sẽ được ứng hiện trong mộng tưởng.
    Kinh Chuẩn Đề dạy rằng: "Tu tập vững vàng sẽ tạo mộng lành. Hoặc mộng thấy chư Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng, Thiên Nữ. Hoặc mộng thấy tự thân bay lên hư không một cách tự tại. Hoặc vượt qua biển lớn, hoặc trôi nổi trên sông Giang Hà, hay lên lầu các, hoặc lên cây cao hoặc trèo lên núi tuyết, hoặc chế ngự được voi, sư tử, hoặc thấy nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cũng có thể mộng thấy là vị tu hành, sa môn. Hoặc nuốt bạch vật, nhả ra hắc vật. Hoặc thâm nhập vào tinh tú, thiên hà...". Trong khi trì tụng kinh điển này, thường phát ra ánh sáng lạ kỳ, do Phán nhãn mang lại. Có người thấy lạc vào cõi Tịnh Độ, cảnh giới giải thoát hoàn toàn. Cũng có người thấy được kiếp trước của mình.

    Nội dung

    Bộ kinh trên có giành phần lớn để nói về các Thần Chú: bản văn Thần Chú và công năng của Thần Chú. Thần Chú không sử dụng tùy tiện được. Phải có đức giác ngộ mới đọc Thần Chú có hiệu quả. Mật Tông nói về trường hợp nhiều đạo sĩ dùng những Thần Chú không đúng hướng gây tác hại: chẳng những không đạt được kết quả theo ý muốn, mà còn gây thêm những nguy hiểm khôn lường được. Nội dung các Thần chú này được phân chia ra 9 phẩm. Mỗi phẩm có sức nhiếp phục và sở cầu khác nhau:

    Nội dung 3 phẩm đầu

    Hạ Phẩm: nếu thành tựu hạ phẩm của Thần Chú, thì có thể năng nhiếp phục tất cả tứ chúng, phàm có sở cầu điều gì thì đạt được, sai khiến được nhiều hạng, kể cả Thiên Long cũng thuần phục. Những Thần Chú này lại còn có thể hàng phục được 45 loại trong các "trùng thú" và "quỷ mị".
    Trung Phẩm: Khi thành tựu được việc dùng Thần Chú của Trung Phẩm, sẽ có công năng sai khiến được tất cả Thiên Long, Bát Bộ, khai mở những "bảo tàng" dấu kín. Cũng có thể đi vào trong Tu La Cung, Long Cung... bất cứ trong trường hợp nào.
    Thượng Phẩm: Nếu thành tựu được phần Thượng Phẩm, sẽ có được những khả năng phi thường: hoặc dùng phép khinh thân để chu du khắp nơi, cũng có thể dùng đến thuật "tàng hình" để tránh tai biến.

    Nội dung 3 phẩm giữa

    Hạ phẩm: Nếu thành tựu hạ phẩm của phần này (Trung Độ) sẽ điều hành được nhiều cảnh giới, tái sinh trong vô lượng kiếp, phúc huệ chiếu sáng trong 3 cõi, hàng phục chúng ma.
    Trung phẩm: Nếu thành tự phẩm này, thì có sức thần thông qua lại các thế giới khác, có khả năng chuyển hoá Luân Vương, trụ thọ trong nhiều kiếp sau này.
    Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, sẽ hiệu chứng được nhiều phép lạ, từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên.Trung độ là trình độ khó thành; chỉ những bậc cao tăng nhiều kiếp mới nhiếp phục được 3 phẩm này.

    Nội dung 3 phẩm cuối

    Hạ phẩm: Nếu thành tự phẩm này, sẽ đạt được Đệ Ngũ Địa Bồ Tát trở nên.
    Trung phẩm: Nếu thành tựu phẩm này sẽ đạt được từ Đệ Bát BồTát Địa trở lên.
    Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, thì Tam Mật sẽ biến thành Tam Thân. Trong cảnh giới hiện tại thì có thể chứng quả "Vô Thượng Bồ Đề".

    Ứng dụng những Mật Chú

    Những nhà tu hành Mật Tông dùng những Mật Chú trong những trường hợp cần thiết nhất và cũng hạn chế nhất để tránh những tác hại khác. Một trong những loại Mật Chú quan trọng và thông dụng là Mật Chú Đà Ra Ni (Dharani). Theo nguyên nghĩa thì Đà Ra Ni là bảo tồn, gìn giữ, chống lại những lôi cuốn khác bất cứ từ đâu tới. Những Mật Chú này dùng để khống chế vọng tưởng và vọng động. Trong một giá trị khác, Mật Chú Đà Ra Ni sẽ phát huy đạo tâm của hành giả đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Tà ma, ngoại đạo đều bị Mật Chú Đà Ra Ni chế ngự ngay từ bước đầu. Dùng Mật Chú không thể khinh thường và thiếu cẩn trọng. Chỉ trong những trường hợp khổn cùng, cấp bách, không thể thoát khỏi tai kiếp thì mới đọc lên.
    Mật Chú Đà Ra Ni còn được gọi là "chân ngôn" hay "chân kinh" tức là những câu nói ngắn nhưng rất vi diệu, chân thật, "bất khả tư nghị" của chư Phật hay chư Bồ Tát. Mật Chú không thể giải nghĩa được hay lý luận được. Những buổi lễ quan trọng nhất của Mật Tông mới được dùng những Mật Chú này. Công dụng chính là đưa những sức huyền diệu, anh linh của vũ trụ đi vào trong nội tâm của con người. Mật Chú cũng có thể tiêu trừ những bệnh khổ do Tứ Đại gây ra. Những bệnh do Ngũ uẩn, hay do quỷ thần gieo rắc cũng có thể giải cứu bằng Mật Chú được. Cũng như Đàn Tràng (hay Đàn Pháp) (Mandala), Mật Chú có công dụng vô biên, khó lường được. Nhiều người coi thường Mật Chú và Đàn Tràng, cho nên khó giải thoát. Hiển Mật Viên Thông có chép rằng: "Ba đời của đức Như lai, chưa hề có vị Phật nào không theo Đàn Pháp mà thành Phật Đạo".
    Lời dạy này mang hai ý nghĩa: (a) Mật Chú và Đàn Pháp vốn rất huyền diệu (b) Chỉ dùng đến hai loại này trong trường hợp cần thiết nhất mà thôi.Giá trị của Mật Chú Đà Ra Ni không thể lường được. Chẳng hạn như một cao tăng tụng Mật Chú với tất cả lòng thành của mình thì sẽ tiêu trừ những nghiệp chướng rừng vướng mắc vào nội tâm hay từng gây tai họa lớn lao. Sức tiêu trừ này khó hình dung được, nhưng giải toả được những nguy hiểm do tha nhân tạo nên.
    Những cao tăng Tây Tạng ít khi nói đến những Mật Chú. Theo họ, một giới tử nào vọng động trong việc dùng Mật Chú, tưởng là cứu cánh tu hành, sẽ bỏ mọi khả năng tu tập chính của mình để học Thần Chú. Mật Chú chỉ được dùng như là cẩm nang tối hậu chỉ được mở ra thực hiện trong một thời điểm cần thiết nhất. Một giới tử sau khi được Điểm Đạo hay Quán Đỉnh thì được nhắc nhở điều này.
    Kinh Thủ Lăng Nghiêm trong phần nói về công năng của những loại Thần Chú của Kim Cang Thừa (Tantra) có đoạn viết:- "Mật Chú của chư Phật vốn là phép bí mật. Chỉ có đức Phật với Phật tự biết với nhau mà thôi; các vị Thánh cũng không thể nào thông đạt về Chú được. Chỉ trì tụng là diệt được tội lỗi, nhanh chóng đạt được Thánh Vị" (Phẩm Chú Hạnh).
    Trong một đoạn khác có viết: "Thần Chú là mật ấn của chư Phật: Những vị Phật và Phật truyền cho nhau, người khác trong cảnh giới nào cũng không thể nào thông hiểu được..."
    Trong Hiển Thủ Bát Nhã Sớ viết: " Chú là Pháp môn bí mật của chư Phật, không thể nào thấu hiệu được nhân vị của những lời Chú". Viễn Công Niết Bàn Sớ khi luận về Thần Chú cũng viết: "Chân Ngôn chưa chắc là chuyên ngữ của người Thiên Trúc. Nếu đem ra phiên dịch thì lại không hiểu nổi, vì lẽ đó cho nên không thể nào phiên giải được...".
    Thiên Thai Chỉ Quán của Thiên Thai Tông cũng viết về các Thần Chú như sau: "Chỉ có bậc Thánh Thượng thì mới có thể nói đến (giải lý đến) 2 pháp: Mật và Hiển. Những kẻ phàm nhân chỉ có thể xưng tán được những lời kinh trong Hiển Giáo; còn về Mật Giáo thì không giải thích được. Đà Ra Ni, nhân vị của Thánh Hiền không thể nào hiểu giải được, chỉ có thể tin mà thọ trì mà thôi. Trì Chú thì có thể diệt được mọi nghiệp chướng, kết tựu được phước đức". Theo những cao tăng của Mật Giáo, những Mật Chú (Mantras) là Viên Mãn, nếu giải thích ra chỉ là phiến diện, có thể sai lầm nữa. Thành thử không nên tìm cách để giải thích. Những kinh sách cho rằng: đây là guyên nghĩa của những câu Thần Chú chỉ là ngụy ngôn.
    Mật nghĩa chỉ là "bất khả tư nghị". Trong Pháp Hoa Sao Sớ có đoạn nêu rõ rằng: "Về Bí Pháp của chư Phật, thì không thể nào hiểu được ý nghĩa, cho nên được gọi là Mật ngôn". Bát Nhã Tâm Kinh viết: "Tổng trì cũng như loại thuốc thần, như Cam Lộ, uống vào thì lành bệnh, nhưng khi phân tích trong đó có gì, là điều sai lầm. Tuy là mật ngôn, nhưng công dụng, giá trị của những lời Thần Chú này thật bao la".
    Theo Đà Ra Ni Kinh thì: "Thần Chú vốn là tối thắng, có thể giải trừ được tội lỗi của chúng sinh, giải thoát được sinh tử luân hồi, chứng quả Niết Bàn, an lạc pháp thân...".
    Khi tụng những câu Thần Chú, phải chú ý đến toạ bộ. Chẳng hạn như trì tụng Đại Tam Muội Ấn thì: "Lấy hai tay ngửa ra, rồi tay hữu để lên trên tay tả, hai đầu ngón cái giáp lại với nhau, để ngang dưới rốn". Thực hiện việc trì tụng này, kết quả không lường được: Ấn này có thể diệt được tất cả cuồng loại, vọng niệm, điên đảo, tư duy tạp nhiễm. Còn khi chấp thủ về Kim Cang Ấn Quyền thì kết ấn như sau đây: "Lấy ngón cái để trong lòng bàn tay bấm tại đốt vô danh chỉ giáplòng bàn tay, rồi nắm chặt; sau đó tay phải cầm chuỗi ký số, miệng tụng: "Tịnh pháp giới chân ngôn" (108 biến).
    Ấn này trừ được nội ngoại chướng hiện ra hay nhiễm phải; thực hành đúng đắn thì thành tựu tất cả công đức. Về Chuẩn Đề Chú thì kết ấn như sau: "Sau khi đảnh lễ (3 lạy) xong, thì hành giả ngồi kiết già. Lấy ngón tay áp út và ngón út bên mặt và bên trái xỏ lộn với nhau vào trong hai lòng bàn tay; dựng hai ngón tay giữa thẳng lên, rồi co hai ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của hai ngón giữa; còn hai ngón tay cái thì đè lên lóng giữa của ngón áp út bên mặt. Để ấn này ngang ngực.
    Sau đó chí tâm tưng 108 lần câu chú "Chuẩn Đề" và chú "Đại Luân Nhất Tự" như sau: "Nam Nô Tát Đa Nẫm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẫm, Đát Điệt Tha. Án Chủ Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Đề, Ta Bà Ha - Bộ Lâm."
    Có thể trì tụng nhiều hơn nữa. Khi niệm số đã ấn định, muốn nghỉ thì xả ấn lên trên đỉnh, kế đó dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyền mà ấn theo thứ tự 5 vị trí như sau: 1) Trên đảnh đầu 2) Nơi vai bên trái 3) Ở vai bên mặt 4) Tại ngang ngực 5) Nơi yết hầu

    (Còn tiếp)
     
    #4
    Như ÝThanks.
  5. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Mật Tông Tây Tạng là một biến thể của Phật Giáo khi đã hội nhập đã chuyển hóa theo tôn giáo bản địa. Theo những tài liệu sử sách tại đây thì trước khi Phật Giáo Đại Thừa du nhập và đất Tây Tạng thì trên đất nầy vốn đã có một tôn giáo riêng, mang dấu ấn của Thần Giáo. Tôn giáo nầy chứa đầy những huyền phép đặc biệt, mang tính chất bí ảo, mà ít người có thể hiểu biết, chuyên thờ cúng và hành trì những hiện tượng siêu hình như thuật khinh thân, bói toán, tàng hình; đứng đầu là những vị pháp sư.

    Đại cương

    Mật Tông Tây Tạng là một biến thể của Phật Giáo khi đã hội nhập đã chuyển hóa theo tôn giáo bản địa. Theo những tài liệu sử sách tại đây thì trước khi Phật Giáo Đại Thừa du nhập và đất Tây Tạng thì trên đất nầy vốn đã có một tôn giáo riêng, mang dấu ấn của Thần Giáo. Tôn giáo nầy chứa đầy những huyền phép đặc biệt, mang tính chất bí ảo, mà ít người có thể hiểu biết, chuyên thờ cúng và hành trì những hiện tượng siêu hình như thuật khinh thân, bói toán, tàng hình; đứng đầu là những vị pháp sư.
    Theo họ thì những mãnh lực huyền bí vẫn tồn tại trong vũ trụ và những nhà tu hành phải vận dụng đủ cách để chế ngự và điều động cho được những mãnh lực siêu nhiên nầy. Khả năng chế ngự đến mức độ nào là tùy theo trình độ tu luyện của họ. Huyền học bao trùm tôn giáo bản địa.
    Về sau, vì những khó khăn trong việc ứng xử và hành trì, cho nên đã có những tranh chấp và phân ly thành hai khuynh hướng tăng sĩ Huyền Môn lẫn tín đồ. Họ đưa ra những lý giải riêng có khi mâu thuẫn nhau trên nhiều địa hạt. Những cuộc tranh luận giữa hai nhóm thường được tổ chức công khai hay trong hành trì. Cả hai đều tìm cách để bành trướng trong việc lôi cuốn tín đồ cũng như ảnh hưởng đến chính quyền. Điều nầy đã gây ra những đổ vỡ trầm trọng trong tôn giáo nguyên thủy của Tây Tạng.
    Từ đó nẩy sinh ra Chân Giáo và Huyền Giáo. Chân Giáo muốn đi vào cuộc sống thiết thực để hướng dẫn cuộc sống; trái lại Huyền Giáo thì đi sâu vào việc nghiên cứu các hiện tượng siêu hình mà họ cho là đã điều khiển linh hồn mọi người. Nhiều giai thoại về sự tranh chấp nầy vẫn được truyền tụng cho đếnnay, mà họ cho là chính danh và tà thuyết.
    Chính quyền đã tìm cách để hoà giải hay đúng ra là lợi dụng những rạn nứt nầy để dễ bề thao túng.Cuối cùng thì những nhà tu hành theo Chân Giáo đã bỏ nước đến Ấn Độ để nghiên cứu thêm. Tại đây, họ đã gặp các tăng sĩ Phật Giáo và tiếp thu những tinh hoa của tôn giáo nầy. Với họ, đây là điều may mắn. Có nhiều vấn đề trước kia không thông suốt, quán triệt được, thì nay giáo lý nhà Phật đã giúp cho họ giải toả. Khả năng tiếp thu tôn giáo của họ vươn cao lên, để thoát khỏi những lẩn quẩn trong hiểu biết siêu hình.
    Nhiều vị còn lưu lại để nghiên cứu và hành trì; trong khi đó nhiều vị đã trở về Tây Tạng để truyền bá tư tưởng mới. Họ vận dụng Phật Giáo hoà nhập tinh thần dân tộc để truyền đạo. Từ cách tu hành cho đến việc giảng dạy cho tín đồ, họ đã dùng những phương thức mới lạ, mà trước đây chưa phát triển tại Tây Tạng.
    Chẳng bao lâu, ảnh hưởng của tôn giáo nầy bành trướng mau lẹ. Lạt Ma Giáo (Lamaism) ra đời từ đó. Tôn giáo nầy cũng đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi. Trong giai đoạn đầu, họ tìm cách hoà hợp Phật Giáo với những nguồn tín ngưỡng bản địa.
    Nhưng về sau, thông qua kinh điển, họ đã cải cách dần dà từ nền tảng Phật Giáo. Kinh sách ngày càng nhiều, tăng sĩ đào tạo ngày càng đông, cho nên tín đồ gia tăng nhanh chóng. Đã có những thay đổi lớn lao so với tôn giáo cổ truyền ở Tây Tạng.
    Theo nghiên cứu của Lạt Ma Lobsang Rampa thì: Nếu tôn giáo cổ của Tây Tạng chuyên về những phép thuật Thần Thông, Ma Thuật, Huyền Học, xem đó là nền tảng chính yếu, thì đằng nầy Phật Giáo chỉ coi đó là những phương tiện trong việc tu hành nếu có, chứ không là cứu cánh giải thoát con người. Mà đã là phương tiện thì chỉ ứng xử trong một mức độ nào đó, sẽ bỏ đi. Còn nếu cứ xem phương tiện là cứu cánh, thì điều nầy chỉ là trở ngại lớn lại trói buộc mức độ tu hành mà thôi.
    Những danh tăng của Lạt Ma Giáo có công trong việc canh tân tôn giáo nầy để trở nên vững chắc như hiện nay thì phải kể đến công trình của đức Milarepa và Tsong Khapa. Nếu đức Milarepa đi sâu vào việc nghiên cứu những vấn đề thuộc luận lý học Phật Giáo thì đức Tsong Khapa lại nghiên cứu về lãnh vực tâm lý học, luân lý học và siêu hình học. Sự hoà hợp nầy đã khiến cho Mật Tông Tây Tạng trở nên uyên áo hơn.

    Hiển Tông và Mật Tông

    Pháp môn tu học trong đạo Phật rất nhiều vô lượng. Sở dĩ có nhiều vô lượng như thế là vì căn tánh của chúng sanh bất đồng. Người ta liên tưởng đến hình ảnh về thân thể của con người mang nhiều chứng bệnh khác nhau, cho nên y sĩ dùng các loại thuốc khác nhau để chẩn trị mới hiệu nghiệm được. Đức Phật đã thấu rõ nguồn cội căn tánh của mỗi chúng sanh cho nên Ngài giảng dạy vô lượng pháp môn tu để có thể thích hợp từng căn tánh của mỗi một chúng sanh,ngõ hầu ai nấy đều thích ứng được, có thể tiến triển trên con đường tu hành của mình để Giác ngộ, Giải thoát.
    Pháp môn tu học lưu hành rộng rãi phải nói đến pháp môn Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Về Mật Tông tại Việt Nam cũng đã có một thời phát triển và lưu lại nhiều huyền thoại: tăng sĩ Khâu Đà La tu tại chùa Dâu đã độ cho nàng Man Nương, thiền sư Nguyễn Minh Không thuộc dòng thiền Vô Ngôn Không đã trị bệnh kỳ diệu cho vua Lý Thần Tông...
    Trong sách sử hành đạo của các cao tăng thiền đức thường nói đến "Thiền, Tịnh song tu" tức là ngoại hiện thiền tướng, nội hành tịnh độ; hay là "Thiền, Mật kiêm trì" nghĩa là ngoại hiển mật hạnh, nội tâm hành thiền; hoặc "Thiền hiển, Mật tàng" tức là ngoại hiện thiền tướng, nội tâm tu Mật chú. Trong lúc Thiền Tông và Tịnh Độ Tông được lưu hành khắp các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam thì Mật Tông đã trở thành pháp môn tu hành truyền thống của các nước Tây Tạng, Mông Cổ và trong thời gian gần đây đã được phổ biến đến các nước Âu Mỹ qua các nhà sư Tây Tạng. Pháp môn tuy nhiều, tùy lúc mà nói, nhưng mục đích vẫn chỉ là làm thế nào để đi vào biển viên mãn, cho nên trở về chỉ là Nhất thừa. Hiển Tông và Mật Tông đều gồm thâu cả tánh và tướng.
    Nghĩa lý Hiển Tông chia ra làm năm thời, tóm lại là Tô Đạt Lãm (tức là Kinh). Mật Tông gồm ba bộ tạng, riêng gọi là Đà Ra Ni (Thần chú). Người học Hiển Tông cho rằng: Không, Hữu, Thiền, Luật có những khác biệt, nhưng cứu cánh, viên lý cũng chỉ là một. Còn người học Mật Tông thì lấy: Đàn, Ấn, Chữ, Tiếng làm phép tắc, nhưng phương thức đều nhắm vào Thần Tông, bí áo.
    Hiển Giáo (Sutra Path) thường được gọi là Tịnh Độ Tông là phương pháp tu hành gồm có: đọc kinh, tụng điển, lễ Phật, cúng dường.Tịnh Độ Tông chú trọng đến việc tụng kinh, niệm Phật, đễ cho nhất tâm bất loạn, để lúc lâm chung cầu cho trở về cõi Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Ngoài việc niệm Phật, Tịnh Độ Tông còn khuyên dạy chúng sanh quan tâm đến việc thanh lọc những hành động thuộc Thân, Khẩu, Ý, sống theo hạnh nguyện chân chính, thường xuyên phát triển đức Từ Bi, Hỷ Xã, thường hoạch cát tường, viễn ly khổ ách.Tịnh Độ Tông được phân chia làm hai thừa là Đại Thừa (Mahayana) và Tiểu Thừa (Hinayana).
    Các nhà tu hành nhấn mạnh đến hai phép tu nầy chỉ là hai giai đoạn cần thiết trong việc tu hành, tự lợi, lợi tha, chứ không hề có chuyện mâu thuẫn nhau, nghịch lý nhau. Mật Thừa (Tantra Path) còn gọi là Mật Tông, cũng chỉ là một phương pháp tu hành mà đức Phật muốn dắt dẫn chúng sanh đến con đường Giác ngộ và Giải thoát.
    Một khi đã được Giác Ngộ và Giải thoát thì có thể tiếp tục tu hành, để hoàn thành con đường Bồ Tát Đạo trở lại cõi Ta Bà để độ chúng sanh như hạnh nguyện của đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã từng làm.Tuy có sự phân chia như thế, nhưng thật ra, tất cả chỉ là phương tiện, từng giai đoạn, để tiến hành trên con đường duy nhất: giải thoát. theo những kinh điển của Mật Tông, nếu đi theo con đường Hiển Tông thì phải trải qua vô lượng kiếp tu hành thì mới có thể đạt đến quả vị Phật, nhưng nếu theo con đường của Mật Tông thì có thể đạt đến quả vị Phật ngay trong một kiếp.
    Cũng vì lý do nầy cho nên nhiều người cho rằng con đường tu hành theo Mật Tông là con đường ngắn nhất. Tuy vậy, những không phải bất cứ người nào cũng có thể tu hành theo Mật Tông vì phải trải qua muôn ngàn khó khăn, chỉ giành cho chư vị Bồ Tát, chư vị Tổ sư có công phu tu hành vô cùng tinh tấn thì mới tu tập để chứng quả được. Ở những nước phương Đông, do phong tục, văn hoá và tín ngưỡng, hầu hết mọi người đều xem cái chết chẳng qua chỉ là một sự chuyển tiếp trong muôn ngàn kiếp của con người.
    Tùy theo nghiệp quả mà con người đã gieo trong kiếp nầy và trong vô vàng kiếp trước, mà sau khi chết con người sẽ đầu thai vào một kiếp tốt hơn hay xấu hơn. Có thể lên Niết Bàn, hoặc xuống ngục A Tỳ, chịu những trừng phạt của Diêm Vương. Bánh xe luân hồi không chỉ xoay vần trong vài ba kiếp, mà cứ mãi vần xoay miên viễn, cho đến khi linh hồn tu luyện đạt đến độ đạt đến mức giải thoát ngũ uẩn, lục căn, được xem là thoát khỏi vòng luân hồi, không còn trong vòng sinh tử, chuyển kiếp nữa.
    Với nhận thức nầy, mọi người phải ra sức tu luyện, học hỏi giáo pháp, làm điều thiện, để được chứng quả. Theo hạnh nguyện của một số người, sau khi đắc quả, vẫn quay trở lại trần gian theo Bồ Tát Hạnh để dẫn độ chúng sanh. Có nhiều vị Phật vì xót thương chúng sanh ngụp lặn trong mê mờ, đã chấp nhận hoá thân. Mật Tông là con đường tu chứng hết sức linh thiêng và huyền diệu trong các pháp môn tu học Phật Giáo, với những năng lực huyền diệu mang tính bí hiểm.
    Những vị Tổ sư của Mật Tông như Marpa và Milarepa đều nhấn mạnh đến ý nghĩa của công năng trì tụng Thần Chú, như là phương tiện cần thiết nhất để đi đến giác ngộ toàn chân. Từ trước đến nay, theo truyền thống Mật Tông Tây Tạng được kiến tạo trên nền tảng truyền thụ khẩu quyết giữa chân sư và đệ tử, cho nên sự truyền bá cũng hạn chế. Hầu hết những khẩu quyết nầy được giữ gìn bí mật, như một yếu quyết, không muốn phổ biến sâu rộng. Vì trước khi bước vào ngưỡng cửa nầy phải đi qua phần căn bản giáo lý Tiểu Thừa và Đại Thừa với ấn chứng vững chắc.
    Khẩu quyết nầy tương tự như công án (Koan) của Thiền tông, là cánh cửa mở vào Mật Tông; hành giả phải trì tụng thuờng xuyên, quán chiếu nội tâm, để dần dà phá vỡ màn vô minh bao trùm các giới. Với những trở ngại như thế, cũng như trong Thiền Tông, hành giả cần có vị chân sư hướng dẫn, chỉ điểm và giải thích khó khăn trong việc hành trì.
    Mật Tông không thể tiến hành tu tập sau khi hiểu qua một ít kinh sách, đọc vài câu Thần chú, biết vài ấn quyết là đủ. Sự kinh diệu là ở hành trì. Hơn thế nữa con đường tu hành khắc kỷ nầy đòi hỏi sức chịu đựng lâu dài, thân thể khoẻ mạnh, tập trung tư tưởng cao độ thì mới khai mở Phật nhãn được. Thiếu những yếu tố nầy, khó lòng đạt được mức ứng ngộ cao, đi thẳng vào thực tướng các pháp. Thành thử một khi đã bước vào tu hành Mật Tông, các vị chân sư thường khuyến khích hành giả nên tuân thủ pháp tắc thật nghiêm minh, tôn trọng giới luật, hiểu biết sâu rộng để hành trì. Mỗi khi thiện niệm được khai mở, quán chiếu vào mọi pháp, thì ngõ vào Mật Tông được khai thông.

    Những lãnh vực của Mật Tông

    Thực ra Mật Tông không vận dụng triệt để những tư tưởng Phật Giáo trong cách tu hành và liễu ngộ. Điều học được của Phật Giáo là quan tâm đến việc tìm đường giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi; tuy nhiên, vốn ứng dụng những phương pháp cổ truyền, cho nên những danh tăng Mật Tông vẫn dùng phương tiện để đạt đến sự giải thoát trên căn bản huyền học, đầy chuyện bí mật.
    Qua những công trình phát huy tôn giáo nầy của đức Milarepa, những tín đồ Mật Tông được phân chia là làm 2 loại: tu sĩ và Lạt Ma. Tu sĩ là những tín đồ chỉ hành trì theo một số giới luật nhất định. Họ có thể lập gia đình và tu hành trong khả năng hữu hạn. Còn Lạt Ma phải tuân thủ nhiều giới luật ràng buộc hơn, sống theo nếp đạo hạnh thuần nhất để đi đến giải thoát.
    Về sau, do sự thay đổi lớn trong pháp môn tu tập. Mật Tông lại được phân chia ra làm nhiều Giáo phái khác, thậm chí có Giáo phái được liệt vào "ngoại đạo" nhưng lại ảnh hưởng rất lớn; nổi tiếng hơn hết là 3 Giáo phái: Giáo phái Số Luận (Samkyas), Giáo phái Thắng Luận (Vaisheshikas) và Giáo phái Huyền Học (Charvaka). Mật Tông có nhiều phương thuật tu luyện đặc biệt do những vị ẩn tu phát kiến; điều nầy đã khiến cho người Tây Phương xem là huyền thuật, khó tin, thậm chí là siêu phàm nữa. Chẳng hạn như khinh thân, tàng hình, dùng Thần Nhãn, khắc kỷ, cùng các phương thuật phát triển Thần Nhãn.
    Theo Mật Tông, khi con người tu luyện đạt đến cảnh giới nào đó trong lối tu trì, họ sẽ có nhãn quan siêu phàm gọi là Thần Nhãn. Trong danh từ "Thần nhãn" thì từ "Thần" có nghĩa là phi thường, khác thường, liễu ngộ. Thông thường những tu sĩ nầy thường vận dụng Thần Nhãn của mình để soi sáng được cảnh giới vô hình. Nếu cả hai đều dùng Thần nhãn để liên hệ với nhau thì gọi là "Thần giao cách cảm".
    Đạt được Thần Nhãn, có nhiều mức độ khác nhau và đạt được kết quả khác nhau. Chẳng hạn như có người dùng Thần Nhãn để xem tiền kiếp của mình hay của người khác. Lại có người dùng công năng Thần Nhãn trong việc trị bệnh. Với họ, bệnh tật là do vướng mắc của linh hồn. Cởi bỏ vướng mắc tức là lành bệnh.
    Tuy nhiên với những đạo sĩ Mật Tông, việc khai mở Thần Nhãn phải được tiến hành thận trọng, nếu sai lầm hay với dụng tâm bất chánh nào đấy, thì hậu quả không biết đâu lường nổi, thậm chí bị tẩu hỏa nhập ma. Đa số đạo sĩ dùng Thần Nhãn để quán kiến nội tâm trong phép tu hành mà thôi. Với họ đây là phương tiện tốt nhất trong việc chiếu kiến của Thần Nhãn.
    Những kinh điển chính của tôn giáo cổ cũng như Huyền Môn sau nầy ở Tây Tạng thường đề cập sâu rộng những vấn đề siêu hình, tâm linh, những bí cấp và pháp thuật Thần Thông, Thần Nhãn, soi hồn, những cõi vô hình một cách tự nhiên với nhiều huyền thoại mà người đời thật khó tin. Tuy nhiên, với họ vẫn là những phép mầu, linh thiêng, không thể coi thường được. Khi đề cập đến, họ thường tỏ vẻ trang nghiêm, tôn kính. Những vị chân tu Tây Tạng tin rằng: "Những sự kiện nầy xẩy ra trong mọi nơi, trong mọi cõi đều là những hiện tượng siêu nhiên, huyền bí, tuy nhiên không phải là chuyện khác thường".
    Nhưng những nhà nghiên cứu Tây Phương thì lại giải thích bằng cung cách khác, dựa vào yếu tố Cảnh quan học và Thần linh học. Họ cho rằng: Vùng đất Tây Tạng nằm trên vị trí cao nhất thế giới, quanh năm tuyết phủ, cây cối khó mọc được là nơi thuận lợi nhất để kết tụ những hiện tượng siêu hình. Nhiều quốc gia khác không hội đủ điều kiện nầy cho nên các nhà nghiên cứu tại đó đã nhìn về Huyền Học Tây Tạng bằng nhãn quan khác lạ. Khoa học thực nghiệm thì lại càng xa xăm, ngờ vực hơn. Đây là vấn đề thuộc tâm linh, mà xứ sở Tây Tạng thì dễ tiếp cận hơn vùng đất nào khác trên thế giới.
    Huyền Học Tây Tạng giải thích các vấn đề bằng con mắt siêu thần linh khác lạ. Chẳng hạn: họ giải thích rằng: Con người thực tạilà một phức thể bao gồm nhiều thể chất khác nhau. Qua cảnh giới siêu hình thì mỗi thể loại tương ứng với một cõi khác. Xác và Vía là hai thể đối lập, cho nên thể xác thì tương ứng với cõi Trần Gian, thể Vía thì tương ứng với Thân Trung Ấm (Bardo). Điều nầy được trình bày khúc chiết trong Tử Thư.
    Trong Mật Giáo có nhiều phương pháp hành trì và tu luyện khác nhau, tuy nhiên đa số đều sử dụng những loại Thần chú, ấn quyết, Mạn Đà La... để có thể nhiếp phục được thân tâm của mình trong những nghịch cảnh của đường tu tập. Họ cũng thường dùng đến sức mạnh của nội tâm và ý lực tự cường để trấn áp tà ma, quỷ mị, nghiệp chướng, cho đến khi nào có thể đắc Định Tuệ, khai Pháp Nhãn. Khi đó sẽ hoàn toàn làm chủ Thân và Tâm; đó là bước khởi đầu trên con đường tinh tấn tu hành của Mật Tông.
    Một khi đã khai mở Định Tuệ của mình rồi, nhưng nếu người tu hành đã không phát triển những hạnh nguyện rộng lớn và cao cả hơn, thì cũng khó để có thể tiến xa hơn.Xác lập được hạnh nguyện rộng lớn của mình rất quan trọng, vì nhờ đó, có thể thoát khỏi vòng vô minh, mê muội, phá trừ được ngã chấp, khai thông Trí Tuệ. Bắt đầu bước vào con đường tu tập, đòi hỏi một khả năng tu hành, trì giới thật nghiêm nhặt. Sau đó, tìm một không gian tĩnh mịch để thiền định.
    Trong những tu viện Tây Tạng ngày trước thường xây những mật thất bằng đá khép kín, để giới tử có thể thực hành việc thể nghiệm trong giai đoạn đầu nầy. Một khi vị Tu sĩ (Trappa) đã phát nguyện là sẽ nhập thất trong một thời gian nào đó, thì vị sư trưởng sẽ trắc nghiệm khả năng, đồng thời bố trí để giới tử có thể tiến hành việc tu tĩnh. Hàng ngày sẽ có vị Giám sự theo dõi và trình lại cho sư trưởng biết được những chuyển biến. Có người nhập thất trong ba tháng, sáu tháng, có khi đến ba bốn năm. Sau khi hết thời gian chứng nghiệm nầy, giới tử có thể rời mật thất. Nhưng nhiều vị khi hoàn tất tu thiền nầy, lại xin trở lại tiếp tục, vì họ thấy hoàn cảnh ở đó thuận lợi cho việc thoát ly những vướng bận của hoàn cảnh chung quanh. Tuy ở trong mật thất để Thiền định, nhưng các tăng sĩ nầy có thể phóng ra bên ngoài những tư tưởng tốt lành để hộ trì cho kẻ khác.
    Cũng có vị sau khi hoàn tất thiền định trong mật thất, lại tiến xa hơn bằng cách tìm đến những hang cốc lạnh lẽo trong rừng núi, hay ngồi thiền trên tuyết lạnh, hết năm nầy sang năm khác. Ngoài ra cũng có nhiều vị sau khi kết thúc thời gian Thiền định lại trở về cuộc sống bình thường để nhập thế độ sanh.
    Trong việc tu luyện nầy, vai trò của những vị sư trưởng rất quan trọng. Sư trưởng của Mật Giáo không phải là một chức vị được đề cử sau khi tốt nghiệp kỳ thi Lạt Ma. Chức vụ nầy đòi hỏi một công phu tu hành lâu ngày, kiên định vững chắc và qua một thời kỳ Điểm Đạo (Initiation). Điểm đạo ở đây theo đúng lễ nghi và pháp tắc, khác với những hình thức Điểm Đạo hàng chục ngàn Phật tử tham gia tùy tiện như thường thấy tổ chức đại trà tại Hoa Kỳ trong những năm gần lại đây.
    Giới tử trong khi tu tập, ngày đêm kiên trì giữ vững tư tưởng của mình. Trong những sách vở bí truyền của Giáo phái Bon Pa Tây Tạng, con người có 3 nguồn năng lực là tư tưởng, dục vọng và hành động thì tư tưởng quan trọng hơn hết.
    Tư tưởng chế ngự dục vọng và hướng dẫn hành động theo con đường chính đáng theo Phật dạy. Tu tập nghiêm trì chẳng những tạo được công hạnh trong kiếp nầy mà ảnh hưởng về những kiếp sau nữa. Sự tái sanh của các Lạt Ma thường được giải thích theo chiều hướng nầy.

    (Còn nữa)
     
    #5
    Như ÝThanks.
  6. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Hiển Tông và Mật Tông (Phần 2 - cuối)

    [​IMG]
    Đại Nhật là bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tôn. Đại Nhật được dịch từ chữ "Đại Tỳ Lô Giá Na" (Mahavairocana), nguyên nghĩa là "đại giải thoát" hay "đại giác ngộ". Đại Nhật cũng được gọi là "ánh sáng mặt trời". Đây là sự sáng chói do công năng tu hành đạt được.
    Kinh Đại Nhật (Mahavairocana Sutra)

    Đại Nhật là bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tôn. Đại Nhật được dịch từ chữ "Đại Tỳ Lô Giá Na" (Mahavairocana), nguyên nghĩa là "đại giải thoát" hay "đại giác ngộ". Đại Nhật cũng được gọi là "ánh sáng mặt trời". Đây là sự sáng chói do công năng tu hành đạt được. Màn vô minh sẽ bị đẩy lùi, sức sáng trí tuệ lan toả. Toàn bộ kinh hướng về trọng tâm nầy.Kinh điển Nhật Bản gọi là "đạo bồ đề"; Kinh điển Trung Hoa dịch là "đại chứng quả". Những ý niệm nầy có điểm tương đồng về mục đích cuối cùng của tu chứng.
    Bộ kinh nầy dày đến 14 cuốn, được phân chia làm 123 chương, đại cương trình bày 2 vấn đề chính: vấn đề lý thuyết (50 chương đầu) và vấn đề thực hành (73 chương). Tuy nhiên hai phần bổ sung cho nhau và vấn đề nghiên cứu phải đi từ đầu.
    Những vấn đề căn bản của kinh Đại Nhật: Nghiên cứu những vấn đề chính trong kinh Đại Nhật, phải đi từng phẩm một. Những phẩm nầy có những liên hệ với nhau. Hành giả phải tiến theo từng bước. Có theo trình tự, mới quán triệt ý nghĩa. Không thể tách từng phần để hiểu ngang và điều nầy là chướng ngại trong học đạo và tu trì.
    Những phẩm chính là:- Pháp Tam mật- Chưng ba kiếp- Sáu Vô úy- Đàn pháp Mạn Đà La. Mỗi phẩm lại còn chia thành nhiều vấn đề nhỏ. Đại Phật Kinh kiến giải bằng mật ngôn, nên gây trở ngại không ít về dịch thuật. Thành thử nhiều tác giả đã hiểu sai lầm hay sơ sót, thiếu nghĩa. Ngài Long Thọ, vị Bồ Tát đã được truyền thụ đầu tiên và nhiếpđịnh kinh nầy đã nhận thức rằng: " Hành giả! Đại Nhật Kinh vốn là vua trong Đại Thừa; trong giáolý Mật Tông, đây là những lời Tối Mật". Thành thử trong những bản văn nghiên cứu Kinh Đại Nhật ở Trung Hoa và Nhật Bản, vì hiểu được tánh chất của Mật ngôn, thường khởi đầu bằng câu "Có thể hiểu như vầy", để tỏ rõ sự hiểu biết giới hạn về từng câu kinh của Đại Nhật.
    Pháp Tam mật: Tam mật gồm có Thân mật, Ngữ mật và Tâm mật. Phàm người tu hành theo kinh điển nầy phải dùng đến 3 phương tiện tối mật nầy để tạo thanh tịnh cho 3 Nghiệp là Thân Nghiệp, Khẩu Nghiệp và Ý Nghiệp. Nhờ đến cố gắng để bảo vệ 3 Nghiệp, sẽ nhận được sự gia trì do Tam mật của đức Như Lai. Thành tựu được phápmôn nầy sẽ được đắc quả Giải thoát, Giác Ngộ, không phải trải quanhiều kiếp sống để tu tập cho đủ các hạnh khác.
    Chứng ba kiếp: Bên cạnh pháp môn Tam mật, Giáo lý về ba kiếp,là phần quan trọng trong bộ Kinh nầy. Trong Kim Cang Thừa, tu Thiền Định có thể vượt qua những vọng chấp, thoát khỏi 160 Tâm và các loại phiền não, tức là vượt qua được A Tăng Kỳ Kiếp thứ nhất. Sau đó hành giả vượt qua vọng chấp vi tế của 160 Tâm: đó là ATăng Kỳ Kiếp thứ 2. Sau cùng, nhờ công năng tu hành, vượt qua được những vọng chấp còn lại, vứt bỏ được 160 Tâm, gạt được phiền não, để đạt được Sở Tâm của Trí Tuệ Phật. Nhờ Thiền định, hành giả có thể đẩy xa các phiền não đen tối, các u ám vây quanh, đạt đến sự sáng suốt của Tâm Bồ Đề.
    6 Vô Úy: gồm có Thiện Vô Úy, Thần Vô Úy, Vô Ngã Vô Úy, Pháp Vô Úy, Pháp Ngã Vô Úy và Nhất Thiết Pháp Tự Tánh Bình Đẳng Vô Úy. Trong Thiện Vô Úy, phải giữ vững Ngũ giới, làm 10 điều lành (Thập Thiện), sẽ tránh được những khổ não trong ba cõi ác (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh). Khi thực hành Thân Vô Úy, thì suy tưởng đến sự dơ bẩn của thân, vứt bỏ hết cái Ngã thường tình, trần tục, không còn chấp trước đến cái ngã của mình nữa.
    Thực hành Vô Ngã Vô Úy tức là quán tưởng thân xác của mình là chẳng qua là sự kết hợp của Ngũ Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Thực tập Thiền định để quán tưởng về tự tánh của Tâm, thoát tham, sân, si, tâm không phiền não, thân không kiêu căng, con người vốn chỉ do tứ đại hợp thành. Pháp Vô Úy tức là quán đến ngũ uẩn đều là không, các pháp uẩn đều trống rỗng, các hình tướng đều không có thực. Pháp Vô Ngã Vô Úy là quán về ba cõi do Tâm tạo nên. Ngoài Tâm ta ra, thì không có pháp; khi đó chính Tâm ta cũng rỗng không. Nhờ quán tưởng đến lý vô thường nầy, hành giả sẽ đắc quả Bồ Tát.
    Nhờ Thiền định, có thể thấy rõ bản chất của Tâm, đạt được "cái dụng tự tại" của Tâm. Nhất Thiết Pháp Tự Tánh Bình Đẳng Vô Úy giúp ta hiểu rằng: các pháp đều do nhân quả tuần hoàn lưu chuyển mà sanh ra, không hề có tự tánh. Các tánh đều có chung một tự tánh: đó là Không tánh. Phàm những người tu theo hạnh Chơn Ngôn (trì tụng Thần Chú), sẽ đạt được trạng thái thật của Bồ Đề Tâm, vạn vật đều là như huyễn.
    Đàn pháp Mạn Đà la trong kinh Đại Nhật Kinh Đại Nhật còn chỉ rõ những nhận định cần thiết trong việc lập Đàn pháp Mạn Đà La. Mạn Đà La được thực hiện trong Lễ Quán Đảnh, là hình tượng cao nhất để biểu hiện sự Giác Ngộ, Giải Thoát của chư Phật. Khi thực hiện Mạn Đà La, chỉ có những vị Kim Cang Sưmới đủ khả năng và đạo hạnh để thực hiện. Không thể tùy tiện sáng chế ra Mạn Đà La.Trong lễ Quán Đảnh, dựng Mạn Đà La lên, phải chọn đất và làm lễ Trí Địa (Earth Healing). Lễ Trí Địa nhằm mục đích "thanh tịnh hóa" vùng đất đó trước khi tổ chức Lễ Quán Đảnh. Nhờ vậy, tăng thêm phần uy nghi của cuộc lễ. Sau việc chọn đất là chọn ngày lành. Việc nầy phải lễ kính đến các Địa Thần phù trì.
    Như thế việc chọn lấy thời gian và không gian để tổ chức lễ Quán Đảnh, thực hiện đàn pháp Mạn Đà La rất quan trọng. Những vị Đạo sư chủ lễ Quán Đảnh tập trung Thiền định và quán tưởng đến 5 vị Thiền Na Phật (Djinas). Đó là chư vị: Đức Đại Nhật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) ngự ở trung tâm, đức A Súc Bất Động Như Lai (Aksobhya), ngự ở phương Đông, đức Bảo Sanh Nhật Lai (Ratsa Sambhava) ngự ở phương Nam, đức Vô Lượng Quang A Di Đà Như Lai (Amitabha) ngự ở phương Tây và đức Bất Không Thành Tựu (Amoghasidhi) ngự ở phương Bắc.
    Trong đàn pháp nầy thường có rất nhiều loại Mạn Đà La khác nhau, như: Đại Mạn Đà La, Tam Muội Gia Mạn Đà La, Pháp Đại Mạn Đà La,Yết Ma Mạn Đà La. Những Mạn Đà La có thể vẽ bằng những hạt cát có nhuộm màu; có loại được vẽ bằng sơn màu. Những giới tử trong buổi lễ thường được vị Kim Cang Sư chủ lễ trao cho sợi chỉ Kim Cang màu đỏ hay màu vàng. Có người được đón nhận lấy cây xỉ mộc hay đóa hoa khô.. Sợi chỉ màu tượng trưng cho 5 vị Thiền Na Phật. Cây xỉ mộc và đoá hoa khô được gieo vào nơi hành lễ của giới tử. Khi cây xỉ mộc hay đoá hoa khô rơi vào 1 trong 5 phương hướng nào, tương ứng với 5 vị Thiền Na Phật kể trên, thì giới tử đó sẽ nhận vị Thiền na Phật đó làm Bổn Tôn. Sau nầy sẽ thờ cúng và trì tụng vị Thiền Na Phật đó.
    Buổi lễ Quán Đảnh được kết thúc bằng lễ Hộ Ma. Hộ Ma có nghĩa là giải trừ các chướng ngại, khai mở Trí Tuệ Thậm Thâm.

    Đạo sư Kim Cang hay Kim Cang Sư

    Trong Kim Cang Thừa, vị Đạo sư Kim Cang có chức năng quan trọng nhất trong việc truyền thừa. Cũng như Pháp môn Thiền định, bao giờ cũng cần đến vị chân sư chỉ dẫn để khỏi sai lầm ngay từ đầu, trong Mật Tông cũng vậy.Vị Đạo sư Kim Cang lúc nào cũng tích cực, bình tĩnh và quán triệt mọi việc trong việc giáo huấn đồ đệ mình. Hình ảnh sâu sắc nhất của vị Đạo sư là tay phải cầm "cây cờ lịnh". Biểu tượng của cây cờ lịnh nầy cũng giống như chày Kim Cang hay "lưỡi tầm sét". Công năng của "lưỡi tầm sét" là phóng ra những tia tầm séttừ trong tay của mình với đối tượng trước mắt.
    Quan hệ giữa Đạo sư Kim Cang với giới tử rất quan trọng; nếu tương quan nầykhông thích hợp hay thiếu chặt chẻ, có tác dụng thì vị Đạo sư sẽ điều chỉnh lại sao cho thích hợp. Vị Đạo sư trong Mật Tông là người trung gian giữa giới tử với cảnh giới bên kia. Trong trường hợp nầy, có thể ví Đạo sư như thầy phù thủy. Thầy phù thủy có liên hệ với cảnh giới bên kia và có khả năng tiếp cận với cảnh giới ấy với khả năng của mình. Tuy nhiên tiếp cận có nghĩa là tìm hiểu, chứ không thể nào biến đổi. Nhiều người đã hiểu sai điều đó rồi khuếch đại lên về tài "hô phong hoán vũ". Đó là điều sai lầm.
    Nhưng vị Đạo sư của Mật Tông chỉ là người vận dụng những thần lực (Pháp Nhãn) để tiếp cận, chứ không phải là vị phù thủy được xem là có những tài năng đặc dị thay đổi cảnh giới.
    Thông thường, vị Đạo sư thường tiếp xúc với giới tử bằng cách đưabàn tay chạm vào vai, vào tay, đồng thời theo dõi từng nhịp tim của giới tử, để truyền đạt những năng lực của mình; cũng có khi hai người đụng nhẹ đầu vào nhau, cũng trong ý nghĩa trên. Tuy nhiên việc tạo năng lực của giới tử là khả năng vốn có của mình, chứ không lệ thuộc hoàn toàn vào kẻ khác. Hiểu sai, là nhận định lệch lạc ngay từ bước đầu.
    Sự tiếp cận và cảm nhận nói trên thường được gọi là "Abhisheka",đôi khi được gọi là "Lễ Điểm Đạo". Dịch theo ý nầy không đượcchính xác cho lắm. Theo nghĩa của tiếng Sanskrit, thì "Abhisheka"có nghĩa là "sự gột rửa". Nó thường được biểu tượng bằng lối gột rửa trong nước Thánh, thứ nước đã được những vị Đạo sư Kim Cang đã làm cho tinh khiết. "Ashisheka" không phải là một buổi Điểm Đạo, hay một lễ Tiếp Nhận. Nó hoàn toàn khác hẳn lễ đó.
    Đạo sư Kim Cang "chiếm giữ" phần hồn các giới tử và các giới tử đã đón nhận uy quyền; uy quyền nầy mạnh hay yếu thuộc về khả năng của bản thân giới tử đó và vị Đạo sư.Vị Đạo sư nắm giữ chúng ta, để đua chúng ta vào một cảnh giới khác. Vai trò của vị Đạo sư Kim Cang chẳng khác nào một cột thu lôi để truyền năng lượng của vũ trụ sang chúng ta. Việc thu nhận nầy có hai hệ quả khác nhau: có thể tạo nên một cơn "sốc"; cũng có thể sử dụng làm điện lượng tốt. Người thọ giới cũng thường gặp hai hiện tượng nầy.
    Khả năng tu học theo Mật Tông là làm sao thu nhập được điện lực tốt, tránh cơn "sốc" trong tư tưởng của mình. Trong Giáo lý của Kim Cang Thừa, thuờng nói đến tương quan trực tiếp của Đạo sư với đồ đệ không thể thiếu được. Con đường đi vào Mật Tông không dễ dàng, nếu chỉ hiểu qua loa một số giáo lý nhà Phật hay một số kinh điển nào đó.
    Người đệ tử không thể nào thực hành một phép tu Mật Giáo một cách thực thụ mà không có sự quan hệ với vị Đạo sư. Một vị Đạo sư như thế không phải là nhân vật tưởng tượng, nhân vật trong quá khứ hiểu qua sách sử, mà phải là vị Đạo sư đang hiện hữu và đã từng trải qua quá trình hành trìvề Tantra. Lạt Ma Choegyam Trungpa trong những tác phẩm nổi tiếng của mìnhvề "Thực hành Kim Cang Thừa" thường hay cảnh cáo: "Nếu không thể hiểu biết rõ ràng cách nhập môn Kim Cang Thừa với vị Đạo sư hướng dẫn, thì thà rằng đừng bước vào. Đi vào với những sai lầm, sẽ gây nhiều phiền phức và nguy hiểm..." Đạt đến vị thế của một Đạo sư trong Mật Tông là bài học của kiên trì, cương quyết, tin tưởng và dũng mãnh.
    Những vị Đạo sư của Mật Tông Tây Tạng trên con đường tìm hiểu đạo pháp thường trải qua muôn ngàn khó khăn. Việc tu chứng của Mật Tông đòi hỏi nhiều công phu, và nếu không có vị Chân sư dìu dắt sẽ rơi vào nhiều nguy hiểm. Trong Kim Cang Thừa, vị chân sư là tối quan trọng và không thể thiếu được. Trên nghiệm lý, người thầy hay vị Đạo sư Kim Cang chính là bản thân của sự truyền thừa năng lượng. Không có những vị nầy, giới tử không thể nào tiếp cận với thế giới hiện hữu một cách quán triệt thấu đáo được.Theo Ngài Bạch Liên (Padma Karpo) thì "Thực hành Mật Tông (Tantra) chẳng khác nào là "cỡi trên con dao". Người hành giả sẽ chọn một trong 2 con đường: Hoặc tuột theo con dao, hoặc ngồichết dính trên đó, tức là không tiến hành được chút nào. Tuy nhiên, nếu như giới tử biết được phương thức nào để có thể tuột trên con dao đó, thực hành dễ dàng thì sẽ thành công. Nhưng nếu khôngchịu tìm hiểu tường tận, lại muốn tỏ ta đây là kẻ tài giỏi, thìngười đó sẽ bị lưỡi dao cắt làm 2 mảnh". Việc học và thực chứng Mật Tôn cũng giống như người nằm trên con dao đó.
    Nhiều vị chân sư Mật Tông khuyên rằng: Càng có những lời cảnh cáo nầy trên đường tu hành thì càng tốt. Vì như thế sẽ thận trọng từng bước để kiên trì và nghiêm tu. Nhưng nếu vị chân sư đã không cảnh cáo giới tử đúng lúc và đúng cách, giới tử không thể vào được con đường của Mật Tông, vì chính họ đã không thấy nguy hiểm "khi trượt tên lưỡi dao". Khủng hoảng là nguồn gốc của sự cởi mở và của những nghi vấn trên con đường tu tập. Hồi hộp, nghi vấn là nguồn gốc của sự phơi bày tâm và phơi bày cảnh giới. Tâm và cảnh giới phải hoà hợp làm một.
    Trong lịch sử truyền thừa Mật Tông có nhiều huyền thoại về vấn đề tìm học. Những vị tổ Mật Tông như Marpa, Milarepa, Tilopa,Naropa là gương sáng.
    Trong cuốn Mystiques et Magiciens du Tibet, bà Alexandra David Neel có kể lại việc cầu đạo của vị tổ Tipola như sau: Tipola là một trong những vị khai sáng Mật Tông Tây Tạng, tuy nhiên ông ở tại Ấn Độ và chưa hề đặt chân lên đất Tây Tạng bao giờ. Ông từng trải qua nhiều Giáo phái Mật Tông như Giáo phái Kaguy Pa (phái áo vải) phái Sakya Pa (phái đất xám) phái Geluk Pa (mũ vàng)... Ông từng tham dự nhiều cuộc hội thoại và tranh luận về tôn giáo tại Ấn Độ và lần nào cũng bẻ gãy tất cả những lập luận của đối phương. Một buổi chiều nọ, ông đang nghiền ngẫm một cuốn luận thuyết quan trọng thì có một bà lão rách rưới ngang qua. Trông thấy ông đăm chiêu suy nghĩ, bà lão nhổ toẹt vào cuốn sách rồi phì cười: "Chỉ là thứ từ chương vô dụng. Có gì đáng quan trọng".
    Tipola nổi giận nhưng ngay sau đó dường như bị một thứ quyền lực siêu hình nào, khiến ông ta nguôi giận ngay, nhìn bà lão rồi cố theo bà ta. Lần đầu tiên, ông cảm thấy bất ổn trong việc tu học do chính câunói của bà lão. Thế là ông quyết chí đuổi theo tìm cho được bà lão đó. Cũng trải qua hơn ba năm dong ruỗi, ông đã tìm được bóng dáng của bà lão trong một khu rừng. Ông tìm đến trò chuyện, nhân đó đem hết sở học ra thao thao bất tuyệt. Nhưng bất cứ lý giải nào cũng bị bà lão bẻ gãy ngay từ đầu. Một vị học giả nổi tiếng như ông mà lại lúng túng như một đứa trẻ. Đến đây thì ông mới vỡ lẽ: những thứ kiến thức đó chỉ nhìn phiá bên ngoài, không thể giải thích được những huyền bí. Cuối cùng ông chịu phục và xin bái bà lão làm thầy.
    Bà lão nói: "Những điều mà ta hiễu biết không chứa đựng trong sách vở. Sách vở chỉ chứa những điều hữu hạn cuả thế gian, đều là từ chương, chỉ hiểu được hiện tượng mà không đi đến bản chất của sự vật. Ta thấy người thu thập được khá nhiều kiến thức có ích thật, tuy nhiên, muốn quán triệt được Giáo lý thượng thừa, phải đi vào cảnh giới cao hơn. Cảnh giới đó được gọi tên là "Đạo giới của các Thiên thần Daikini".
    Cũng có gọi danh xưng nào tương tự như thế. Cuộc hành trình nầy đầy gian khổ. Hàng trăm hàng ngàn thử thách giăng mắc. Phải vượt qua những thách đố nầy và khắc phục chúng. Nhưng nếu nhà ngươi đã nhất quyết theo con đường ta học, thì có thể truyền thụ cho nhà người bí quyết nầy: Hoàn toàn làm chủ Thân, Khẩu, Ý qua niệm chú, bắt ấn quyết, chuyên tâm nhập định. Phảinhớ điều nầy trong suốt cuộc hành trình dài. Ghi nhớ rằng 3 điều nầy: - Nhờ giữ ấn quyết, thân nghiệp được thanh tịnh. - Nhờ niệm Chân Ngôn (Thần chú), khẩu nghiệp được tịnh. - Nhờ quán tưởng vào Tam Ma địa, ý nghiệp được tịnh". Theo truyền thuyết Phật Giáo Tây Tạng, bà lão kia chính là hoá thân của Bồ Tát Dorji Chang. Bà biến mất sau khi đó.
    Từ đó, vâng theo những lời chỉ dạy, Naropa lên đường tìm đến cảnh giới các thiên thần Daikini. Cảnh giới nầy có thật hay chỉ là ảo tượng? Có người cho rằng:Cảnh giới đó có thật. Nơi toạ lạc của nó ở vùng đất vô cùng hẻo lánh tại Bắc Ấn, gần biên giới giáp Afghanistan. Những theo đa số đây là cảnh giới giả tượng. Marpa thực hành theo 3 điều căn bản đó suốt hành trình trên đường tu tập. Tipola gặp vô vàng thử thách trên chặng đường nầy. Ông ta phải vượt suối, băng ngàn, vượt qua những sa mạc hoang vu, nóng bỏng, qua nhiều núi rừng thâm u, lạnh lẽo nhưng với thân xác Kim Cương Bất Hoại, ông đã tìm đến được. Đây là cung điện oai nghiêm, tráng lệ, khác cõi trần. Nhưng điều chính quyết là sau những thử thách, nhất là với cách tu luyện nầy, Marpa đắc quả.Trong tu trì, điều căn bản để chuyển hoá tâm tính và tinh thần chính là giới luật.
    Đức Phật dạy:- "Có 10 điều trọng giới và 48 điều khinh giới. Nếu người thọ giới Bồ Tát mà không tụng những giới răn cấm nầy, thì người ấy khôn gphải là Bồ Tát, không phải là Phật Tử. Chính ta cũng tụng như vậy. Tất cả Bồ Tát đã học, sẽ học và đang học. Đã lược giảng xong tướng tạng của giới Bồ Tát, thì cần nên học, hết lòng kính trọng phụng trì giới luật".

    Những giới luật của những người tu tập và hành trì theo Đại Thừa và Kim Cang Thừa bao gồm có 10 giới trọng (nặng) và 48 giới khinh (nhẹ).10 giới trọng là: 1- Không được dâm dục 2- Không được sát sanh 3- Không được trộm cướp 4- Không được vọng ngữ 5- Không được nói lời tứ chúng6- Không được bán rượu 7- Không được khen mình, chê người 8- Không được bỏn xẻn 9- Không được giận hờn mãi không nguôi 10- Không được tà kiến phỉ báng tam bảo 48 giới khinh là: 1- Giới không kính thầy bạn 2- Giới không uống rượu 3- Giới ăn thịt 4- Giới ăn ngũ tân 5- Giới không dạy người sám hối 6- Giới không kính dường thỉnh pháp 7- Giới không đi nghe pháp 8- Giới cố tâm trái bỏ đại thừa 9- Giới không khán bệnh 10- Giới chứa khí cụ sát sanh 11- Giới đi sứ 12- Giới buôn bán phi pháp 13- Giới hủy báng 14- Giới phóng hỏa 15- Giới dạy giáo lý ngoài Đại thừa 16- Giới vì lợi mà giảng pháp lộn lạo17- Giới cậy thế lực quyền thế 18- Giới không thông hiểu mà làm thầy truyền giới 19- Giới lưỡng thiệt 20- Giới không phóng sanh 21- Giới đem sân báo sân, đem đánh trả đánh 22- Giối kiêu mạng không thỉnh pháp 23- Giới khinh đạo không tận tâm dạy 24- Giới không tập học Đại thừa 25- Giới tri chúng vụng về 26- Giới riêng thọ lợi dưỡng 27- Giới thọ biệt thỉnh 28- Giới biệt thỉnh tăng 29- Giới tà mạng nuôi sống 30- Giới quản lý cho bạch y 31- Giới không mua chuộc 32- Giới gây tổn hại chúng sanh 33- Giới tà nghiệp giác quán34- Giới tạm bỏ Bồ đề Tâm 35- Giới không phát nguyện 36- Giới không phát thệ 37- Giới vào chỗ hiểm nạn 38- Giới trái tôn ty trật tự 39- Giới không tu phước huệ 40- Giới không bình đẳng truyền giới 41- Giới vì lợi mà làm thầy 42- Giới vì người ác giảng nói 43- Giới cố móng tâm phạm giới 44- Giới không cúng dường Kinh Luật 45- Giới không giáo hoá chúng sanh 46- Giới pháp không đúng pháp 47- Giới chế hạn phi pháp 48- Giới phá diệt Phật pháp.
     
    #6
    Như ÝThanks.
  7. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    MẬT TÔNG PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ

    [​IMG]
    MẬT TÔNG PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ

    I. MẬT TÔNG PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ
    II. HẠNH NGUYỆN BỒ TÁT CHUẨN ĐỀ
    III. KINH CHUẨN ĐỀ DARANI
    IV. PHẬT THUYẾT THẤT CÂU CHI PHẬT MẪU TÂM ĐẠI CHUẨN ĐỀ ĐÀ RA NI KINH
    V. NGHI QUỸ NHẬP ĐẠO TRÀNG TRÌ CHÚ CHUẨN ĐỀ
    VI. MẬT NGUYỆN CHUẨN ĐỀ VƯƠNG BỒ TÁT
    VII. 12 MẬT NGUYỆN CHUẨN ĐỀ VƯƠNG BỒ TÁT
    VIII. NGHI THỨC HÀNH TRÌ CHUẨN ĐỀ SÁM PHÁP
    IX. PHỤ THÍCH: LINH NGHIỆM HẢO MỘNG CỦA NGƯỜI TRÌ CHÚ CHUẨN ÐỀ


    I. MẬT TÔNG PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ[​IMG]* * *

    Thần chú Chuẩn Đề là một thần chú trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai màChưphật đã từng tuyên nói. Thần chú này trong ba đờiChưvị Bồ tát, chư Thiên, chư vị Thánh chúng, thiên long bát bộ đã từng hộ niệm, hoằng hóa.Thần chú Chuẩn đề đã đưa vô lượng, vô biên chúng sanh đến quả vị Bồ tát. Đã từng đem đến những hạnh phúc, an lành cho vô lượng chúng sanh trong vô lượng cõi nước.Để tiếp nối “Ngọn vô tận đăng – Chuẩn Đề Quang”, mặc dù chúng tôi là những hàng sơ cơ cư sĩ tài hèn, trí mọn nhưng với một tâm hạnh cầu học, cầu phổ hóa chúng sanh, cầu mong đem pháp bảo này đến với tất cả chúng sanh trong hiện tại và trong vô lượng kiếp.Với tâm hạnh này, chúng con nhất tâm kính cầu Mười phương thế giới Chư Phật, mười phương chư bồ tát, mười phương chư vị Thinh Văn, duyên giác, hiền thánh tăng, cầu chư Thiên, chư vị Hộ Pháp. Chúng con kính cầu Đức Bổn tôn Chuẩn Đề Phật Mẫu giúp thần lực gia hộ cho chúng con thành trụ pháp thí, thành trụ sở nguyện để mong góp một chút hạt cát trong số cát Sông Hằng Phật Pháp, để tạo dựng nên Pháp Bảo trường tồn trong vô lượng kiếp.Nammô Thất cu chi Phật Mẫu Chuẩn Đề “ÚM CHIẾT LỆ, CHỦ LỆ, CHUẨN ĐỀ, TA BÀ HA. BỘ LÂM”.Chúng tôi tạm mượn lên danh xưng “Nhóm cư sĩ Mật Tông Chuẩn Đề” vì chúng tôi đã là những cư sĩ, phật tử đã qui y theo Phật giáo và được thọ nhận Thần chú Chuẩn Đề, thọ nhận Mật Pháp từ Hòa Thượng “Thích Từ Huệ – Trưởng giáo đoàn khất sĩ Việt Nam”.Người với tầm lòng từ bi đã trao lại cho chúng tôi pháp bảo này để nhằm cứu vớt chúng tôi trong thời mạt pháp này.Qua thời gian thọ trì Thần chú Chuẩn đề, đã thành tựu được những bước huyền linh trong tu học, đã đem lại cho chúng tôi thật sự những điều an lạc và hạnh phúc. Những thành tựu tuy không lớn lao gì mấy nhưng nó đã giúp chúng tôi có một hướng đi trong Chánh đạo Phật Giáo, giúp chúng tôi đi trong ánh sáng từ bi, trí huệ của Đức Phật.Hôm nay, với đôi dòng gửi đến quí bạn đạo đời xa gần và cũng là đôi dòng nói lên lời cảm ơn, tri ân đến Vị Thầy quá cố “Hòa Thượng Thích Từ Huệ” là chúng con đang làm theo lời giáo huấn của Thầy.Chúng con nguyện đem công đức này về với tất cả pháp giới chúng sanh được thành tựu Phật Đạo.KÍNH ĐÀN CHUẨN ĐỀ(Dùng để quán tưởng trong quá trình tu học cũng như để tự điểm đạo cho mình)KHU VỰC KÍNH ĐÀN(Kính đàn tròn sáng màu trắng , phát sáng như ánh mặt trời. Bên trong có chín chữ phạn Thần chú Chuẩn đề màu vàng kim chạy xung quanh từ trái qua phải).Đây là kính đàn Chuẩn Đề. Mọi người tu hành về bí pháp Chuẩn đề đều phải có kính đàn trên. Trong các pháp tu khác, đàn tràng phải tạo dựng nên những hình tượng Phật, thánh, tiên rồi bàn thờ đủ mọi hình thức phức tạp, đơn giản tùy theo từng tông phái khác nhau.Nhưng tu ở pháp Chuẩn đề bí mật, mỗi hành giả cần tạo một kính đàn mới (mua một cái kính mới chưa sử dụng qua), chọn ngày trong sạch, trăng sáng tạo bông hoa, trái cây cúng dường Đức bổn tôn Chuẩn đề. Rồi trì tụng Thần Chú Chuẩn Đề vào kính đó 108 biến (lần) tất thành trụ kính đàn.Mỗi khi vào trì niệm, hành giả đem kính đàn đối trước mặt cũng như là đối trước Đức Bổn tôn Chuẩn Đề thì mọi điều ước nguyện sẽ thành trụ.Kính đàn này có thể tự mình cầu nguyện trì tụng lập kính đàn hoặc có thể nhờ một vị đạo hữu đã tu học trước lập kính hộ đều được (Những ý niệm này, trong những mật kinh Phật giáo đều nói).Kính đàn này được tạo sau khi hành giả được thọ nhận phép điểm đạo, quán đảnh (Hoặc tự tạo kính đàn và trước kính đàn để tự làm lễ điểm đạo, quán đảnh cho mình). Được thọ nhận phép điểm đạo, quán đảnh tùy theo duyên lành hành giả có thể thọ nhận những thần chú khác như Uế tích kim cang chơn ngôn, thất tinh bắc đẩu chơn ngôn hộ thân chơn ngôn hay là lục tự Đại minh chơn ngôn v.v.v…..để tu trì kèm theo Mật Pháp Chuẩn Đề. Mỗi chơn ngôn đều có nghi quỹ hành trì riêng biệt.PHƯƠNG PHÁP TỰ ĐIỂM ĐẠO – QUÁN ĐẢNHMỗi cá nhân, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo khi muốn tu trì vào Mật tông Chuẩn đề đều tự điểm đạo được. Đây là phương pháp hướng dẫn quí vị tự điểm đạo:Quí bạn đối trước tượng Phật, tượng Chúa, chư thiên, chư vị hộ pháp hay đối trước những tượng giáo chủ của mình hoặc đối trước những pháp khí, thánh kinh, kinh điển của Chư phật hoặc trước những Mật Phù thành tâm cầu nguyện xin được Pháp bảo để tu học.Tự nguyện giữ gìn giới luật, làm mọi điều lành, lánh mọi điều dữ. Tìm một nơi thoải mái thanh tâm của mình chấp hai tay cao trước trán, tay không tựa vào trán, đầu tỉnh tâm niệm danh hiệu Đức phật, đức chúa, đức thánh hay danh hiệu một vị mà mình tôn thờ trong thời gian từ 5 đến 40 phút.Trong khoảng thời gian đó, hành giả sẽ tiếp nhận những linh lực tác động vào cơ thể của mình khiến cho mình có những hành động kiết ấn, múa quyền, lễ lạy hay thấy những hiện tượng linh ảnh lạ hoặc đi vào những cảnh giới bí mật mà từ xưa đến nay mình không thể thấy và cảm nhận được.Khi có những hiện tượng lạ, khác thường như trên hành giả muốn nghỉ chỉ cần buông tay ra sẽ thong thả nghỉ.“Cư sĩ Mật Tông Chuẩn Đề” đã điểm đạo truyền tâm pháp Chuẩn đề, trao thần chú như Uế tích Kim cang, thất tinh bắc đẩu, ngũ bộ chú cho rất nhiều người trong nước và ngoài nước. Đã đem lại rất nhiều sự an lạc hạnh phúc cho mọi người và những chuyện huyền linh ấn chứng, sự linh nghiệm vô kể.Với tâm nguyện cùng giúp cho nhau phương pháp tu học, trao chỉ cho nhau những kinh sách Mật Tông Phật giáo để cùng nhau tu học.

    II. HẠNH NGUYỆN BỒ TÁT CHUẨN ĐỀ
    [​IMG]
    * * *
    Theo kinh Chuẩn Đề Đại Minh Đà La Ni, Bồ tát Chuẩn Đề là hóa thân của Đức Quán Thế Âm, thị hiện vào trong sáu đường sanh tử để hóa độ chúng sanh. Ngài là vị Bồ tát có thệ nguyện hộ trì Phật pháp và hộ mạng cho những chúng sanh nào trí tuệ kém cỏi, nghiệp chướng sâu dày, thân nhiều tật bệnh, thọ mạng ngắn ngủi…Mật tông rất tôn sùng Bồ tát và xếp Ngài vào một tôn vị trong Quan Âm bộ. Trong Mạn đà la của Thai tạng giới, tôn vị này ở tận cùng bên trái của Viện Biến tri. Phái Thai mật của Phật giáo Nhật Bản xếp Bồ tát Chuẩn Đề vào Phật mẫu, là một tôn vị trong Phật bộ.Chuẩn Đề, Phạn ngữ là Cundi, dịch nghĩa Năng hành, Thành thực hay Thanh tịnh. Năng hành nghĩa là Bồ tát có thệ nguyện rộng lớn, trí tuệ sâu xa, đầy đủ mọi năng lực để làm bất cứ việc gì cũng đều đem đến sự lợi ích cho chúng sanh; Thành thực có nghĩa Bồ tát có công năng vi diệu, từ nơi pháp Không tưởng quán ra pháp Giả, khiến chứng đắc cảnh giới Niết bàn, bạt trừ mọi vọng huyễn sanh tử; Thanh tịnh nghĩa là Bồ tát đã chứng đắc được bản tâm, khéo an trụ trong tự tánh thanh tịnh. Chuẩn Đề gọi đủ là Thất câu chi Phật mẫu Chuẩn Đề. Theo Nhị khóa hiệp giải thì Câu chi nghĩa là trăm ức, Thất câu chi là bảy trăm ức, Phật mẫu là mẹ sanh ra chư Phật. Danh hiệu Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề có nghĩa thời quá khứ đã có bảy trăm ức Bồ tát do tu pháp môn Chuẩn Đề tam muội mà chứng quả Vô thượng Bồ đề và chúng sanh đời sau muốn thành tựu Phật quả cũng phải nương vào pháp môn này để tu hành.Theo kinh Thất Câu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni, kim thân của Bồ tát có thân màu vàng nhạt, ngồi kiết già trên tòa sen, toàn thân có hào quang, mặc áo lụa trắng mỏng hoặc thiên y, dây thần thông, chuỗi anh lạc, đầu đội mũ, trên mặt có ba mắt, mười tám cánh tay đeo vòng xuyến, trên mỗi tay đều có pháp khí. Hai tay trên cùng bắt ấn thuyết pháp. Kế đến, phía bên phải, tay thứ hai bắt ấn thí vô úy, tay thứ ba cầm kiếm, tay thứ tư cầm tràng báu, lòng bàn tay thứ năm nắm trái cầu duyên, tay thứ sáu cầm búa, tay thứ bảy cầm móc câu, tay thứ tám cầm chày kim cương, tay thứ chín cầm chuỗi anh lạc. Phía bên trái, tay thứ hai cầm cờ báu như ý, tay thứ ba cầm hoa sen hồng nở, tay thứ tư cầm cái bình, tay thứ năm nắm dải lụa, tay thứ sáu cầm bánh xe pháp, tay thứ bảy cầm vỏ ốc, tay thứ tám cầm hiền bình, lòng bàn tay thứ chín nắm hộp kinh Bát Nhã chữ Phạn. Những pháp khí Bồ tát cầm nắm ở hai tay trái phải khác nhau mang ý nghĩa thâm sâu trong diệu dụng độ sanh của Ngài.Tayphía bên phải, Bồ tát nắm những khí vật hung dữ như chày, móc câu, búa… là những vật dụng để hàng phục chúng sanh cang cường, khiến họ quy hướng Chánh pháp. Còn tay phía bên trái lại gồm các vật báu như hoa sen, dải lụa, hộp kinh… có nghĩa sau khi đã hàng phục lại ban phát cho chúng sanh những thánh tài Phật pháp để họ có thể tu tập giải thoát. Hình ảnh Bồ tát cầm nắm pháp khí sai khác như thế là nhằm biểu lộ uy lực vĩ đại trong việc hàng trừ ma chướng và công năng mầu nhiệm ủng hộ người tu của Ngài.Bồ tát vì thương tưởng chúng sanh trong thời mạt pháp vốn nhiều chướng nạn như thân đa tật bịnh, trí tuệ kém cỏi hoặc lỡ đã tạo các ác nghiệp sâu dày… nên Ngài đối trước Phật tuyên nói thần chú, để giải trừ các hoặc nghiệp cho chúng sanh. Kinh Chuẩn Đề có nói: “Bấy giờ Đức Phật trụ tại vườn cây của hai ông Kỳ Đà, Tu Bạt, được bốn chúng và tám bộ cung kính vi nhiễu, lúc đó Bồ tát Chuẩn Đề vì thương tưởng đến chúng sanh thời mạt pháp nghiệp dày phước mỏng, nên Ngài vào định Chuẩn Đề tam muội, rồi thuyết pháp, thuật lại thần chú này là chỗ bảy trăm ức Đức Phật đã nói: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà, câu tri nẫm đát điệt tha. Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta bà ha”.Oai lực của thần chú Chuẩn Đề là bất khả tư nghì, như đã nói, bảy trăm ức Đức Phật quá khứ nhờ trì niệm thần chú này mà thành tựu Phật đạo. Cũng theo kinh Chuẩn Đề: “Người trì tụng thần chú này đủ chín mươi muôn biến, có thể diệt được các tội thập ác, tứ trọng và ngũ nghịch. Nhẫn đến các nhà thế tục nào bất luận tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm trì tụng thần chú, liền được tiêu trừ tai nạn, bệnh hoạn và tăng nhiều phước thọ. Tụng đủ bốn mươi chín ngày, liền được Bồ tát sai hai vị Thánh giả để thường phò hộ người ấy trong những lúc đi đứng nằm ngồi”.Người nào cầu trí tuệ, hoặc mong tiêu trừ chướng nạn, hoặc cầu được pháp thần thông, hoặc cầu Vô thượng Bồ đề… chỉ cần y theo pháp này thiết đàn, tụng đủ một trăm muôn biến, thì những người này liền đặng ở nơi Tịnh độ của chư Phật, được nghe pháp mầu chứng quả Vô sanh.Bồ tát Long Thọ – một trong bốn vị Bồ tát có công lớn chấn hưng Phật giáo Đại thừa, khi sanh tiền Ngài chuyên trì tụng thần chú này. Ngài có làm bài kệ tán thán Bồ tát Chuẩn Đề để mọi người mỗi khi đọc tụng thần chú này được thêm phần tín tâm, tăng trưởng lòng ngưỡng mộ và dễ thành tựu sự ngưỡng mộ và dễ thành tựu sự cảm ứng, gia hộ của Ngài.Khể thủ quy y Tô tất đếĐầu diện đảnh lễ Thất câu chiNgã kim xưng tán Đại Chuẩn ĐềDuy nguyện từ bi thùy gia hộ.(Cúi đầu lạy pháp Tô tất đếChân thành đảnh lễ bảy ức PhậtCon nay ca ngợi Đức Đại Chuẩn ĐềXin Ngài duỗi lòng từ bi gia hộ).Bài kệ bốn câu, câu đầu kính lạy Pháp bảo, câu hai kính lạy Phật bảo và câu ba kính lạy Tăng bảo mà đại diện là Bồ tát Chuẩn Đề, câu bốn là cầu xin Tam bảo thùy từ gia hộ cho mình khi trì tụng thần chú này được thành tựu mọi công đức từ bi và trí tuệ như Bồ tát Chuẩn Đề.Kinh Duy Ma nói: “Bồ tát vốn không có bệnh, nhưng sở dĩ bệnh là vì chúng sanh bệnh”. Chúng sanh ở thời mạt pháp nghiệp chướng nặng nề. Vì thế, trong các pháp hội lúc Phật thuyết pháp, có rất nhiều vị Bồ tát đã đối trước Phật phát nguyện hộ trì Chánh pháp và ủng hộ chúng sanh tu tập trong đời mạt pháp về sau.Bồ tát Chuẩn Đề cũng là một trong các vị Bồ tát phát nguyện hộ trì người tu tập trong thời mạt pháp gặp nhiều chướng ngại. Do vậy, mỗi hành giả trên bước đường tu cần đặt trọn vẹn niềm tin và tâm thành kính lễ, trì niệm thần chú Chuẩn Đề để cầu Bồ tát gia hộ, ngõ hầu vượt thoát mọi chướng duyên là điều không thể thiếu trong các thời khóa công phu tu niệm hàng ngày của bản thân mình.Đức Chuẩn Đề vốn là Thất Cu Chi Phật Mẫu.Ngài thường thuyết kinh Đà La Ni, nguyện cầu cho tất cả trong thế gian và xuất thế gian đều thành tựu những sự nghiệp tu tập. Vì tấm lòng từ bi vô hạn của ngài với quần sanh như mẹ thương yêu đám con khờ, nên kêu là Phật Mẫu. Ngài thường diễn nói rằng: “Chân như thiệt và tánh chân thường của tất cả chúng sanh xưa nay đều sẵn có trong bản giác chư Phật vậy, nên trong đó gồm đủ các đức dụng khắp cõi hà sa. Nhưng ngặt vì cứ hủy báng chánh pháp, chẳng tin lời của Phật, tự mình tổn cho mình, nên phải trầm luân đoạ lạc, dẫu cho ngàn vị Phật ra đời cũng khó mà cứu chữa đặng.” Ngài thấy vậy nên mới sanh lòng từ mẫn, lập pháp môn phương tiện mà điều phục các việc trần cấu của người sơ cơ nhập đạo, và muốn đồng với chư Phật một nguồn giác, để dứt chỗ vọng mà quy về nơi chân.Nay xin tuyên dương bửu tượng của đức Chuẩn Để ra đây, đặng cho những người mộ đạo chiêm ngưỡng và lễ bái, thì được phước vô lượng vô biên.Bửu tượng của ngài có nhiều vẻ quang minh tốt đẹp, đều chiếu diệu cả mình, còn thân tướng thì sắc vàng mà có lằn điển quang trắng. Ngài chỉ ngồi kiết già, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều trọn một sắc trắng mà có bông, lại có đeo chuỗi anh lạc và trên ngực có hiện ra một chữ vạn. Còn hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ có xuyến thất châu coi rất xinh lịch, lại hai trái tai có được ngọc bửu đương và trong các ngón tay đều có đeo vòng nhỏ.Trên đầu thì đội mão hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra 5 vị Như Lai.Nơi mặt ngài có 3 con mắt, trong mỗi con mắt ấy coi rất sắc sảo, dường như chăm chỉ ngó các chúng sanh mà có ý sanh lòng từ mẫn vậy.ẤN CHUẨN ĐỀToàn thân của ngài có mười tám cánh tay, mỗi bên chín cánh.Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn Đề, như tướng đương lúc thuyết pháp.Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt kiết ấn thí vô uý.Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm.Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu.Tay trái thứ năm cầm một sợi dây kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả.Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa.Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu.Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang.Tay trái thứ chín cầm một cuốn kinh Bát Nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài. Ngài ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ. Đó là bửu tượng của ngài đại lược như vậy, nếu ai có lòng trì niệm, muốn chiến vọng mà quán tưởng, thì vọng niệm chẳng sanh mà chân tâm hiển hiện.Nếu công phu thuần thục lâu rồi, chẳng có chút gì gián đoạn, thì sẽ đặng phước quả rất rộng lớn, có ngày đạt tới nơi cực quả Bồ Đề nữa.Song đương thời kỳ mạt pháp, những người sơ cơ hành giả, tam nghiệp chưa thuần, chẳng hay làm theo phương pháp chư quán, nên tâm sanh biếng nhác, thì tự nhiên phải mất hẳn hột giống bồ đề. Nếu ai nương theo kinh pháp của ngài mà thọ trì, thì mau đặng chỗ linh nghiệm. Đương lúc quán tưởng thần chú của ngài, thì cần nhất phải tương phù, thì nẻo sanh tử nào mà ra chẳng khỏi, chỗ niết bàn nào mà chứng chẳng đặng! Vậy nên phải ân cần chuyên chú mà tu tập theo yếu pháp của ngài, thì sẽ thấy rõ các việc hiệu quả. Nghĩ coi, từ đời vô thủy trải vô lượng số kiếp nhẫn nay, chúng sanh chỉ bị màn vô minh che lấp, mắt chánh nhãn phải lu mờ, rồi vọng tâm phấn khởi, thường tạo nghiệp đa đoan, cho nên phải bị luân hồi trong vòng lục đạo và đọa lạc vào nẻo tam đồ.Ai là người có chí nguyện muốn ra khỏi cái nạn khổ ấy, đặng mau đến chỗ diệu quả vô thượng bồ đề, thì phải nhất tâm chân thật đến trước thánh tượng, mà đứng cho ngay và chấp tay đảnh lễ, chí tâm quán tưởng tôn dung của ngài và chuyên niệm thập phương Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo, thi thể của ta như hư không, chẳng có chỗ nào là chỗ chướng ngại, và tánh lại thường trụ, đoạn trừ đặng các tướng qua lại động tịnh. Hễ có cảm thì có ứng là lẽ tất nhiên như vậy. Bởi vì ngài thường mẫn niệm các chúng sanh trong đời vị lai, phước căn thiển bạc và ác nghiệp dãy đầy, nên mới lập ra một pháp môn quán tưởng có chín chữ Phạm là: “Chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.” Nếu vẽ chín chữ ấy thành như cái mặt “Viên minh bố liệc phạm thơ đồ” rồi mỗi đêm thường quán tưởng, thì các tội đều tiêu diệt và sẽ được tăng ít phước điền nữa. Chí như người tại gia hay là người xuất gia mà tu tập theo hạnh chân ngôn nơi trên đây, và tụng trì chú Đà La Ni cho đủ chín mươi muôn biến, dẫu cho vô lượng kiếp đến nay có tạo những tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng, phải mắc vào ngũ vô gián tội đi nữa, thì cũng thảy đều tiêu diệt tất cả.Chú Đà La Ni chép y dưới đây:Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà, câu chi nẫm, đát điệt tha: Án Chiếc Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha.Nếu trì tụng được như vậy, thì đến ngày thọ chung đặng thác sanh vào chỗ thiện duyên và hưởng nhiều sự khoái lạc nữa.Nói về phần hiệu quả của những người tại gia, tu theo pháp tam quy ngũ giới, một lòng kiên cố, chẳng có chút nào thối chuyển, mà lại có lòng xu hướng và trì tụng chú Đà La Ni, thì kiếp sau sẽ sanh về cõi trời, hưởng phước đức đời đời, hay là sanh trong cõi nhana gian, hoặc làm vị quốc vương, hoặc làm bậc công hầu… thường gần gũi với các vị thánh hiền mà chư thiên hay ái kính, thường hết lòng ủng hộ gia trì, chẳng khi nào bị đọa vào đường ác thú.Còn nếu những người ấy ra kinh doanh trong trường thế cuộc, thì không có tai hại gì, cho đến nghi dung cũng đoan chánh, lời nói rất ôn hòa, tâm không phiền não, an nhàn tự tại, lui tới thong dung, hưởng phước một đời, rất nên mỹ mãn.Nói về phần hiệu quả của các vị xuất gia, nếu giới cấm đã hoàn toàn, công hạnh đã thuần phục, mỗi ngày ba thời tụng niệm, rồi y theo giáo pháp của đức Chuẩn Đề mà tu hành, và chí nguyện cầu đến chỗ tất địa xuất thế gian của chư Phật, thì tự nhiên tâm không sát ngại, tánh lại viên minh, một màu thanh tịnh, không còn trước nhiễm nơi cảnh hữu vi, chỉ thấy định huệ hiện tiền. Chừng đó sẽ chứng đặng quả địa Ba La Mật rất viên mãn, rồi có ngày sẽ chứng đến quả vô thượng chánh đẳng Bồ đề. Thoảng như quán tưởng thấu đáo tới chỗ thâm lý, thì đương lúc hiện tại cũng chứng được Phật quả đại thừa. Có phải là pháp môn của đức Chuẩn Đề rất vi diệu và rất thuần túy hay không?Tuy chân ngôn từ ngữ như vậy, chớ toàn thị là vô tướng pháp giới, mà lục độ và vạn hạnh cũng là từ trong pháp giới lưu bố ra. Nói tóm lại, đức Chuẩn Đề Phật Mẫu là một vị pháp thân Bồ tát ở cõi trang nghiêm thế giới, không có giáng sanh nơi cõi nhân gian. Song giáo pháp của ngài rất bí mật mà nay được rõ biết đây, là nhờ đức Thích Ca giải rõ chỗ lý địa và hình tướng, nên người sau mới biết công đức và họa bửu tượng mà thờ như vậy.
    III. KINH CHUẨN ĐỀ ĐÀ RA NI
     
    #7
    Như ÝThanks.
  8. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    [​IMG]


    Khi bấy giờ, đức Phật ở nước Xá Vệ, rừng cây Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Độc. Khi ấy, đức Thế Tôn quán sát suy nghĩ thương xót chúng sanh đời vị lai, ngài liền nói 700 ức Phật Mẫu Chuẩn Đề Đà La Ni tâm pháp. Liền nói thần chú:“Nammô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đà câu chi nẫm đát điệt tha: Úm, chiết lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề ta bà ha”.“Nếu có tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào thọ trì đọc tụng thần chú này mãn 80 vạn biến thì những tội ngũ vô gián đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay hết thảy đều được tiêu diệt. Sanh ra chỗ nào cũng gặp chư Phật và Bồ Tát, đời sống tư sanh tùy ý đầy đủ, đời đời thường được xuất gia, trì đủ luật nghi tịnh giới của Bồ Tát, thường sanh nhơn thiên, không đọa ác thú, thường được chư thiên thủ hộ. Nếu có những người tại gia nam nữ thường trì tụng, thì nhà kẻ ấy không có khổ não tai ương, bịnh khổ. Ra làm việc gì đều được hanh thông, nói ra lời gì đều được tín thọ.Nếu tụng thần chú này mãn 10 vạn biến trong chiêm bao thấy được chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tự thấy trong miệng mửa ra vật đen. Nếu có ngũ nghịch tội thì không được thấy những hảo mộng như vậy. Nên tụng mãn 70 vạn biến thì sẽ được thấy những tướng như trước cho đến mộng thấy mửa ra sắc trắng như sữa, cơm, vân vân thời phải biết người đó tội diệt, được tướng thanh tịnh.Lại nữa ta nay nói thần chú Đại Chuẩn Đề này và những việc sẽ làm: Nếu ở trước tượng Phật, hoặc nơi trước tháp, hoặc chỗ thanh tịnh, lấy cù ma di (phân trâu trắng thơm) thoa đất, làm cái đàn vuông, tùy theo lớn nhỏ. Lại lấy hương, hoa, tràng phan, bảo cái, đèn, nến, đồ ăn uống, tùy sức bày biện mà cúng dường. Niệm chú trong nước hương thơm, tán sái bốn phương trên dưới mà kiết giới. Nơi chính giữa đàn vuông để một bình nước hương thơm. Người trì chú ở trong đàn mặt xoay về phương Đông, quỳ gối tụng thần chú 1.080 biến, bình nước thơm kia tự chuyển động.Taycầm các thứ hoa, chú vào 1.080 biến tán rải nơi mặt Kính Đàn (*). Lại ngó ngay trước mặt kính đàn, cũng tụng chú 1.080 biến được thấy hình tượng Phật, Bồ Tát. Liền đó chú trong hoa 1.080 biến mà tán rải cúng dường, tùy theo đó mà thưa hỏi những pháp không rõ biết. Nếu có người bị quỷ mị làm bịnh, tụng chú vào trong cỏ tranh mà đập phủi người bịnh liền lành.Nếu có trẻ nhỏ bị quỷ làm cho bịnh, mượn đứa gái nhỏ xe hiệp chỉ ngũ sắc, niệm một chú là gút một gút, đủ 21 gút, đeo vào cổ. Hoặc lấy bạch giới tử (hạt cải trắng) tụng thần chú mãn 7 biến, ném vào mặt người bịnh qủy mị, tức liền được lành. Có pháp, ở trước người bệnh, vẽ hình tượng bịnh nhơn, tụng thần chú trong nhánh dương liễu mà đánh nơi hình vẽ ấy cũng được lành bịnh. Có pháp, nếu người bịnh quỉ ở xứ xa, nên chú nguyện trong nhánh dương liễu đủ 7 biến, gửi người cầm đem về đánh người bịnh tức lành. Còn có pháp nữa, nếu người đi đường mà tụng chú này, không có trộm cướp các ác thú sợ hãi.Pháp nữa, thường trì chú này nếu có sự tranh tụng thì mình được thắng hơn. Nếu qua đò, sông biển lớn, tụng chú mà đi thì không bị nạn ác thú trong nước. Có pháp, nếu thân mình bị cùm trói, giam cầm, trì tụng chú này được giải thoát. Lại có pháp, nếu trong nước mưa nắng không điều độ, dịch bịnh lưu hành, nên lấy bơ hoà với dầu mè, bột gạo, dùng ba ngón tay lấy một dúm, bảy ngày bảy đêm 6 thời như vậy nối nhau không dứt, tất cả tai nạn thảy đều tiêu diệt.Lại có pháp nữa, nơi trên mé sông lớn, dùng cát đắp hình tượng tháp, tụng chú một biến ấn thành một tháp, mãn 60 vạn biến, thấy được các thánh giả như Quán Thế Âm Bồ Tát, Đà La (Tàrà) Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát (Vajrapani) tùy tâm sở cầu đều được thành tựu đầy đủ. Hoặc thấy trao cho thuốc tiên, hoặc thấy được thọ ký quả Bồ Đề.Lại có pháp nữa, hữu nhiễu hình tượng cây Bồ Đề. Tụng chú mãn 1,000 vạn biến tức thấy Bồ Tát vì người đó mà nói pháp, muốn theo Bồ Tát liền được tùy tùng.Lại có pháp nữa, nếu khi khất thực thường trì tụng chú này, không bị người ác và loài chó dữ làm não hại.Nếu ở trước tháp, trước tượng Phật, trước tháp Xá Lợi tụng trì chú này 30 vạn biến. Đến bạch nguyệt (ngày 15) thiết lễ đại cúng dường, một ngày một đêm không ăn chỉ chính niệm chú, cho đến thấy được Kim Cang Thủ Bồ Tát, Bồ Tát sẽ đem người ấy vào cung điện mình.Lại có pháp nữa, trước Chuyển Pháp Luân Tháp, trước tháp Phật Đản Sanh, trước tháp bảo giai từ Đao Lợi xuống, trước tháp như vậy, hữu nhiễu tụng chú, tức thấy A Bát La Thị Đa Bồ Tát, và A Lợi Để Bồ Tát, tùy chỗ sở nguyện đều được đầy đủ. Nếu cần thuốc tiên liền trao cho thuốc tiên. Lại vì nói pháp chỉ Bồ Tát đạo, nếu có người tụng Đà La Ni này cho đến chưa ngồi đạo tràng mà tất cả Bồ Tát thường làm bạn hữu. Chuẩn Đề Đà La Ni này là Đại Minh Chú, quá khứ tất cả chư Phật đã nói, vị lai tất cả Phật sẽ nói, hiện tại tất cả Phật đang nói, Ta nay cũng nói như vậy. Vì lợi ích tất cả chúng sanh, khiến được vô thượng Bồ Đề.Nếu có chúng sanh bạc phước, không chút căn lành, người không có căn khí, không có phần pháp Bồ Đề, nếu được nghe pháp Đà La Ni này mau chóng chứng đắc được vô thượng Bồ Đề Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu có người thường hay nhớ niệm tụng trì chú này, vô lượng thiện căn đều được thành tựu”.Khi Phật nói pháp Đại Chuẩn Đề Đà La Ni này, vô lượng chúng sanh viễn trần ly cấu, đắc được đại minh chú công đức Đại Chuẩn Đề Đà La Ni thấy được 10 phương chư Phật Bồ Tát và các thánh chúng, những vị ấy lễ Phật mà lui về.

    * * *IV. PHẬT THUYẾT THẤT CÂU CHI PHẬT MẪUTÂM ĐẠI CHUẨN ĐỀ ĐÀ RA NI KINH

    [​IMG]
    * * *
    Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm, đát nễ dã tha: Úm – Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta Phạ Ha



    Tổng nhiếp 25 bộ đại mạn trà la ni ấn.Lấy 2 ngón tay, ngón vô danh, ngón tay út, tréo với nhau lại bên trong lòng bàn tay, hai ngón tay giữa thì đứng thẳng, hai ngón tay trỏ co vịn vào tiết thứ nhất của hai ngón tay giữa, hai ngón tay cái nắm tiết giữa của ngón vô danh bên trái và bên mặt. Nếu có triệu thỉnh, đưa qua đưa lại 2 đầu ngón tay trỏ.Phật dạy: “Thần chú này có công năng diệt tất cả những tội nặng như tội ngũ nghịch, và tội thập ác, thành tựu tất cả bạch pháp. Trì giới đầy đủ thanh khiết mau chứng Bồ Đề.Nếu người tại gia không thể đoạn dứt vợ con, rượu thịt, chỉ y pháp của ta (phật) trì tụng đều được thành tựu”.Phật dạy: “Nếu muốn cầu thành tựu, trước phải y Đàn pháp. — đây không đồng như các bộ khác, phải rộng tu cúng dường, cuốc đất thoa hương, mới kiến lập được đạo tràng. Chỉ lấy một cái kính soi mặt mới chưa từng dùng, để trước tượng Phật, vào đêm tối rằm, tháng nào cũng được, tùy sức trang nghiêm cúng dường, xông an tức hương, và nước tịnh thủy, trước phải tịnh tâm tuyệt dứt tư duy tạp niệm. Nhiên hậu kiết ấn tụng chú, chú vào trong Kính Đàn 108 biến rồi lấy kính bỏ vào trong hộp hhay đãy vải mới. thường giữ gìn tùy thân. Sau này mỗi khi muốn trì niệm chỉ lấy kính này, để trước mặt kiết ấn tụng chú, y Kính Đàn tức được thành tựu.Phật dạy: “Muốn trì chú này, phải tối ngày rằm, tắm rửa sạch sẽ, mặc toàn y phục mới, mặt hướng về Đông phương ngồi kiết bán già, thân thật ngay thẳng, để kính trước mặt, tùy sức có các vật hương, hoa, nước tịnh thủy, trước phải tịnh tâm, tuyệt dứt tư duy, nhiên hậu kiết ấn để ngang ngực, tụng chú này 108 biến. Tụng trì chú này thời có công năng khiến chúng sanh thọ mạng ngắn ngủi được trở lại tăng tuổi thọ. Bệnh già ma la tật là bệnh nan y còn được trừ lành, huống gì các bệnh khác mà không được lành thì thật là vô lý.Phật dạy: “Nếu người một lòng tuyệt dứt tạp niệm, tụng mãn 20 vạn biến, 40 vạn biến, 60 vạn biến, cầu những pháp thế gian hay xuất thế gian đều được vừa lòng toại ý.”Phật dạy: “Nếu người ở tại gia, bình thường mỗi buổi sáng mai là thời chưa ăn ngũ tân và đồ huyết nhục, dùng nước tịnh thủy súc miệng sạch sẽ, mặt hướng về phương Đông, đối kính đàn kiết ấn, tụng thần chú 108 biến, cứ thường nhật như vậy, cho mãn 40 ngày không dứt, sẽ có việc lành tốt đẹp, đức Chuẩn Đề Bồ Tát khiến 2 vị thánh thường theo người ấy, tâm người ấy mong muốn điều chi, đều ở 2 bên tai mách nói đầy đủ.Phật dạy: “Có chúng sanh yểu mạng nhiều bệnh hoạn, tối ngày rằm mỗi tháng, xông an tức hương, kiết ấn tụng chú 108 biến, những loài ma qủy thất tâm (điên loạn), loài dã hồ ác bịnh, đều hiện bổn thân nơi trong Kính Đàn, giết hay tha tùy ý không dám tái đến, tăng thọ vô lượng.”Phật dạy: “Nếu người không có tướng phước đức, cầu quan không toại ý, hãy đối Kính Đàn mà thường tụng chú này, thì phước đức quan vị quyết được vừa lòng”.Phật dạy: “Nếu người muốn ra làm việc chi, trước nên nghĩ tưởng thánh tượng Chuẩn Đề thân ngồi ngay thẳng, chánh niệm chú này mãn đủ 7 biến, trong chừng giây lát, tự nhiên lay động, tức biết công việc mình làm ra sẽ thành tựu tốt. Nếu thân cứng đơ ngã trước ngã sau, tức biết không thành, chắc có tai nạn”.Phật dạy: “Nếu muốn biết pháp này thành hay không thành, phải y pháp tụng chú, mãn đủ 7 ngày, liền trong chiêm bao mộng thấy Phật và Bồ Tát ban cho hoa trái, miệng mửa ra vật đen, sau lại ăn vật trắng, tức biết thành tựu.Phật dạy: “Đà La Ni này có thế lực rất lớn, chí tâm tụng trì quyết phải tự chứng. Có công năng khiến cây khô phát sanh hoa, trái, huống gì nhũng quả báo ở thế gian. Nếu thường trì tụng thì thủy, hỏa, đao binh, oán gia độc dược đều không hại. Nếu người bị quỷ thần làm bịnh chết, kiết ấn tụng chú này 7 biến, lấy ấn, ấn nơi tại ngực đều khiến sống trở lại.Gia đình, nhà cửa ở không yên, bị quỷ thần gây họa, trì chú, chú vào bốn hòn đất, đem trấn 4 phía thì liền đi.Phật dạy: “Nếu người trong lục thân không hòa, không nghĩ tình thương nhau, nên y pháp tụng chú hướng về lục thân thì được hòa hợp nghe tên thấy thân đều được hoan hỷ. Phàm cầu việc gì cũng vừa lòng toại tâm. Huống người trai giới đầy đủ, nhất tâm thanh tịnh y pháp tụng trì, thì nhất định chuyển thân này tức chứng Bồ Đề có được công lực.Phật dạy: “Nếu người muốn trường sanh, đến nơi tháp cổ xưa, hoặc trong núi sâu, hoặc nơi phòng tịnh thất, y kính làm Đàn Pháp, tụng thần chú này mãn 20 vạn biến, 40 vạn biến, 60 vạn biến, dùng hoa sen xanh trộn với hương an tức thiêu đốt cúng dường, khi ngủ mộng thấy trong mộng ăn thuốc tiên hoặc trao cho tiên phương, hoặc trong kính đàn phóng hào quang có thuốc tùy ý lấy ăn, tức được trường sanh.”Phật dạy: “Nếu y pháp tụng trì, nhất tâm tinh cần, thì công lực nói không thể hết. Kính Đàn pháp này không được cho người khác thấy nếu thấy thì không tốt, mất linh nghiệm, không được thành tựu viên mãn. Pháp này cần phải bí mật, không được tuyên nói, hãy tự mình chứng biết. Tùy ý mong cầu quyết được thành tựu thọ hưởng được cái vui nhiệm mầu thù thắng”.
     
    #8
    Như ÝThanks.
  9. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    V. NGHI QUỸ NHẬP ĐẠO TRÀNG TRÌ CHÚ CHUẨN ĐỀ

    [​IMG]
    * * *
    A- NGHI THỨC CHUẨN BỊ VÀO ĐẠO TRÀNG

    1- Tắm : Khi tắm, đọc kệ và Thần chú sau :Rửa sạch thân thể.Nguyện cho chúng sanh.Thân tâm đều sạch.Trong ngoài thanh tịnhOm- Bạt chiết ra não ca tra xoa ha (3 lần)2. Rửa tay :Lấy nước rửa tay.Xin nguyện chúng sanh.Có bàn tay sạch.Giữ gìn Pháp PhậtOm- chủ ca ra da xoa ha (3 lần)3. Rửa chân : Khi rữa chân, trước đọc kệ và chú như vầy :Khi đang rữa chân.Xin nguyện chúng sanh.Đầy đủ thần lực.Mọi việc không ngạiOm- lam xoa ha (3 lần)4. Rửa mặt : Khi lấy nước rửa mặt, tụng như sau :Lấy nước rửa mặt.Xin nguyện chúng sanhĐược pháp môn tịnh.Lìa khỏi cấu nhiễm.Om- lam xoa ha (3 lần)5. Súc miệng : Khi lấy nước súc miệng, tụng như sau:Rửa miệng, lưỡi trong sạch.Nước dơ thành hương hoa.Ba nghiệp luôn thanh tịnh.Về phương Tây cùng Phật.Om- Hảm Om Hán xoa ha (3 lần)6. Tổng tẩy uế : Khi làm pháp Tổng tẩy uế. Dùng Giải Uế Pháp Ấn Chú Ôsô-sa-ma.Ấn : Lấy 2 ngón tay câu nhau trong lòng bàn tay, 2 ngón vô danh, ngón giữa, ngón trỏ đứng thẳng. Lấy 2 ngón tay cái mở rộng để trong lòng bàn tay trên 2 ngón tay út, chắp cổ tay lại. Tụng Thần chú:Om- Tu rị ma rị, ma ma ri ma rị, tu tu rị xoa-ha (7 lần)Để Ấn Chú nầy gia trì trong nước 7 lần rồi rửa mặt, nhiên hậu mới trì các Thần Chú Pháp… Người tu hành Chú Pháp, nếu thấy tử thi hoặc đàn bà sanh sản, hoặc chỗ lục súc sanh sản, hoặc chỗ máu mủ dơ chảy. Khi thấy những thứ do uế như vậy, tức kết khế Ấn, tụng ngoại uế chú, liền được thành tựu. Chỗ tu hành các Pháp thảy đều có hiệu nghiệm. Nếu không như vậy, khiến người mất linh nghiệm và bị ương hại, trên mặt sanh ghẻ. Do đó, ngoại uế Thần chú quyết không được quên vậy.B- Phần lập Đạo Tràng :1. Đăng Đạo tràng: Khi lên Đạo tràng, đứng trước Tôn Tượng, tụng như sau:Khi nhìn Đức Phật.Nguyện cho chúng sanhĐược mắt không ngại.Thấy được chư PhậtOm- A Mật Lật Đế Hồng Phấn Tra (3 lần)2. Tán Phật: Tiếp theo, tán thán công đức của chư Phật, tụng Kệ Chú như sau :Tán Phật tướng đẹp.Nguyện cho chúng sanhĐược như thân Phật.Đắc pháp Vô tướngOm- Mâu Ni Mâu Ni Tam Mâu Ni Xoa Ha (3 lần)3. Tịnh Pháp giới :Om- Lam Xoa HaĐể tịnh Đàn tràng, làm pháp sái tịnh như sau: Trì chú trong chén nước 21 biến, rước sái trên Đàn cho dược thanh tịnh .4. Tịnh Khẩu nghiệp: Để thanh tịnh các ác nghiệp của miệng, tụng Thần chú sau:Om- Tu Rị Tu Rị Ma Ha Tu Rị Tu Tu Rị Xoa Ha (3 lần)
    5. Tịnh Tam Nghiệp: Tiếp theo tụng Thần chú dưới đây để thanh tịnh 3 nghiệp: Thân, Miệng, Ý:Om- Ta Phạ Bà Phạ Thuật Bà Ta Phạ Đạt Ma Ta Phạ Bà Phạ Thuật Độ Hám(3 lần)6. Phổ cúng dường: Tiếp theo đọc Chân ngôn cúng dường hết thẩy hoa, hương, ẩm thực lên Chư Phật như sau:Om- Nga Nga Nẳng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần)7. Phổ Lễ : Tụng Chân ngôn Phổ Lễ Chư Phật như sau:Om- Phạ Nhựt Ra Vật (3 lần)8. Kiết giới: Nếu vào Đàn Chuẩn Đề thì dùng Chú Chuẩn Đề (Ngũ Bộ).Taytrái kiết Ấn Bảo Thủ bưng chén nước, tay mặt kiết Ấn Cam Lồ thư chữ Lam vào chén nước. Niệm Chú Ngũ Bộ 21 biến, kiết 10 phương giới. Ngũ Bộ Chú như sau:Om- Lam. Om- Xỉ Lâm. Om- Mani pát mê hùm. Om- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn đề sa-bà-ha. Bộ lâm. Hật rị.(Lưu ý: Câu chú “Hật rị” được thêm vào thành Lục Bộ chú).9. Độc nghiệm hoán đảnh: Sau khi kiết giới đã xong, thì làm Pháp Quán đảnh như sau để khiến đọc tụng Thần chú được linh nghiệm. Lấy 1 lọ nước tịnh thủy, kiết ấn tụng Chú 21 biến, xong rải trên đỉnh đầu.Ấn : Hai ngón tay cái co nơi trong lòng bàn tay, xoa vịn giáp tiết giữa lóng ngón vô danh, đầu 2 ngón út đứng thẳng, 2 ngón giữa đầu cũng đứng thẳng, 2 ngón trỏ co đứng vịn xoe lưng ngón giữa tiết trên.Om- bộ tam mạt la, diêm, xoá ha (21 lần)10. Tốc tật thành tựu: Nếu muốn thành tựu hết thảy chân ngôn, trước tụng chú nầy 21 biến, tất cả thần chú mau được thành tưụ. Chân ngôn như sau:Om- tra tra tra ô, trí trí trí trí tra ô, tra ô, tra ô, tra ô, phạ nhật ra tát đát phạ, nhã hồng vãm hộc hật-rị hạc hồng phấn tra, hồng (21 biến)11. Lễ Phật :Trưóc tụng Thần chú sau đây:Na mô đạt xa na , bồ đà câu trí na hồng ô hồng, hộ rô hộ rô tất đà lô dã nể ta ra bà ra tha ta đạt nễ ta bà ha.Tụng xong, lạy Phật 3 lạy. (Thần chú nầy chép từ trong Kinh Bảo Tràng Thắng, do 10 ức Bồ tát đã nói. Nếu tụng chú 1 biến, lễ Phật 1 bái thời thu hoạch được công đức bằng lễ ngàn vạn ức Đức Phật )12. Phụng thỉnh Đức Chuẩn Đề :Lễ xong, kiết Ấn Chuẩn Đề triệu thỉnh Chuẩn Đề Bổn Tôn giáng lâm Đạo tràng.Taykiết Ấn, miệng tụng chú sau :Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha – Om- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề phụng thỉnh Chuẩn Đề Bổn tôn giáng lâm Đạo tràng chứng minh công đức Ta bà ha, Bộ lâm.13. Cúng dường hương :Nam mô bà ra bá bồ đà đà ra ma tăng già tả na, ma ha lị đa, bá lô chỉ đế thưóc bá ra tả bồ đề ta đá bà tả, ma ha ta đá bà tả, ma ha ca rô nễ ca tả, đát điệt tha : Đổ tỷ đổâ tỷ dà dạ đổ tỷ, bề ra bề ra ni, ta bà ha (3 lần)Tụng 1 biến chú nầy bằng lấy tất cả các thứ hương hoa cúng dường 10 vạn ức chư Phật.14. Nguyện hương sám hối :Thần chú sám hối như sau:Nam mô hắc ra đá na, đá ra dạ da. Na ma a rị da bá lô chỉ đê, thước bá ra dạ, bồ đề ta đá bà dạ, ma ha ta đá bà dạ, ma ha ca lô nĩ ca dã, đát điệt tha: Đổ rô đổ rô, a tây ma tây ma ha ma rị ni đỗ ba ma rị ni, đổ bề đổ bề na mồ na ma, ta bà ha .Trước tượng Phật hoặc tượng Bồ tát Quán thế Âm, thiêu hương phát lồ sám hối, chí tâm tụng 3 biến tức diệt tất cả tội từ vô thỉ cho đến nay. Các việc mong cầu quyết định kết quả.Khi vào Đàn trì chú Chuẩn Đề nên sám hối.Quỳ gối chắp tay, chuyên tâm định ý, tay bưng lư hương, đọc bài nguyện rằng:Nguyện mây hương hoa nầyBiến khắp mười phương cõiTất cả các Phật độVô lượng hương trang nghiêmĐầy đủ Bồ tát đạoThành tựu hương Như Lai* Cúng dường hương hoa rồi, đứng dậy lễ kính Tam Bảo:- Nhất tâm đảnh lễ Lô Giá Na Mâu Ni Thế Tôn (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ A Súc Thế Tôn (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tôn (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tôn (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Bất Không Thành Tựu Thế Tôn (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Thế Tôn (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp giới chư Phật Thế Tôn (1 lễ)- Nhất tâm đảnh lễ Thất Câu chi Phật Mẫu Sở thuyết Đại Chuẩn Đề Đà La Ni (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Tu Đa La Tạng Nhất thiết Đà la ni môn (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na Cung điện trung Thất Câu chi Chuẩn Đề Phật Mẫu Bồ Tát Ma-ha-tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ)- Nhất tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ)- Nhất tâm đảnh lễ Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Vơ Năng Thắng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất thiết Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ)- Nhất tâm đảnh lễ Ma ha ca Diếp Tôn giảChưĐại Thanh Văn Tăng (1 lễ )- Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất thiết Tam thừa Hiền Thánh Tăng (1 lễ )Con, Đệ tử …..chí tâm sám hối những tội từ vô thỉ sanh tử đến giờ, theo ác lưu chuyển, cùng chung các chúng sanh, tạo nghiệp chướng tội, bởi tham sân si trói buộc, do thân khẩu ý tạo 5 tội vô gián và 10 nghiệp ác, tự làm, bảo người khác làm, thấy kẻ khác làm sanh lòng vui mừng, hoặc vật của tháp, vật của Tăng, tự tại phí dụng. Đối với các người sanh lòng hủy báng, thấy các bậc tu học Thanh văn, Duyên giác, Đại thừa, con ưa sanh lòng mắng chửi, khiến cho các người tu hành tâm sanh buồn phiền, thấy có kẻ nào hơn mình sinh lòng ganh ghét. Đối với pháp thí tài thí thường sanh keo kiệt, bị vô minh che lấp hoặc tâm tà kiến. Không tu nhân lành, khiến ác tăng trưởng. Ở chỗ các Phật mà khởi lên phỉ báng, những tội như vậy, Phật đều thấy biết. Con nay qui mạng, đối trước chư Phật, Bồ tát, Thánh chúng, thảy đều trình bày tội lỗi, không dám che dấu. Tội chưa làm, con không dám gây tạo, những tội đã làm, con đều xin sám hối. Nghiệp chướng đã tạo đáng đoạ tam đồ và ở chỗ tám nạn. Con nguyện đời nầy có bao nhiêu nghiệp chướng đều được tiêu diệt, đã có ác báo, đời sau không thọ. Cũng như quá khứ, hiện tại, vị lai tu bồ-đề hạnh, đã có nghiệp chướng thảy đều sám hối. Nghiệp chướng của con, nay cũng sám hối., hết thảy phát lồ, không dám che dấu. Tội đã làm, nguyện được trừ diệt, tội ác vị lai không dám tạo nữa.* (Sám hối rồi, quy mạng lễ Tam Bảo)Con- Đệ tử……hết lòng vui mừng tuỳ hỷ, quá khứ hiện tại vị lai tất cả chúng sanh, tu hành bố thí trì giới, tâm huệ đã có căn lành. Con nay thảy đều tâm sanh tuỳ hỷ, do làm phước tuỳ hỷ như vậy, cho nên chắc chắn sẽ thu hoạch được quả tôn trọng vô thượng thù thắng, vô thượng vô đẳng. Lại ở quá khứ vị lai hiện tại, tất cả chư Phật Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác đã chứa nhóm vô lượng công đức, con nay chí tâm thảy đều tùy theo mà vui mừng khen ngợi.* (Tùy hỷ rồi, quy mạng lễ Tam Bảo)Con- Đệ tử……chí tâm khuyến thỉnh Mười phưong tất cả chư Phật Thế Tôn, nguyện được Vô thương Bồ đề. Chưa chuyển Pháp luân, con đều chí thành khuyến thỉnh chuyển Đại Pháp luân, an vui hữu tình. Mười phương chư Phật Thế Tôn muốn xả báo thân vào cõi Niết bàn, con nay cúi đầu đảnh lễ, hết lòng khuyến thỉnh trụ ở đời lâu, độ thoát và an vui hết thảy chúng sanh.* (Khuyến thỉnh rồi, quy mạng lễ Tam Bảo)Con- Đệ tử ….. hết lòng hồi hướng từ vô thỉ đến ngày nay, đối với ngôi Tam Bảo thành tựu các căn lành, cho đến bố thí cho chúng sanh một bát cơm. Lại nữa, đem hết công đức trì tụng bí mật, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, các căn lành ấy thảy đều thu nhiếp đem hồi thí cho tất cả chúng sanh, không tâm hói tiếc, là phần giải thoát căn lành đã nhiếp. Như chư Phật Thế Tôn đã thấy đã biết, không thể tính lường vô ngại thanh tịnh. Những công đức căn lành đã có như vậy, thảy đem hồi thí tất cả chúng sanh, không trụ tâm tướng, không xả tướng tâm. Con cũng như vậy, công đức căn lành, thảy đều hồi thí tất cả chúng sanh, cùng các chúng sanh đồng chứng Vô Thượng Bồ đề, được tất cả trí. Nhân căn lành nầy, lại còn xuất sanh vô lương pháp lành, cũng đều hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề. Lại như quá khứ vị lai hiện tại chư Đại Bồ Tát, khi tu hành các căn lành, công đức thảy đều hồi hướng tất cả Chủng trí. Vậy, con đã có công đức căn lành, cũng đều hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề, các căn lành ấy nguyện cùng tất cả chúng sanh đều thành Chánh Giác. Như chư Phật ngồi nơi Đạo tràng, dưới cội Bồ Đề, không thể nghỉ bàn, vô ngại thanh tịnh, an trụ nơi Vô Tận Pháp tạng Đà-la-ni, Thủ Lăng Nghiêm Định, phá Ma Ba tuần, vô luợng binh chúng, trong một sát na thảy đều thấu rõ, nơi khoảng nữa đêm được Cam-lồ Pháp, chứng Cam lồ nghiã. Con và chúng sanh nguyện đều đồng chứng Diệu giác như vậy, cũng như chư Phật thị hiện ứng hoá, đắc Vô Thượng Bồ Đề, chuyển Diệu Pháp Luân, độ các chúng sanh.(Hồi hướng rồi quy mạng lễ Tam Bảo)Con- Đệ tử………….. chí tâm phát nguyện; nguyện các chúng sanh hết thảy phát tâm Vô Thương Bồ Đề, thường nhớ nghĩ công đức trí tuệ của Mười phương chư Phật. Lại nguyện tất cả chúng sanh phá dứt vô minh, được thấy Phật tánh, cũng như các Đại Bồ tát, tất cả Thiên Long Bát Bộ tăng ích oai quang, ủng hộ quốc độ và nơi Đạo tràng, dẹp các ma oán, khiến con đã tu Pháp yếu bí mật của chư Phật mau được thành tựu.




    C- PHẦN NHẬP ĐÀN:1. Tụng 21 biến chân ngôn sau đây :Nammô tất hí lị da, trụy vĩ đà nẫm, đát tha dà đa nẫm. Úm- vĩ la thời vĩ la thời, ma ha chước yết la, phạt chiết lê phạt chiết la, tát đá tát đá, ta la đế ta la đế, đát la duệ đát la duệ, tỳ đa mạt nễ, tam bàn thệ nễ, đa la mạt để, tất đà a yết lị để, lị diễm, toá ha.Khi tụng chú nầy, liền kết Ấn như sau : Hai tay bên trong tréo nhau, đứng thẳng 2 ngón tay trỏ, khít nhau, lấy 2 ngón tay giữa quấn vào 2 ngón tay trỏ ở trước lóng thứ nhất, mỗi ngón trỏ đứng vịn nhau, hai ngón cái giáp thẳng nhau. Kiết Ấn để ngang ngực, niệm tụng Mật ngữ. Nếu chưa nhập Đàn, không cho làm các pháp. Nên dùng chân ngôn nầy, tức sẽ được nhập vào Đàn, thì khi làm các pháp tắc không thành tội trộm Pháp.2. Trì Ngũ Bộ chú :Ngồi thế Kim cang toạ (nghĩa là lấy bàn chân mặt gát lên trên vế chân trái) hoặc tuỳ ý ngồi cũng được. Hai tay kiết Ấn tam Muội (nghiã là lấy tay mặt duỗi ngay ra, để ngữa lên bàn tay trái, rồi 2 ngón tay cái giáp móng với nhau). Để ngang dưới rún, thân cho tề chỉnh, tâm cho an tịnh. Rồi tưởng trên đỉnh đầu ta có chữ LAM rất tròn sáng như ngọc minh châu hay như mặt trăng rằm. Khi tưởng như vậy rồi thì xả Ấn Tam Muội lên trên đảnh, tay trái kiết Ấn Kim Cang Quyền (Nghiã là lấy ngón tay cái bấm vaò ngón áp út ở giáp bàn tay, rồi 4 ngón kia nắm chặt lại hình như tay cầm cú). Rồi tay mặt lần chuổi mà tụng như sau:1- Chú Tịnh Pháp giới: ÚM- LAM2- Chú Hộ Thân: ÚM- XỈ LAM3- Chú Lục Tự Đại Minh: ÚM-MA NI BÁT NẠP MINH HỒNGTụng mỗi chú 08 biến. Khi tụng xong chú nói trên, thì xả Ấn Kim Cang Quyền lên trên đảnh, rồi quỳ xuống tụng bài kệ Chú Chuẩn Đề:Chuẩn Đề công đức tụTịch tịnh tâm thường niệmNhất thiết chư đại nạnVô năng xâm thị nhơnThiên thượng cập nhơn gianThọ phước như Phật đẳngNgộ thử Như ý châuĐịnh hoạch vô đẳng đẳngNam mô Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương Bồ tát Ma-ha-tát (3 lần, rồi lạy ).Lúc lạy xong, ngồi kiết Toàn già và kiết Ấn Chuẩn Đề: Lấy ngón áp út và ngón út bên mặt cùng bên trái xỏ lộn nhau vào trong 2 lòng bàn tay, dựng 2 ngón tay giữa thẳng lên, rồi co 2 ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của 2 ngón tay giữa, còn 2 ngón tay cái thì đè trên lóng giữa của ngón tay áp út bên mặt, rồi để lên ngang ngực.Chí tâm tụng 108 lần Chú Chuẩn Đề và Chú Đại Luân Nhất Tự như sau:Nammô Tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề Câu chi nẫm đát điệt tha: Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta-bà-ha, Bộ lâm (108 lần)Muốn trì tụng nữa hoặc tùy lòng, nên tụng từ chữ ÚM trở xuống (Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta-bà-ha, bộ lâm) tụng ký số làm chừng như trên hoặc trì nhiều hơn nữa càng tốt. Khi niệm đủ rồi, muốn nghỉ thì xả Ấn lên trên đảnh. Kế dùng tay mặt kiết Ấn Kim Cang Quyền mà ấn theo thứ tự 5 chỗ sau đây :1- Trên đảnh2- Nơi vai trái3- Ở vai bên mặt4- Tại ngang ngực5- Nơi yết hầuTrong lúc tay ấn vào 5 chỗ ấy, thì miệng đọc Thần chú HỒNG HỒNG liên tục, chừng nào đủ 5 chỗ rồi, thôi tụng, xả Ấn trên đảnh.3. Phụng tống :Sau khi trì tụng xong, bấy giờ phải phụng tống Đức Chuẩn Đề Bổn Tôn hoàn bổn xứ. Kiết Ấn Chuẩn Đề tụng Chú như sau:Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha: Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta-bà-ha, bộ lâm (3 lần)Tiếp trì tụng :Ngã kim trì tụng Đại Chuẩn ĐềTức phát Bồ Đề quảng đại nguyệnNguyện ngã Định Huệ tốc viên minhNguyện ngã công đức giai thành tựuNguyện ngã thắng phước biến trang nghiêmNguyện cộng chúng sanh thành Phật đạoNgã tích sở tạo chư ác nghiệpGiai do vô thỉ tham sân siTùng thân ngữ ý chi sở sinhNhất thiết ngã kim giai sám hốiA-di-đà Phật thân kim sắcTướng hảo quang minh vô đẳng luânBạch hào uyển chuyễn ngũ Tu diHám mục trừng thanh tứ đại hảiQuang trung hoá Phật vô số ứcHoá Bồ Tát chúng diệc vô biênTứ thập bát nguyện độ chúng sanhCửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạnNammô Tây phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật (3 lần)Nammô A Di Đà Phật (108 lần)Nammô Quán Thế Âm Bồ Tát (108 lần)Nammô Đại Thế Chí Bồ Tát (108 lần)Nammô Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Vương Bồ Tát (108 lần)Nammô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát (108 lần)Nguyện ngã lâm dục mạng chung thờiTận trừ nhất thiết chư chướng ngạiDiện kiến bỉ Phật A Di ĐàTức đắc vãng sinh Cực Lạc quốc- Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.- Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập Kinh tạng, trí tuệ như hải.- Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.Nguyện dĩ thử công đứcPhổ cập ư nhất thiếtNgã đảng dữ chúng sanhGiai cộng thành Phật đạo.
     
    #9
    Như ÝThanks.
  10. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    VI. MẬT NGUYỆN CHUẨN ĐỀ VƯƠNG BỒ TÁT[​IMG]
    Namo Tassa Bhagavato Sammasam-buddhassa.

    Thành Tâm Kính Lễ Tây Phương Tam Thánh Tôn, Đức Liên Hoa Sinh Đại Sĩ,Chưvị Tổ Thầy thuộc dòng pháp Liên Hoa Bộ.Kính lạy Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương Bồ Tát.Nay con đem phổ truyền 12 Mật Nguyện của Ngài, mà vị Thiện-Nữ-Nhơn đã truyền dạy cho con, để cho mọi người có đủ nhân duyên cùng biết.Kính mong Ngài từ bi chấp thuận ý nguyện của con. Nếu có gì không hợp Thánh Ý của Ngài. Con kính xin Ngài hãy hoan hỷ tha thứ cho con và cho con được đê đầu thành tâm đảnh lễ sám hối với Ngài.Nguyện xin Ngài hãy gia trì thần lực cho toàn thể chúng con khi hành trì và tu tập theo Mật Nguyện của Ngài. Nguyện xin 12 Mật Nguyện của Ngài được lưu chuyển trong toàn thể khắp pháp giới chúng sanh, để làm lợi lạc cho muôn loài chúng sanh hữu tình lẫn vô tình trong thời Mạt Pháp này.Nguyện cho thế giới sớm hòa bình và chúng sanh được an lạc, để cõi Ta Bà này sớm biến thành cõi Tịnh Độ Nhân Gian.Nguyện xin Chư Thiên Long Bát Bộ,Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát sớm phổ truyền và hộ trì cho những hành giả tu tập-hành trì 12 Mật Nguyện của Phật Mẫu Đức Chuẩn Đề Vương Bồ Tát.
    Nam mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát, Tác Đại Chứng Minh.
    VII. 12 MẬT NGUYỆN CHUẨN ĐỀ VƯƠNG BỒ TÁT(CUNDI AVALOKITESVARA)
    1. Nammô Khể Thủ Nam Nghiêm Vọng Bái, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Đắc Thành Bửu Ngọc Nguyện.2. Nammô Hiện Toàn Thân Thập Bát Tý, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Thanh Tịnh Pháp Thân Nguyện.3. Nammô Vương Lưỡng Thủ Bá Nhật Nguyệt, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Khai Hóa Khử Đạo Nguyện.4. Nammô Chuyển Pháp Tứ Phương Bát Hướng, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Kiến Văn Tự Tại Nguyện.5. Nammô Siêu Độ Tâm Vô Quái Ngại, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Sở Cầu Như Ý Nguyện.6. Nammô Cung Tiển Diệt Trừ Yêu Quái, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Khử Tà Qui Chánh Nguyện.7. Nammô Tài Năng Thông Thiên Đạt Địa, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Quốc Thới Dân An Nguyện.8. Nammô Đằng Vân Vỏ Trú Cam Lồ, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Phát Tử Phục Sanh Nguyện.9. Nammô Thi Trợ Linh Phù Thần Chú, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Hoàng Độ Hiếu Nghĩa Nguyện.10. Nammô Pháp Luân Thường Chuyển Cấp Cứu, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Phổ Xứ Trì Tụng Nguyện.11. Nammô Thiếc Giác Hiền Lương Độ Trận, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Xuất Thế Lưu Truyền Nguyện.12. Nammô Tiên Pháp-Hộ Pháp Thái Bình, Chuẩn Đề Thánh Mẫu, Hộ Quốc Cứu Dân Nguyện.

    * * *VIII. NGHI THỨC HÀNH TRÌ CHUẨN ĐỀ SÁM PHÁP
    [​IMG]
    * * *
    1/ CHUẨN ÐỀ SÁM PHÁP
    Kinh dạy:Trước khi vào Ðạo tràng, nên làm lễ Phật, Sám hối, Tùy hỷ, Khuyến thỉnh, Phát nguyện.Nên thọ Bồ đề Tâm Giới; năm pháp này là quy tắc sáu thời hành đạo của các vị Bồ tát.Ðầu tiên vào Ðạo tràng quỳ gối, chấp tay, niệm chú dâng hương.Ðọc Tịnh Pháp Giới Chơn ngôn:Án Lam (7 biến)Tịnh Khẩu Nghiệp Chơn ngôn:Tu Rị, Tu Rị, Ma Ha Tu Rị, Tu Tu Rị Ta Bà Ha. (3 lần).Tịnh Tam Nghiệp Chơn ngôn:Án, Ta Phạ Bà Phạ Thuật Ðà Ta Phạ, Ðạt Ma Ta Phạ, Bà Phạ, Thuật Ðộ Hám(3 lần)Phổ Cúng Dường Chơn ngôn:Án, Nga Nga Nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hộc. (3 lần)Ðọc bài nguyện hương:Nguyện thử hương hoa vân,Biến mãn Thập phương giới.Nhứt nhứt chư Phật độ.Vô lượng hương trang nghiêm.Cụ túc Bồ tát đạo,Thành tựu Như Lai hương.Phổ lễ Chơn ngôn:Án Phạ Nhựt Ra Vật. (7 lần)ÐẢNH LỄ:Nhứt tâm đảnh lễ A Súc Thế TônNhứt tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tôn.Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tôn.Nhứt tâm đảnh lễ Cực Lạc thế giới A Di Ðà Thế Tôn.Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới chư Phật Thế Tôn.Nhứt tâm đảnh lễ Thất Cu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết, Ðại Chuẩn Ðề, Ðà Ra Ni.Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Tu đa la Tạng Nhứt thế Ðà Ra Ni môn.Nhứt tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na cung điện trung Thất Cu Chi Phật Mẫu Chuẩn Ðề Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Hư Không Tạng Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Ðịa Tạng Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Vô Năng Thắng Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Ðại Thế Chí Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương pháp giới Nhứt Thiết Bồ tát Ma ha tát.Nhứt tâm đảnh lễ Ma Ha Ca Diếp Tôn giả Chư Ðại Thanh Văn Tăng.Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương pháp giới Nhứt thiết Tam thừa Hiền Thánh Tăng.Sám hối:Ngã đệ tử … chí tâm sám hối.Ðại Thánh Chuẩn Ðề Tôn.Nhứt thế Hiền Thánh chúng.Kim thân nhược tiền thân.Sở tạo chư ác nghiệp.Chúng tội giai sám hối. (3 lễ).Khuyến thỉnh:Ngã đệ tử … chí tâm khuyến thỉnhThập phương nhứt thiết Phật.Hiện tại thành đạo giả,Ngã thỉnh chuyển Pháp luân,An Lạc chư chúng sanh,Thập phương nhứt thế Phật,Nhược dục Bát Niết Bàn.Ngã kim đầu diện lễ,Khuyến thỉnh cửu trụ thế (3 lễ).Tùy hỷ:Ngã đệ tử … chí tâm tùy hỷ.Tam thế chư Như Lai,Bồ tát Thanh Văn chúng.Tu tập tam thừa nhơn,Nãi chí phàm phu loại.Sở hữu chư phước thiện,Thí giới thiền định huệ.Nhẫn nhục tịnh tinh tấn,Ngã kim giai tùy hỷ. (3 lễ)Phát nguyện:Ngã đệ tử … chí tâm phát nguyện.Nguyện chư chúng sanh đẳng,Tất phát Bồ đề tâm.Vĩnh đoạn chư phiền não,Ðương chứng nhứt thế trí.Phục nguyện ngã kim tu,Chuẩn Ðề bí mật hạnh.Sở cầu chư Tất Ðịa,Tùy tâm tốc thành tựu. (3 lễ)Hồi hướng:Ngã đệ tử … chí tâm hồi hướng.Dĩ ngã sở tu phước,Cập dữ Chơn ngôn hạnh.Hồi hướng chư hữu tình,Cọng thành Vô thượng đạo.Phục dĩ kim sở tu,Lễ bái cập sám hối.Khuyến thỉnh tịnh tùy hỷ,Phát nguyện hồi hướng thiện.Tất thí dữ chúng sanh,Vĩnh đoạn tam đồ khổ.Ðồng thú đạo Bồ đề,Pháp giới chơn như hải. (3 lễ)Thất Phật Diệt Tội Chơn ngôn:Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ ni nể đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế ta bà ha. (3 lần, 3 lễ)


    2/ VÀO ÐẠO TRÀNG TRÌ CHÚ CHUẨN ÐỀCÁCH NGỒI KIM CANG TỌA(Nghĩa là lấy bàn chân mặt gác lên trên vế chân trái, hoặc tùy ý ngồi cũng được.)HAI TAY KIẾT ẤN TAM MUỘI: (Nghĩa là lấy tay mặt duỗi ra, để ngửa lên bàn tay trái, rồi hai ngón tay cái giáp móng với nhau). Ðể ngang dưới rún, thân cho tề chỉnh, tâm cho an tịnh. Rồi tưởng trên đỉnh đầu ta có một chữ LAM rất tròn sáng như ngọc Minh Châu hay như mặt trăng rằm. Khi tưởng như vậy rồi thì xả ấn Tam muội trên Ðảnh, tay trái kiết ấn Kim Cang Quyền (nghĩa là lấy ngón tay cái bấm vào ngón áp út ở giáp bàn tay, rồi 4 ngón tay kia nắm chặt lại hình như tay cầm cú), rồi tay mặt lần chuỗi mà tụng sau đây:1) Chú Tịnh Pháp Giới: Án Lam (108 biến)2) Chú Hộ Thân: Án Xỉ Lâm (108 biến)3) Chú Lục Tự Ðại Minh: Án Ma Ni Bát Di Hồng (108 biến)Khi tụng xong chú nói trên thì xả ấn Kim Cang Quyền trên đảnh, rồi quỳ xuống tụng bài kệ Chú Chuẩn Ðề:Chuẩn Ðề công đức tụ.Tịch tịnh tâm thường tụng,Nhứt thiết chư đại nạnVô năng xâm thị nhơn,Thiên thượng cập nhơn gianThọ phước như Phật đẳng.Ngộ thử như ý châuÐịnh hoạch vô đẳng đẳng.Nam Mô Thất Cu Chi Phật Mẫu Ðại Chuẩn Ðề Vương Bồ tát Ma ha tát. (3 lần rồi lạy)Lúc lạy xong, ngồi kiết toàn già và kiết ấn Chuẩn Ðề: Lấy ngón áp út và ngón út bên mặt cùng bên trái xỏ lộn với nhau vào trong hai lòng bàn tay, dựng hai ngón tay giữa thẳng lên, rồi co hai ngón tay trỏ vịn vào lóng đầu của hai ngón tay giữa; còn hai ngón tay cái thì đè lên lóng giữa của ngón tay áp út bên mặt; rồi để ấn ấy ngang ngực. Chí tâm tụng 108 lần chú Chuẩn Ðề và chú Ðại Luân Nhứt Tự như vầy:NamMô Tát Ða Nẫm Tam Miệu Tam Bồ Ðề Cu Chi Nẫm, Ðát Ðiệt Tha. Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Bà Ha. Bộ Lâm (tụng 108 lần)muốn trì tụng nữa hoặc tùy lòng. Nên tụng từ chữ Án trở xuống Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Tụng ký số làm chừng như trên, hoặc trì nhiều hơn cũng tốt. Khi niệm đủ rồi muốn nghỉ thì xả ấn lên trên đảnh, kế dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyến mà ấn theo thứ tự năm chỗ sau đây:1) Trên đảnh.2) Nơi vai bên trái.3) Ở vai bên mặt4) Tại ngang ngực.5) Nơi yết hầu.Trong lúc tay ấn vào năm chỗ ấy thì miệng đọc Thần chú HỒNG HỒNG cho liên tục, chừng nào đủ năm chỗ rồi, thôi tụng xả ấn lên trên đảnh đầu và tụng:Ngã kim trì tụng Ðại Chuẩn Ðề.Tức phát Bồ đề quảng đại nguyện.Nguyện ngã định huệ tốc viên minhNguyện ngã công đức giai thành tựu,Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm,Nguyện cọng chúng sinh thành Phật đạo.Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,Giai do vô thỉ tham sân si,Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.A Di Ðà Phật thân kim sắcTướng hảo quang minh vô đẳng luân,Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,Cám mục trừng thanh tứ đại hải,Quang trung hóa Phật vô số ức,Hóa Bồ tát chúng diệc vô biên,Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.NamMô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.Nam Mô A Di Ðà Phật (108 lần)Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát (10 lần)Nam Mô Ðại Thế Chí Bồ tát (10 lần)Nam Mô Chuẩn Ðề Vương Bồ tát (10 lần)Nam Mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ tát (10 lần)* * *Nguyện ngã lâm dục mạng chung thờiTận trừ nhứt thiết chư chướng ngại.Diện kiến bỉ Phật A Di ÐàTức đắc vãng sanh Cực Lạc Quốc.* * *Tự Quy Y Phật,Ðương nguyện chúng sanhThể giải đại đạo,Phát Vô thượng tâm.* * *Tự Quy Y Pháp,Ðương nguyện chúng sanhThâm nhập kinh tạng,Trí huệ như hải.* * *Tự Quy Y Tăng,Ðương nguyện chúng sanhThống lý đại chúngNhứt thiết vô ngại.* * *Nguyện dĩ thử công đức,Phổ cập ư nhứt thiếtNgã đẳng dữ chúng sanh,Giai cộng thành Phật đạo.

    3. CÁCH DÙNG KÍNH ÐÀN VÀ AN CHÍN CHỮ CHUẨN ĐỀ(Mua cái kính tròn mới chưa hề dùng soi mặt đường kính độ 7 phân tây)Ðem kính tròn xông trầm. Ðến 10 giờ đêm tối ngày rằm, trước tượng Chuẩn Ðề, xây mặt về hướng đông, tượng ngó hướng tây. Hành giả ngó hướng đông, cúng dường hương hoa trang nghiêm, xông an tức hương và tịnh thủy, kiết ấn Chuẩn Ðề, trì chú 108 biến vào Kính đàn (tức là thành tựu Đàn pháp). Mỗi khi tụng niệm, để kính trước mặt, tụng xong bỏ kính vào cất trong đãy vải, khi đi đâu đem theo để hộ thân.Phương pháp an bố chín chữ Thánh Phạn Chuẩn Ðề:Hành giả trước khi trì chú,hoặc sau khi trì,An bố khắp thân phần,Ðược vô lượng phước đức.Hoặc mỗi khi tọa thiền quán tưởng chín chữ AN khắp thân thể, rất là mầu nhiệm: ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ HA.ÁN: An ký trên đỉnh đầu,Ánh sáng như mặt trăngPhóng ra vô lượng quang,Trừ diệt tất cả chướng.CHIẾT: An ký nơi đôi mắtSáng màu như nhật nguyệtChiếu phá mọi u ámPhát sinh trí huệ minh.LỆ: An ký nơi cổ,Màu sáng cám lưu ly (xanh &đỏ)Hiển bày các sắc tướng,Ðầy đủ Như Lai trí.CHỦ: An ký tại tim (ngực)Màu trong trắng như tơ,Khiến tâm được thanh tịnhMau đến đạo Bồ đề.LỆ: An ký hai vai,Sắc màu sáng huỳnh kim,Người Quán tưởng chữ nàyThường mặc giáp tinh tấnCHUẨN: An ký ở tại rúnMàu sắc vàng trắng đẹp,Chóng lên diệu đạo tràngKhông thối Bồ đề tâmÐỀ: An ở hai bắp vếSáng màu vàng hơi lợt,Mau chứng đạo Bồ đềÐược ngồi tòa Kim Cang.TA BÀ: An ở hai bắp chânSắc màu đỏ rực rỡ,Nếu thường quán chữ nàyMau chuyển được Pháp Luân.HA: An ở hai bàn chânÁnh sáng như trăng tròn,Hành giả Quán chữ nàyMau đến đạo Viên tịch.

    4. NHẬP NHÀ MỚI VÀ TRỊ BỆNHKhi cất nhà mới, đến ngày nhập trạch thì lấy một cái chén mới (Lâu nay chưa dùng làm gì) đựng nước trong lấy giữa lòng giếng vào lúc nửa đêm, rồi tay trái kiết ấn Bảo Thủ: (Nghĩa là lấy ngón tay giữa và ngón tay áp út, co lại bấm vào lòng bàn tay, mà giơ ngón tay cái, ngón tay trỏ và ngón út thẳng lên) rồi bưng chén nước, còn tay mặt thì kiết ấn Kiết Tường. (nghĩa là lấy ngón tay cái co lại bấm vào đầu ngón áp út và giơ ngón trỏ, ngón giữa và ngón út lên rồi thư chữ LAM vào trong chén nước, rồi tụng 21 biến Chuẩn Ðề có ghi sau đây), rồi đứng giữa nhà, lấy tay nhúng nước đó mà rảy về tám phương: trên, dưới. Sau lại dùng son viết chín chữ Phạn của chú Chuẩn Ðề như vầy vào giấy vàng. ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ HA (Viết bằng chữ Phạn), rồi đem dán đủ trên các cửa và chí tâm cầu nguyện Phật để tụng chú ấy luôn ba đêm, thì nhà ở được yên ổn, không có quỷ quái nhiễu loạn mà lại được sự cát tường. Nhà đương ở mà sanh yêu quái, thì cũng làm như trên.TRỊ QUỶ MỊ LÀM ÐAU ỐMBị quỷ mị làm cho đau ốm:Lấy cành dương liễu hay nhánh thạch lựu, mắt nhìn vào nhánh cây, miệng chăm tụng chú Chuẩn Ðề 108 biến, rồi lấy nhành cây ấy mà đập, phủi trên thân người đau, tức thời lành bịnh. Nếu người bịnh ở xa, cũng làm phương pháp ấy; gia trì trong nhánh cây 108 biến rồi đêm về phủi trên mình bịnh nhơn.Trẻ em bị bịnh quan sát (Hay khóc dạ đề):Mua chỉ ngũ sắc về, bảo một đứa trẻ (gái) nhỏ xe hiệp lại, rồi mình cầm chỉ ấy tụng một biến chú Chuẩn Ðề rồi gút lại một gút, cứ tụng và gút luôn cho đủ 21 gút, rồi lấy chỉ đeo vào mình đứa nhỏ, bịnh nó sẽ lành ngay. Nếu trong thân người các chi tiết bị đau nhức, nên gia trì Thần chú vào trong tay 21 biến mà xoa vào chỗ đau cũng được lành bịnh. (Muốn trị bịnh theo pháp này, phải là người trì chú tu hành trong thời gian lâu dài mới có hiệu nghiệm.)(Còn người mới tụng Phạn âm chưa thuần tâm không chuyên nhất, không hiệu nghiệm mà đắc tội nặng. Khi nào tự chữa cho mình lành bịnh rồi mới trị cho người khác).Người bịnh trầm trọng:Niệm chú Chuẩn Ðề trong chỉ ngũ sắc, cứ niệm mỗi câu gút một gút cho đủ số 108 gút đeo trên cổ bịnh nhân thì được lành bịnh. Nếu người ở xa, nên vẽ hình bịnh nhân rồi nhìn vào hình, xưng tên một lần, trì chú một biến, cho đến khi đủ 108 lần rồi mới lấy chỉ đó đeo vào hình nhơn thì bịnh cũng lành được. Lúc đi đường, vào rừng, đi thuyền, tàu, phải nên nhớ tụng chú Chuẩn Ðề để hộ thân và tránh khỏi tai nạn.

    5. CHÚ TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔNBất Không Quyến Thần Biến kinh nói: Nếu các chúng sanh tạo đủ thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, tội số như vi trần, đầy khắp thế giới. Khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào trong đất cát thật sạch cho đủ 108 biến rồi tán rải trên thi hài của vong nhơn hoặc trên mồ mả họ. Vong nhơn kia nếu ở địa ngục, ngạ quỷ, tu la, súc sanh … Nhờ oai lực gia trì của Chơn ngôn, nhờ sức thần thông của chú lực, lúc bấy giờ liền được ánh hào quang của chư Phật rọi vào thân và trừ được các quả báo, xả thân khổ sở, vãng sanh về nước Cực Lạc Tây phương Liên hoa hóa sanh, thẳng đến thành Phật không còn bị đọa lạc.Chơn ngôn: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Ða Dã Hồng.PHƯƠNG PHÁP TÁN SALấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.

    6/ CHÚ ÐẠI BẢO QUẢNG BÁT LẦU CÁT THIỆN TRỤ BÍ MẬT ÐÀRANINẵng Mồ Tát Phạ Ðát Tha Nghiệt Ða Nẫm Án Vĩ Bổ Lã Nghiệt Bệ Mạ Nĩ Bát Ra Bệ Ðát Tha Ða Nễ Nại Xả Nỉnh Ma Nĩ Ma Nĩ Tô Bát Ra Bệ Vĩ Ma Lê Ta Nghiệt Ra Nghiễm Tỷ Lệ Hồng Hồng Nhập Phạ Lã Nhập Phạ Lã Một Ðà Vĩ Lô Chỉ Ðế Hủng Hế Dạ Ðịa Sắc Sỉ Ða Nghiệt Bệ Ta Phạ Ha. (chữ Phạn)Thần chú này viết chữ Phạn trên chuông, trên bảng, trống, trên tràng phan, trên vách tường. Viết trên giấy, vải đeo mang trong thân, viết trên áo mặc vào thân, hoặc đọc hay tụng các chúng hữu tình nghe tiếng, nghe danh liền được tiêu trừ bao tội chướng, ngủ thức được yên ổn thân tâm, không loạn động. Các chúng sanh mắt thấy, tai nghe, thân chạm xúc đều được tiêu tội đắc phước. Ai thường trì, đọc, tụng, thân hiện tại không bị các bịnh khổ, khi lâm chung được sanh về các nước Phật.
     
    #10
    Như ÝThanks.
  11. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    IX. PHỤ THÍCH:LINH NGHIỆM HẢO MỘNG CỦA NGƯỜI TRÌ CHÚ CHUẨN ÐỀ [​IMG]

    Tụng 10 vạn biến hay 20 vạn biến trong mộng thấy Phật, Bồ tát liền thổ ra vật đen. (Vật đen tiêu biểu cho ác nghiệp, mửa ra là tướng tội diệt phước sanh, cho nên tự thấy trong miệng thổ ra vật đen hay cơm đen.) Mộng thấy chư Thiên, Ðường, Tự Xá (Nhà, chùa, tịnh xá rộng lớn) hoặc trên núi cao, hoặc thấy ở trên cây cao (Không bị tội nghiệp hệ lụy, cho nên được thăng lên. Ðây là thiện nhơn được thành tựu nên thấy thiên, đường, tự, xá) Hoặc thấy ở trong ao lớn tắm rửa (là tịch trừ tội cấu được thân thanh tịnh). Hoặc mộng thấy thân bay lên hư không (không bị tội nghiệp ràng buộc cho nên thân khinh cử nhẹ nhàng) hoặc thấy cùng chư Thiên nữ an vui khoái lạc (được sức giữ gìn thiện căn tương ưng nên cùng thấy vui khoái lạc.) Hoặc thấy thuyết pháp (được thị giáo lợi hỉ). Hoặc thấy râu tóc rụng rớt (râu tóc rụng rớt là pháp Tây quốc ngoại đạo, râu tóc rụng rớt đều là tiêu biểu đoạn trừ phiền não căn gốc vậy). Hoặc nói rằng thấy thân mình cạo bỏ râu tóc. Hoặc thấy ăn cơm sữa, uống nước cam lồ (thấy ăn sữa cơm là thành tựu được phước lành của thế gian, uống nước cam lồ là được pháp vị xuất thế). Hoặc vượt qua sông, suối, biển lớn (được khỏi biển khổ). Hoặc leo ngồi trên tòa sư tử (được tòa pháp vương) Hoặc thấy cây Bồ đề (là kiến đạo tướng). Hoặc cỡi thuyền (là nương cỡi thuyền Bát Nhã là được cái tướng đến bờ giải thoát. Tô Ðất Ðịa kinh nói rằng: Hoặc thấy cỡi sư tử, cỡi trâu trắng, nai trắng, ngỗng trắng … đều là cái tướng Tất Ðịa thành tựu). Hoặc thấy bực Sa Môn (được ly thế nhiễm mà ra khỏi tam giới). Hoặc thấy cư sĩ mặc áo trắng, áo vàng che đầu (Vàng là tiêu biểu chánh, trắng là tiêu biểu tịnh, tức là lấy bạch tịnh Chánh pháp mà phú hộ). Hoặc thấy mặt trời, mặt trăng (tiêu biểu phá phiền não vô minh ám). Hoặc thấy người đồng nam đồng nữ (không bị phiền não tham dục làm ô nhiễm). Hoặc thấy trên cây có nhũ quả (nhũ nghĩa là trắng, trắng là thiện nghiệp, nghĩa là được thế, xuất thế gian thiện nghiệp quả báo). Hoặc thấy người hắc trượng phu trong miệng tuôn ra lửa hừng hẫy cùng với họ đấu chiến được thắng (nghĩa là cùng phiền não ma cộng chiến mà đắc thắng). Hoặc thấy ác mã, trâu nước muốn đến húc người trì tụng Thần chú. Người trì chú hoặc đánh, hoặc nạt nộ, sợ mà bỏ chạy (nghĩa là đối với si phiền não ma, mà được thắng vậy). Hoặc ăn sữa cháo, tô Phạn (là được thượng vị phước thiện thành tựu). Hoặc thấy Tô Ma Na Hoa (hoa đây nói là xứng ý hoa, sắc vàng trắng mà rất thơm, cây cao ba, bốn thước rũ xuống che như tàng lọng. Nghĩa là tiêu biểu sở cầu thiện pháp quyết được xứng ý. Hoặc thấy có mùi hương thơm, bạch hoa hương tiêu biểu cho hương của ngũ phần pháp thân. Nghĩa là được ngũ phần thiện nghiệp). Hoặc thấy quốc vương (nghĩa là được đại nhơn hộ niệm được tôn quý thắng nghiệp).Nếu không thấy những cảnh giới như vậy, phải biết người đó đời trước đã tạo ngũ vô gián tội, nên càng phải trì tụng mãn 70 vạn biến, 90 vạn biến, trăm vạn biến liền thấy những cảnh giới như trên, nên biết đó là tội đã diệt liền thành tiên hạnh. Những cảnh giới hảo mộng như trên đây đều là cái tướng chứng nghiệm thành tựu của người hành giả.

    CẢM NIỆM Ai ơi! Xem hết quyển này,Gắng theo phương pháp trong đây tu hành.Niệm Phật trì chú Chuẩn Ðề,Sống đời hạnh phúc chết về Tây phương.Niệm Phật chẳng khác thuyền trôi,Thuận theo gió nước vào bờ rất mau.Chuẩn Ðề kiêm niệm chẳng lơ,Khác nào phản lực động cơ đời này.Quyết đi thì đến không sai,Chuẩn Ðề niệm tụng Thánh thai hiện tiền.Chuyên cần chí kính lòng thành,Chuẩn Ðề như ý toại lòng ước mong.
     
    #11
    Như ÝThanks.
  12. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    LINH NGHIỆM HẢO MỘNG CỦA NGƯỜI TRÌ CHÚ CHUẨN ÐỀ

    [​IMG]

    Tụng 10 vạn biến hay 20 vạn biến trong mộng thấy Phật, Bồ Tát liền thổ ra vật đen. (Vật đen tiêu biểu cho ác nghiệp, mửa ra là tướng tội diệt phước sanh, cho nên tự thấy trong miệng thổ ra vật đen hay cơm đen.)Mộng thấy chư Thiên, Ðường, Tự Xá (Nhà, chùa, tịnh xá rộng lớn) hoặc trên núi cao, hoặc thấy ở trên cây cao (Không bị tội nghiệp hệ lụy, cho nên được thăng lên. Ðây là thiện nhơn được thành tựu nên thấy thiên, đường, tự, xá) Hoặc thấy ở trong ao lớn tắm rửa (là tịch trừ tội cấu được thân thanh tịnh). Hoặc mộng thấy thân bay lên hư không (không bị tội nghiệp ràng buộc cho nên thân khinh cử nhẹ nhàng) hoặc thấy cùng chư Thiên nữ an vui khoái lạc (được sức giữ gìn thiện căn tương ưng nên cùng thấy vui khoái lạc.)

    Hoặc thấy thuyết pháp (được thị giáo lợi hỉ). Hoặc thấy râu tóc rụng rớt (râu tóc rụng rớt là pháp Tây quốc ngoại đạo, râu tóc rụng rớt đều là tiêu biểu đoạn trừ phiền não căn gốc vậy). Hoặc nói rằng thấy thân mình cạo bỏ râu tóc.

    Hoặc thấy ăn cơm sữa, uống nước cam lồ (thấy ăn sữa là thành tựu được phước lành của thế gian, uống nước cam lồ là được pháp vị xuất thế). Hoặc vượt qua sông, suối, biển lớn (được khỏi biển khổ).

    Hoặc leo ngồi trên tòa sư tử (được tòa pháp vương) Hoặc thấy cây Bồ đề (là kiến đạo tướng). Hoặc cỡi thuyền (là nương cỡi thuyền Bát Nhã là được cái tướng đến bờ giải thoát. Tô Ðất Ðịa kinh nói rằng: Hoặc thấy cỡi sư tử, cỡi trâu trắng, nai trắng, ngỗng trắng … đều là cái tướng Tất Ðịa thành tựu).


    Hoặc thấy bực Sa Môn (được ly thế nhiễm mà ra khỏi tam giới).

    Hoặc thấy cư sĩ mặc áo trắng, áo vàng che đầu (Vàng là tiêu biểu chánh, trắng là tiêu biểu tịnh, tức là thấy bạch tịnh Chánh pháp mà phú hộ). Hoặc thấy mặt trời, mặt trăng (tiêu biểu phá phiền não vô minh ám). Hoặc thấy người đồng nam đồng nữ (không bị phiền não tham dục làm ô nhiễm). Hoặc thấy trên cây có nhũ quả (nhũ nghĩa là trắng, trắng là thiện nghiệp, nghĩa là được thế, xuất thế gian thiện nghiệp quả báo).

    Hoặc thấy người hắc trượng phu trong miệng tuôn ra lửa hừng hẫy cùng với họ đấu chiến được thắng (nghĩa là cùng phiền não ma cộng chiến mà đắc thắng).

    Hoặc thấy ác mã, trâu nước muốn đến húc người trì tụng Thần chú. Người trì chú hoặc đánh, hoặc nạt nộ, sợ mà bỏ chạy (nghĩa là đối với si phiền não ma, mà được thắng vậy). Hoặc ăn sữa cháo, tôn Phạn (là được thượng vị phước thiện thành tựu). Hoặc thấy Tô Ma Na Hoa (hoa đây nói là xứng ý hoa, sắc vàng trắng mà rất thơm, cây cao ba, bốn thước rũ xuống che như tàng lọng. Nghĩa là tiêu biểu sở cầu thiện pháp quyết được xứng ý. Hoặc thấy có mùi hương thơm, bạch hoa hương tiêu biểu cho hương của ngũ phần pháp thân. Nghĩa là được ngũ phần thiện nghiệp). Hoặc thấy quốc vương (nghĩa là được đại nhơn hộ niệm được tôn quý thắng nghiệp).

    Nếu không thấy những cảnh giới như vậy, phải biết người đời trước đã tạo ngũ vô gián tội, nên càng phải trì tụng mãn 70 vạn biến, 90 vạn biến, trăm vạn biến liền thấy những cảnh giới như trên, nên biết đó là tội đã diệt liền thành tiên hạnh. Những cảnh giới hảo mộng như trên đây đều là cái tướng chứng nghiệm thành tựu của người hành giả.

    ----------- & ----------
     
    #12
    Như ÝThanks.

Chia sẻ trang này