Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương

Thảo luận trong 'ĐẠO THIÊN CHÚA VÀ CÁC ĐẠO KHÁC' bắt đầu bởi batquantrai, 9 Tháng một 2013.

  1. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương là một tôn giáo nhập thế, bình dân ,trang phục bình dị

    [​IMG]

    Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nước có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19. Hậu thân của giáo phái này là các giáo phái Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa...​

    Lịch sửHoàn cảnh ra đời
    Bửu Sơn Kỳ Hương được khai sáng năm 1849 bởi một người tục danh Đoàn Minh Huyên, sau này dân chúng tôn xưng là Ðức Phật Thầy Tây An. Miền Tây Nam Bộ lúc đó giữa thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, thời kỳ chuyên chế kiểu nhà nước chưa được thiết lập vững chắc, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm... cả một vùng biên ải Tây Nam.

    Trong hoàn cảnh ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn vào Tràm Dư, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt được nhiều bệnh nhân và người thân của họ đến chỗ cải sửa tánh tình, biết điều nhân nghĩa, hiếu thảo với mẹ cha, kính thờ Trời Phật.
    Người tin theo ông ngày một đông, nên ngay vào năm 1849, ông sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, rồi từ đó cho đến năm 1856, ông đến vùng đất phía tây Thất Sơn và Láng Linh, dựng chùa, lập trại ruộng và đi dạo khắp vùng miền này.

    Danh từ Bửu Sơn Kỳ Hương này được truyền ra là từ khi ông về ở Núi Sam. Cứ mỗi lần ông thâu nhận một người nào qui y thọ giáo thì ông có phát cho một cái lòng phái * có bốn chữ Bửu- Sơn Kỳ- Hương bằng son in trên giấy vàng. Ông có bài thơ rằng :
    Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên Sơn trung sư mạng địa Nam tiền Kỳ niên trạng tái tân phục quốc Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên.

    Các thời kỳ phổ hóa
    Thời kỳ phổ hóa, hay là thời kỳ phát triển Đạo, có thể chia ra 3 thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất với các ông Phật Thầy Tây An và Phật Trùm. Thời kỳ thứ hai với Đức Bổn Sư và thời kỳ thứ ba với Sư Vãi Bán Khoai và Huỳnh Giáo Chủ. Đó là những ông Đạo mà tín đồ theo đạo tin là do Phật Thầy Tây An chuyển kiếp thêm bốn đời nữa để giáo hóa chúng sinh.

    Đức Phật Thầy Tây An
    Đức Phật Thầy Tây An tên thật là Đoàn Minh Huyên, là người sáng lập ra giáp phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Sau này ông đi tu tại chùa Tây An cho đến khi qua đời năm 1956.
    Mặc dù mất sớm, nhưng Đoàn Minh Huyên đã làm được rất nhiều việc như: chữa bệnh miễn phí, khẩn hoang thành lập nhiều "trại ruộng"* và am tu hành, để có chỗ cho tín đồ hành đạo và tự tay làm lấy miếng ăn.
    Đạo phát triển rất nhanh tại Châu Đốc, Long Xuyên, ngoài ra còn được truyền giáo ở Cao Miên với bà Năm Chòm Dầu, ở vùng Sa Đéc, Vĩnh Long có ông Đạo Ngoạn, ở các tỉnh miền Đông thì có ông Đạo Xuyến...

    Đức Cố Quản
    Đức Cố Quản (1820 - 1873), tục danh là Trần Văn Thành. Ông trưởng thành vào lúc loạn lạc, khi quân Pháp đã chiếm sáu tỉnh Nam kỳ và phong trào kháng Pháp lan truyền khắp nơi. Vốn là chánh quản cơ trong quân ngũ, nên ông hưởng ứng phong trào Cần Vương kháng Pháp. Ông vận động đồng bào, tín đồ Bửu sơn Kỳ Hương cùng quân lính của mình, về Láng Linh - Bảy Thưa gấp rút xây dựng căn cứ, phất cờ khởi nghĩa lấy hiệu là Binh Gia Nghị. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại vì thiếu võ khí và chưa kịp xây dựng đồn lũy kiên cố.


    Đức Phật Trùm
    Là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An, là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm). Từ đó ông đi rao giảng đạo toàn bằng tiếng Việt và chữa bệnh cho đến năm năm Ất Hợi (1875) khi ông viên tịch. Thời kỳ này sau vụ khởi nghĩa của Đức Cố Quản, Pháp truy nã những tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương.


    Đức Bổn Sư
    Đức Bổn Sư hay ông Năm Thiệp ((1831 -1890), tục danh là Ngô Lợi. Tương truyền từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngô Lợi cũng không có biểu hiện gì khác lạ. Cho đến năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni Kinh dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Năm Đinh Mão (1867), bỗng nhiên ông bất tỉnh, và sau 7 ngày 7 đêm ông tỉnh lại, từ đó ông đi giảng đạo khắp nơi, đưa các tín đồ tới xã An Lộc (An Giang) dựng chùa năm 1872, và cũng mộ binh để kháng chiến chống Pháp.
    Sau khi ông mất, vì không còn ai kế vị nên mọi việc đều giao cho ông Trò, ông Gánh phụ trách. Do vậy, mỗi nơi hành đạo khác nhau, thậm chí có một số vị làm phù chú chữa bệnh rơi vào sự mê tín dị đoan làm sai lạc giáo lý ban đầu của đạo *.

    Ông Sư Vãi Bán Khoai
    Sau khi Đức Bổn Sư qua đời khoảng 11 năm thì ông Sư Vãi Bán khoai ra đời. Ông xuất hiện vào khoảng năm Tân sửu (1901) và năm Nhâm dần (1902) nghĩa là cũng còn trong thời kỳ quân Pháp đang thi hành chánh sách đàn áp gắt gao các tín đồ của giáo phái và ông đã tạo cho giáo phái mạnh tiến vào thời kỳ phổ biến. Vì tránh sự truy nã của Pháp, nên ông truyền giáo bằng phương pháp giả dạng thay hình, khi thì làm người bán khoai, khi thì làm kẻ bán củi, ông xưng khùng xưng điên, đi nơi này chốn nọ, nhứt là ở vùng Kinh Vĩnh Tế và Cao Miên, khuyến hóa dân sanh lo tu hành niệm Phật và để lại 1 quyển Sám giảng người đời gồm có 11 chương.


    Đức Huỳnh giáo chủ
    Huỳnh giáo chủ, tục danh Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) là người sáng lập đạo Hòa Hảo, hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo.

    Đặc điểm của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương


    Tính dân gian và thực tiễn
    Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Có thể nói Bửu Sơn Kỳ Hương là một sự đơn giản hóa và bình dân hóa đạo Phật, đưa đạo Phật và các truyền thống dân tộc đi vào cuộc đời. Tín đồ chỉ cần niệm Phật và tu tại gia, mà không cần ly thân xuất gia và không cần gõ mõ, cạo râu tóc cũng như dùng những hình thức cúng tế cầu kỳ. Tứ ân cũng có thể xem là nét tinh túy của văn hóa Việt Nam vốn trọng đạo nghĩa và đã biết kế thừa tinh hoa trong truyền thống như lòng yêu nước, tình thương nhân loại, tính đoàn kết, đạo thờ cúng tổ tiên, lòng biết ơn anh hùng liệt sĩ, tính cần cù, yêu lao động *. Đây cũng là sự kế thừa có sáng tạo cho phù hợp với con người, thời đại và vùng đất đai tại đây. Giáo phái đã theo thuyết "vô vi" của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần và đã hòa vào cuộc đời sâu xa và cụ thể đến mức không còn phân biệt hình tướng, là tu sĩ hay cư sĩ, đã trở về với cội nguồn dân tộc, qua truyền thống yêu nước, qua trang phục, vốn là những chiếc áo bà ba màu đà, màu của ruộng đồng phù sa Nam Bộ, qua búi tóc, qua các hình thức thờ phụng gần gũi với tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc là thờ cúng tổ tiên.
    Tính thực tiễn của Đạo trong việc hành pháp thể hiện qua những hoạt động thực tiễn như sự tự lập những trại ruộng để tự túc trong vấn đề sinh sống và sự dung hòa các nhiều tôn giáo (Khổng, Phật, Lão) và truyền thống dân tộc. Qua lao động, vốn là nếp sống của dân tộc nhiều thế kỷ qua, ông Đoàn Minh Huyên đã tạo được một phong trào khai hoang rộng khắp.


    Tinh thần ái quốc và đoàn kết
    Ân đất nước là một trong bốn ân (tứ ân) mà các tín đồ được răn dạy để tuân thủ và đặc biệt chú trọng, cho nên tinh thần yêu nước cũng được phát triển. Do đó, khi Pháp xâm chiếm miền Nam, các tín đồ đã hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp.
     
    #1
  2. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920


    Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nước có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19. Hậu thân của giáo phái này là các giáo phái Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa...

    [​IMG]

    Hoàn cảnh ra đời
    Bửu Sơn Kỳ Hương được khai sáng năm 1849 bởi một người tục danh Đoàn Minh Huyên, sau này dân chúng tôn xưng là Ðức Phật Thầy Tây An. Miền Tây Nam Bộ lúc đó giữa thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, thời kỳ chuyên chế kiểu nhà nước chưa được thiết lập vững chắc, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm... cả một vùng biên ải Tây Nam.
    Trong hoàn cảnh ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn vào Tràm Dư, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt được nhiều bệnh nhân và người thân của họ đến chỗ cải sửa tánh tình, biết điều nhân nghĩa, hiếu thảo với mẹ cha, kính thờ Trời Phật.
    Người tin theo ông ngày một đông, nên ngay vào năm 1849, ông sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, rồi từ đó cho đến năm 1856, ông đến vùng đất phía tây Thất Sơn và Láng Linh, dựng chùa, lập trại ruộng và đi dạo khắp vùng miền này.
    Danh từ Bửu Sơn Kỳ Hương này được truyền ra là từ khi ông về ở Núi Sam. Cứ mỗi lần ông thâu nhận một người nào qui y thọ giáo thì ông có phát cho một cái lòng phái có bốn chữ Bửu- Sơn Kỳ- Hương bằng son in trên giấy vàng. Ông có bài thơ rằng :
    Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên
    Sơn trung sư mạng địa Nam tiền
    Kỳ niên trạng tái tân phục quốc
    Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên.

    Các thời kỳ phổ hóa
    Thời kỳ phổ hóa, hay là thời kỳ phát triển Đạo, có thể chia ra 3 thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất với các ông Phật Thầy Tây An và Phật Trùm. Thời kỳ thứ hai với Đức Bổn Sư và thời kỳ thứ ba với Sư Vãi Bán Khoai và Huỳnh Giáo Chủ. Đó là những ông Đạo mà tín đồ theo đạo tin là do Phật Thầy Tây An chuyển kiếp thêm bốn đời nữa để giáo hóa chúng sinh.
    Đức Phật Thầy Tây An: Đoàn Minh Huyên
    Đức Phật Thầy Tây An tên thật là Đoàn Minh Huyên, là người sáng lập ra giáp phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Sau này ông đi tu tại chùa Tây An cho đến khi qua đời năm 1856.
    Mặc dù mất sớm, nhưng Đoàn Minh Huyên đã làm được rất nhiều việc như: chữa bệnh miễn phí, khẩn hoang thành lập nhiều "trại ruộng" và am tu hành, để có chỗ cho tín đồ hành đạo và tự tay làm lấy miếng ăn.
    Đạo phát triển rất nhanh tại Châu Đốc, Long Xuyên, ngoài ra còn được truyền giáo ở Cao Miên với bà Năm Chòm Dầu, ở vùng Sa Đéc, Vĩnh Long có ông Đạo Ngoạn, ở các tỉnh miền Đông thì có ông Đạo Xuyến...

    Đức Cố Quản: Trần Văn Thành
    Đức Cố Quản (1820 - 1873), tục danh là Trần Văn Thành. Ông trưởng thành vào lúc loạn lạc, khi quân Pháp đã chiếm sáu tỉnh Nam kỳ và phong trào kháng Pháp lan truyền khắp nơi. Vốn là chánh quản cơ trong quân ngũ, nên ông hưởng ứng phong trào Cần Vương kháng Pháp. Ông vận động đồng bào, tín đồ Bửu sơn Kỳ Hương cùng quân lính của mình, về Láng Linh - Bảy Thưa gấp rút xây dựng căn cứ, phất cờ khởi nghĩa lấy hiệu là Binh Gia Nghị. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại vì thiếu võ khí và chưa kịp xây dựng đồn lũy kiên cố.

    Đức Phật Trùm: Phật Trùm
    Là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An, là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm). Từ đó ông đi rao giảng đạo toàn bằng tiếng Việt và chữa bệnh cho đến năm năm Ất Hợi (1875) khi ông viên tịch. Thời kỳ này sau vụ khởi nghĩa của Đức Cố Quản, Pháp truy nã những tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương.
    Tóm lại, giáo phái từ khi Đức Phật Thầy Tây An khai sáng cho đến khi Đức Phật Trùm viên tịch, là ở vào giai đoạn thành lập xây đựng với nhiều chùa chiền và trại ruộng được lập khắp nơi.

    Đức Bổn Sư: Ngô Lợi
    Đức Bổn Sư hay ông Năm Thiệp ((1831 -1890), tục danh là Ngô Lợi. Tương truyền từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngô Lợi cũng không có biểu hiện gì khác lạ. Cho đến năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni Kinh dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Năm Đinh Mão (1867), bỗng nhiên ông bất tỉnh, và sau 7 ngày 7 đêm ông tỉnh lại, từ đó ông đi giảng đạo khắp nơi, đưa các tín đồ tới xã An Lộc (An Giang) dựng chùa năm 1872, và cũng mộ binh để kháng chiến chống Pháp.
    Sau khi ông mất, vì không còn ai kế vị nên mọi việc đều giao cho ông Trò, ông Gánh phụ trách. Do vậy, mỗi nơi hành đạo khác nhau, thậm chí có một số vị làm phù chú chữa bệnh rơi vào sự mê tín dị đoan làm sai lạc giáo lý ban đầu của đạo.

    Ông Sư Vãi Bán Khoai: Sư Vãi Bán Khoai
    Sau khi Đức Bổn Sư qua đời khoảng 11 năm thì ông Sư Vãi Bán khoai xuất hiện vào khoảng năm Tân sửu (1901) và năm Nhâm dần (1902) nghĩa là cũng còn trong thời kỳ quân Pháp đang thi hành chánh sách đàn áp gắt gao các tín đồ của giáo phái và ông đã tạo cho giáo phái mạnh tiến vào thời kỳ phổ biến. Vì tránh sự truy nã của Pháp, nên ông truyền giáo bằng phương pháp giả dạng thay hình, khi thì làm người bán khoai, khi thì làm kẻ bán củi, ông xưng khùng xưng điên, đi nơi này chốn nọ, nhứt là ở vùng Kinh Vĩnh Tế và Cao Miên, khuyến hóa dân sanh lo tu hành niệm Phật và để lại 1 quyển Sám giảng người đời gồm có 11 chương. Về sau, ông mất tích, cũng bí mật như lúc ông xuất hiện.
    Đức Huỳnh giáo chủ: Huỳnh Phú Sổ
    Huỳnh giáo chủ, tục danh Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) là người sáng lập đạo Hòa Hảo, hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo.

    Pháp môn
    "Trần Điều" tại Thới Sơn tự Giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương chủ trương pháp môn Tu Nhân Học Phật giản lược bớt từ cách hành pháp của Phật Giáo. Tuy nhiên, Đức Phật Thầy Tây An thì chủ về vô vi (không câu nệ hình thức, nghi thức), còn Đức Bổn Sư thì trọng về sắc tướng (nghi thức, hình tượng). Ngoài việc tu thân theo đạo Nho để trở nên người quân tử, tín đồ còn được khuyến tu Tứ Ân Hiếu Nghĩa (tức là bốn ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại), đặc biệt biểu dương tinh thần Hiếu hạnh đối với Tổ tiên cha mẹ, và Nghĩa khí đối với quê hương đất nước. Tín đồ còn được hướng dẫn lo làm lành lánh dữ, sửa tâm sửa tánh, siêng năng niệm Phật. Có thể nói tóm lược, Pháp môn tu hành của đạo là một hình thức Thiền - Tịnh song tu và tùy duyên hóa độ theo :

    Trì niệm theo Thiền tông;
    Xử sự theo Nho giáo.
    Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo.
    Ấn quyết, thần chú theo Mật tông.

    Bửu Sơn Kỳ Hương rút ra 3 điều quan trọng nhất của Phật giáo truyền thống là: Giới-Định-Tuệ. Giới là những phép tắc phải giữ đối với chính đạo, không cho phạm vào những lỗi lầm xấu và làm những điều ác vô minh. Định: lặng nghĩ, thiền tịnh để quên đi những lạc thú ở đời và diệt trừ ham muốn, tập trung tư tưởng để thấu đạt đạo lý. Tuệ là hiểu thấu vô thường và khổ não chi phối mình, bao nhiêu khổ đau được diệt trừ và thấy được Phật tính.
    Về phương diện nghi thức thờ phượng, mỗi nhà, ngoài bàn thờ ông bà cha mẹ, còn có ngôi thờ Tam bảo, trên đó chỉ thờ đơn giản một tấm trần điều. Tín đồ không ăn chay, không gõ mõ tụng kinh, không xuống tóc cạo râu. Vật phẩm dâng cúng chỉ hương hoa và nước lã đơn sơ. Chỉ cần giảng và nghe giáo lý, chứ không cần ghi chép. Đơn giản hóa hình thức cúng tế và nghi thức tụng niệm.

    Đặc điểm của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương
    Tính dân gian và thực tiễn
    Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Có thể nói Bửu Sơn Kỳ Hương là một sự đơn giản hóa và bình dân hóa đạo Phật, đưa đạo Phật và các truyền thống dân tộc đi vào cuộc đời. Tín đồ chỉ cần niệm Phật và tu tại gia, mà không cần ly thân xuất gia và không cần gõ mõ, cạo râu tóc cũng như dùng những hình thức cúng tế cầu kỳ. Tứ ân cũng có thể xem là nét tinh túy của văn hóa Việt Nam vốn trọng đạo nghĩa và đã biết kế thừa tinh hoa trong truyền thống như lòng yêu nước, tình thương nhân loại, tính đoàn kết, đạo thờ cúng tổ tiên, lòng biết ơn anh hùng liệt sĩ, tính cần cù, yêu lao động. Đây cũng là sự kế thừa có sáng tạo cho phù hợp với con người, thời đại và vùng đất đai tại đây. Giáo phái đã theo thuyết "vô vi" của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần và đã hòa vào cuộc đời sâu xa và cụ thể đến mức không còn phân biệt hình tướng, là tu sĩ hay cư sĩ, đã trở về với cội nguồn dân tộc, qua truyền thống yêu nước, qua trang phục, vốn là những chiếc áo bà ba màu đà, màu của ruộng đồng phù sa Nam Bộ, qua búi tóc, qua các hình thức thờ phụng gần gũi với tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc là thờ cúng tổ tiên.
    Tính thực tiễn của Đạo trong việc hành pháp thể hiện qua những hoạt động thực tiễn như sự tự lập những trại ruộng để tự túc trong vấn đề sinh sống và sự dung hòa các nhiều tôn giáo (Khổng, Phật, Lão) và truyền thống dân tộc. Qua lao động, vốn là nếp sống của dân tộc nhiều thế kỷ qua, ông Đoàn Minh Huyên đã tạo được một phong trào khai hoang rộng khắp.

    Tinh thần ái quốc và đoàn kết
    Ân đất nước là một trong bốn ân (tứ ân) mà các tín đồ được răn dạy để tuân thủ và đặc biệt chú trọng, cho nên tinh thần yêu nước cũng được phát triển. Do đó, khi Pháp xâm chiếm miền Nam, các tín đồ đã hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp.
    Nhận xét tổng quát
    "Bửu Sơn Kỳ Hương đã đề xướng những hoạt động mang lợi ích thiết thực cho đời sống lưu dân. Như vào năm 1851, Đoàn Minh Huyên chia các đệ tử thành nhiều đoàn đi khẩn hoang những miền đất hoang vu, lập nên những trại ruộng ở vùng Cần Lố (Đồng Tháp Mười) của ông Đạo Ngoạn; vùng Láng Linh của Quản cơ Trần Văn Thành; vùng núi Két (thuộc Thất Sơn) của ông Bùi Đình Thân (Bùi Thiền Sư), sau lập nên hai làng Hưng Thới, Xuân Sơn; vùng Cái Dầu của ông Nguyễn Văn Xuyến (Đạo Xuyến).... Nhờ đức tin, tín đồ đã bám trụ và khẩn hoang, biến những vùng đầm lầy, rừng rậm thành những vùng đất rộng lớn, màu mỡ.
    Khi Pháp xâm chiếm miền Tây Nam Bộ (1867), tiếp nối truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt và tư tưởng giáo lý “Tứ ân”, những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đã tự cuốn hút vào ngọn cờ khởi nghĩa do lãnh tụ Trần Văn Thành khởi xướng ở Bảy Thưa (Láng Linh). Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ... nên cuối cùng khởi nghĩa này cũng không tránh khỏi thất bại.
    Bửu Sơn Kỳ Hương thực sự là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nước có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ".

    Chú thích
    - Chùa của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương có lối kiến trúc "trước miễu, sau chùa". Ngoài ra trong hình còn cho thấy bộ trang phục hành lễ của người theo đạo.
    Theo Địa chí An Giang, tập 2, UBND tỉnh ấn hành, 2007, tr. 229.
    Lòng phái là một miếng giấy vàng, có khi giấy bạch, trên đó có in bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương bằng son tàu. Người nhận lãnh tin tưởng là nhờ Lòng phái sẽ được mạnh khoẻ, tránh được tà ma, tai nạn; nên họ giữ gìn cẩn thận và luôn mang theo bên mình.
    Ông Đoàn Minh Huyên, một nhà yêu nước ẩn dưới chiếc áo nhà tu cùng với tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương khai sơn lập đình, khai hoang, phá rừng, chống muôn loài thú dữ... để làm ruộng tập thể còn gọi là "trại ruộng", một hình thức như hợp tác xã nông nghiệp bây giờ (Theo trang web An Giang, đã nêu ở chú thích).
    - Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên, Những đạo giáo (sectes religieuses) ở Nam Bộ
    Một nền Phật giáo dân tộc .
    - T.S Cao Thanh Tân, "Tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương ở miền Tây Nam Bộ", trên báo Biên phòng.
    - TS. Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu đặc điểm của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.
    - Các đệ tử nổi danh khác như: Đình Tây (Bùi Văn Tây) ở trại ruộng Thới Sơn, Đạo Lập ở vùng Hà Tiên-Rạch Giá. Đạo Thắng, Đạo Sĩ, Đạo Chợ, Đạo Đọt v.v. (gọi chung là Thập nhị hiền thủ) hành đạo khắp miền Tây Nam Bộ ( Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, NXB T.P HCM, 1995).





     
    #2
  3. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    Ôi bác có 1 kho tàng kiến thức ấy nhỉ ! Chắc mõi lần mà bác viết bài chắc máy tiếng mới xong quá !
     
    #3
    atulama and batquantrai Thanks.
  4. vohinh.tu

    vohinh.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    311
    Đã được cảm ơn:
    416
    4 đời Bửu Sơn Kỳ Hương độc truyền cho đệ tử chân truyền 4 phép: 1 là phép phi thân, 2 là phép tàng hình (hoàn toàn trở thành vô hình vô vật, xuyên tường đều được), 3 là phép qua sông trên nón lá, 4 là phép biến tiền và biến hình.
     
    #4
  5. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    Nhưng cuối cùng là có giải thoát không nhỉ !
    Có khi được như vậy là bãn ngã đã ngút trời may rùi lên tới cõi trời thiên ma luôn nó cho 1 phát tan tành khói mây !
     
    #5
    atulama and vohinh.tu Thanks.
  6. vohinh.tu

    vohinh.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    311
    Đã được cảm ơn:
    416
    - Hiệu xưng là Phật Thầy, cứu nhân độ thế, nếu thời gian đó ở Thất Sơn ko có nhiều cao nhân hạ sơn cứu người thì dân số chầu diêm chúa là ko biết bao nhiêu.
    - Đạo có lý riêng, Phật có lý riêng, 34.000 pháp tu, ko đồng nhất thể, tu thế nào đúng thế nào sai ai dám nói ta đúng người sai đâu, thực sự thế nào là giải thoát thế nào là vãng sanh ?
    - Ko thể đứng núi này trông núi nọ, ko thể lấy quan điểm của Phật gia nói đúng sai trong quan điểm Đạo gia.
    - Người tu phép sẽ ko có cái gọi là vãng sanh theo quan điểm tịnh độ mà thượng thăng các cõi bậc trên, các cõi này tiếp tục tu hành tiếp, trước khi Phật Quốc hình thành thì các cõi này đã có từ trước, sau này Phật giáng hạ là thầy của trời người, là tầng cao hậu nhất trong tu giới. Còn ngay cả trong linh giới cũng như xã hội, phải có thiện có ác và có trung gian.
    - Người sống đây biết tu ko lẽ thần thánh ko biết tu, chỉ sợ rằng họ còn mau thành hơn phàm nhân vì họ biết rõ thế nào là nhân gian, thiên giới và Phật quốc, biết thế nào tu và tu thế nào chưa kể họ còn có nhiều điều kiện để tu tập và tích tụ công đức.
    - Chưa kể mỗi người một đạo tâm và tâm cảnh, ko ai như ai, ai cũng như Phật thì tất cả đều thành Phật rồi.
    - Đạo lấy Thái Thượng Vong Tình là tâm đạo, Phật nói Từ Bi Phổ Độ làm tâm đạo.
    - Đạo do tâm sanh pháp tùy duyên diệt thôi.
     
    #6
  7. DONGXUAT

    DONGXUAT Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    11 Tháng một 2013
    Bài viết:
    5
    Đã được cảm ơn:
    10
    Không phải là độc truyền cho đệ tử chân truyền mà là "Nhân Duyên vậy" gồm 4 phép như sau: còn gọi là Chiêu thức trấn Sơn (đệ tử ẩn sơn) cao hơn Chiêu thức trấn môn (đệ tử xuất sơn)
    1. Phép Phi thân
    2. Phép Ẩn thân
    3. Phép Kinh thân
    4. Phép Huyền Công Biến Hóa
    Các phép này đều do Phật Tổ Di Giáo Ấn Trí. Còn 1 Phép đặt biệt đó là Bào-Thai Phật-Tổ (phép này các vị Sư Tây Tạng tu tại Thất Sơn đều rất khâm phục) thu thần nhập tịch vào trong đó thì đi đâu thì đi lo gì vãng sanh - giải thoát gì nữa (đúng là dục vọng của kẻ phàm phu)
     
    #7
  8. khoqua.tu

    khoqua.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    135
    Đã được cảm ơn:
    155
    MỘT CHÚT TƯ LIỆU TỪ " BỬU SƠN KỲ HƯƠNG" CỦA VƯƠNG KIM.

    Nhìn vào nền Phật giáo khắp nơi, người ta không khỏi phàn nàn Đạo Phật có nhiều chi phái quá, nào là Tiểu-thừa, nào là Đại-thừa, nào là Mật-tông, nào là Hiển tông… mỗi phái mỗi chủ-trương khác nhau, mỗi nơi có mỗi sắc thái riêng biệt. Cũng đồng bắt nguồn từ Phật-giáo nguyên-thủy ở Ấn Độ thế mà Phật-giáo của Nam-tông khác hơn Phật-giáo của Bắc-tông và ngay trong hệ thống Đại-thừa, Phật-giáo Trung Hoa cũng không giống Phật giáo Nhật Bản. Phật giáo Đại Hàn khác hơn Phật-giáo Việt-Nam.
    Người ta muốn sao Phật giáo phải được thống nhất cả hình thức lần tinh thần, xoá bỏ những đặc tính địa phương riêng biệt. Nhưng người ta quên rằng giáo-lý của Phật-giáo không phải là một thứ giáo điều cố định bất biến như giáo lý của các tôn giáo khác mà là một thứ giáo pháp luôn luôn phát triển theo thời gian, thích ứng với căn cơ và hoà hợp với thổ-nghi phong-tục của mỗi địa phương dân-tộc.
    Đức Phật đã từ hoàn cảnh và căn khi của chúng sanh mà nói ra các pháp, không thời kỳ nào giống thời kỳ nào. Tri giả Đại-sư đã phân ra làm năm thời kỳ thuyết-pháp là:
    1. Thời-kỳ Hoa-nghiêm; 2. Thời kỳ A-hàm; 3. Thời kỳ Phương-đẳng; 4. Thời kỳ Bát-nhã; 5. Thời kỳ Pháp-hoa. Đến như giáo pháp thì có pháp quyền, pháp thiệt, pháp đốn, pháp tiệm, pháp hiển, pháp mật… cao thấp khác nhau. Sở dĩ giáo pháp không đồng, thời kỳ hoằng hoá có khác, ấy chẳng qua là do hoàn cảnh sinh hoạt, căn cơ của chúng sinh mà ra vậy.
    Thế nên, phàm căn cơ có khác, thời đại có khác, địa phương có khác thì lý ưng giáo pháp, cho được thích đương thế tất không sao cùng một khuôn, một rập. Ngay như việc dạy học, người ta còn tùy theo địa phương nóng lạnh, mưa nắng khác nhau, trình độ của học sinh cao thấp mà giờ học, ngày nghỉ cùng chương trình giáo dục mỗi nơi mỗi khác, thì sao đối với Đạo Phật là một nền đạo vô cùng linh động, phong phú nhựa sống thích nghi, lại bắt nó trụ mãi ở hình thái nguyên sơ cằn cỗi.
    Ngày nay đạo Phật rọi ánh từ quang gần khắp mặt địa cầu, qui tụ gần phân nửa số nhân loại, nếu thiếu tính chất thích nghi hòa đồng thì chưa hẳn đã thu phục lòng tin tưởng của nhân dân dễ dàng như thế. Từ trước đến nay, bất cứ một cuộc chinh phục nào cũng phải cậy vào vũ lực uy hiếp mọi sự chống đối. Đến như Đạo Phật, chỉ nhờ tính chất thích nghi mà sự bành trướng không hề gặp phải sự phản kháng nào đến đỗi làm đổ máu sinh linh.
    Các dân tộc Á đông tiếp đón Đạo Phật như tiếp đón một ngọn đèn vào nhà đang kém ánh sáng. Mặc dù là một ngọn đèn mới, nhưng chẳng vì nó sáng hơn mà chủ gia dẹp hết các ngọn đèn cũ kém sáng nhưng đã thân yêu, Người ta đặt ngọn đèn sáng mới nơi xứng đáng, có khi cùng đặt chug với mấy ngọn đèn cũ để cùng hoà quang nhau đem lại ánh sáng chung cho cả gian nhà.
    Giáo pháp của Đạo Phật thẳng diệu là ở chỗ đó. Nó đến với dân tộc nào là nó hòa hợp với dân tộc tinh của dân tộc ấy.
    Nhờ ánh sáng đó sáng hơn nên trong chỗ hoà hợp nó đồng hòa các ánh sáng cũ thành một ánh sáng Phật-giáo dân tộc hay có mang tính chất Phật-giáo . Sự hiện diện của nó, bởi cần thiết cho sự củng cố nền tảng quốc gia, vì nó đồng hoá để mà bổ sung hơn là để tiêu diệt hay truất ngôi, nên dân tộc nào cũng không cảm thấy bị mất gốc hay mất thể diện khi tiếp nhận nó.
    Nhìn vào các nước Phật-giáo, ta thấy quốc gia nào cũng có những sắc thái Phật-giáo riêng biệt về hình tướng cũng như về hệ thống giáo lý. Đồng là Phật-giáo cả, nhưng mỗi nơi mỗi khác, khác từ sự kiến trúc chùa chiền đến lễ nghi trang phục. Những cái sắc thái riêng biệt ấy thích hợp với đời sống của quốc dân, với cá tính của dân tộc. Do đó đạo Phật đã trở thành, ở các quốc gia Phật-giáo, một nền Phật-giáo dân tộc.
    Như ở Nhật Bản, hòa hợp với Thần đạo và Vũ sĩ đạo, Phật-giáo đã trở thành một nền Phật-giáo Nhật Bản. Mặc dù chịu ảnh hưởng Phật-giáo Trung Hoa, các Đại đức Thiền sư Nhật Bản như Đạo Nguyên, Thân Lan, Nhật Liên đã biến Phật-giáo Trung Hoa thành Phật-giáo của dân tộc Nhật. Từ mái chùa cho đến chiếc áo cà-sa mỗi mỗi đều có những sắc thái khác biệt, phù hợp với cá tính Nhật Bản. Cũng thời là Thiên Thai tông nhưng Thiên Thai tông của Nhật lại hòa hợp với Mật. Thiền. Đến Tịnh độ tông và Thiền tông cũng thế. Ở Nhật hai tông ấy biến đi rất nhiều từ tinh thần lẫn hình thức. Nói tóm lại, đạo Phật một khi du nhập vào Nhật bản thì hòa hợp với tinh linh dân tộc Nhật mà có những sắc thái riêng biệt, không còn giống với thoát thai của nó là nền Phật-giáo Trung Hoa.
    Đến như Phật-giáo Trung Hoa, tiếp nhận ngay Phật-giáo Ấn Độ, đáng lẽ không có biến thái nhiều, thế mà vì tính chất thích nghi nên đã cách tân từ việc tụng niệm trang y cho đến cách chia tông lập giáo. Có thể nói Phật-giáo Trung hoa là một nền Phật-giáo hoàn toàn xây dựng trên cơ bản mới, khác hẳn Phật-giáo nguyên thỉ.
    Vả chăng sau ngày Phật nhập diệt độ khoảng 500 năm. Ấn Độ bị Hồi giáo xâm lăng, đạo Phật cơ hồ không còn. Những tăng ni theo giáo lý Tiểu thừa thì di cư xuống miền Nam, lập thành Phật-giáo Nam tông hay Tiểu thừa giáo; còn những học giả Đại thừa thì chạy sang Đông độ. Thành thử cõi Chấn Đán tức Trung Hoa đã trở nên tổ quốc của Đại thừa giáo. Cái hệ thống "Tổ tổ tương truyền" bắt đầu từ Đại đức Ca Diếp cho đến vị tổ thứ 28 thì chấm dứt ở Ấn độ, nhưng lại được tiếp tục ở Trung Hoa.
    Chẳng những thừa tiếp giáo pháp Đại thừa vừa mới khai sáng nhưng chưa kịp phát triển ở Ấn độ, Trung Hoa còn chỉnh đốn các tông tổ thành hệ thống thích hợp với cả linh dân tộc và đồng thời sáng tạo thêm ba tông hoàn toàn Trung Hoa. Đó là: Hoa nghiêm tông, Thiên Thai tông và Thiền tông.
    Trong sách Ẩm băng thất, khi đề cập đến sự thành lập các tông Phật-giáo ở Trung Hoa. Lương Khải Siêu có viết: "Về Câu xá tông, tuy Thế Thân có tạo một bộ luận được học giả Ấn Độ tranh nhau học tập, nhưng chưa chính thức lập nên một tông. Tông này được thành hình là chính tự Trung Quốc. Còn về Thành thực tông thì từ Ma lê bạt ma về sau không thấy Kinh sách nào ở Thiên trúc nói đến mà chỉ riêng ở Trung Quốc thì rất thịnh. Tam luận tông ở Ấn Độ tuy truyền bá hơi rộng nhưng cũng không bằng ở Trung Quốc. Đến như Hoa nghiêm thì bản Kinh ấy ở Ấn Độ đã chìm lặn trong chỗ mờ mịt. (cứ theo truyền thuyết thì sau Phật diệt độ 700 năm, Long Thọ Bồ Tát dùng thần lực nhiếp thủ Kinh Hoa nghiêm ở Hải long cung. Bản Kinh lưu hành là bắt đầu từ đó. Truyền thuyết thần bí này tuy chẳng đủ tin nhưng đủ thấy ở Ấn Độ tung tích Hoa nghiêm còn mờ mịt lắm). Thế thì làm gì có Hoa nghiêm tông ! Lúc Bấy giờ ở Ấn Độ chỉ có hai bộ luận: Đại bất tư nghị và Thập địa xiển minh nghĩa Hoa nghiêm còn kỳ dư thì không thấy đâu nói đến. Nhưng dựa vào Hoa nghiêm để lập giáo, thật ra chỉ bắt đầu từ các ngài Đỗ Thuận, Hiền Thủ, Thanh Lương, Khuê Phong. Cho nên có thể nói rằng Hoa nghiêm tông là do Trung Quốc trước tiên sáng lập. Đến như Thiền tông, tuy rằng Ấn Độ có 28 vị tổ, nhưng sự truyền nhau lại quá mật, giữa tiền tổ với hậu tổ chỉ trong khoảnh khắc, không thể biết được uyên nguyên cho nên việc chân ngụy hẳn khó mà phân biệt. Ấn Độ cho rằng chân nhưng trong khoảng hơn một ngàn năm, ngoài 28 tổ ra thì không có thể nói là có Thiền tông, ấy chẳng qua chỉ vì sau khi vừa nhận y bát thì vị tổ trước đã nhập diệt. Thành thử trong khoảng không hơn một ngàn năm ấy, chẳng từng có được 2 người cùng một lúc hoằng dương chính pháp Thiền tông. Như vậy có thể nói Ấn Độ không có Thiền tông cũng nên. Tuy nhiên, Phật-giáo nhờ có Lục tổ mà bắt đầu có Thiền tông , cũng như Gia tô giáo nhờ có Luther mà bắt đầu có Tàu giáo. Như pháp môn chỉ quán "Thiên Thai Tam muội" là đặc sáng của riêng Đại sư Trí giả; trước đó chưa có mà ngay trong thời của Đại sư cũng không ai dạy thì đủ rõ. Do đó có thể nói rằng trong mười tông, duy có Luật tông. Pháp tướng tông. Chân ngôn tông. Tịnh độ tông là thịnh hành ở Ấn Độ, còn ký duy là do Trung Quốc sáng lập."
    Lương Khải Siêu còn khoái cảm hạ bút rằng: "Đẹp thay nước Trung Quốc của ta ! Chẳng thọ ngoại học thì thôi, bằng đã thọ thì phát huy rộng sáng ra, biến thành một thứ đặc sắc. Hãy nhìn vào nền Toán học và Phật học của nước ta đủ thấy. Phật học của Trung Quốc là phật học của Trung Quốc, chứ không còn là Phật học thuần nhiên của Ấn Độ ."
    Ấy đó, Phật-giáo một khi du nhập vào Nhật bản và Trung Hoa thì hoà hợp với dân tộc tinh của mỗi nơi mà có những sắc thái riêng biệt, biến thành một nền Phật học dân tộc. Nước Việt Nam chúng ta cũng đồng thấm nhuần giáo lý Phật đà, một mặt trực tiếp du nhập từ Ấn Độ, một mặt gián tiếp chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, có lý nào chẳng gây dựng một nền Phật-giáo phù hợp với dân tộc tinh Việt Nam như Trung Hoa và Nhật Bản hay sao ?
    Nhìn vào nền Phật-giáo nước nhà, chúng ta không đến đỗi thất vọng như khi nhìn vào đại hạt Nho học. Các danh tăng Việt Nam từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần luôn luôn cố gắng tạo cho Việt Nam một nền Phật-giáo dân tộc. Cũng thời tiếp nhận Thiền tông của Trung Hoa truyền sang, nhưng các danh tăng đời Trần đã thành lập một phái Thiền đặc biệt của mình, không khác Chân tông và Nhật liên tông ở Nhật. Đó là phái Trúc Lâm Yên tử do ba vị tổ: Điều ngự Giác hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang sáng lập. Bắt nguồn từ giáo lý Thiền tông nhưng phái Trúc Lâm Yên tử chủ trương có khác. Cho được hoà hợp chủng tính Việt Nam, phái Trúc Lâm xây dựng Thiền lý trên căn bản Nhập thế và Xuất thế, trong lúc ấy Thiền tông Trung Hoa chỉ thuần có một mặt xuất thế mà thôi. Nhờ có dung hợp cả hai phương diện Nhập thế và Xuất thế, đạo Phật đời Trần cũng như đời Lý gây được tinh thần sùng mộ đạo đức và tính khí thanh tao thoát tục, chẳng những trong dân gian mà cả trong hàng quan khanh vua chúa.
    Một khi đã thấm nhuần Thiền lý, các vua quan nhà Trần, mặc dù lăn lộn trong chỗ quyền môn vẫn không mang nặng cái bệnh tham danh trục lợi. Thế nên, khi mọi việc an bày, có nhiều vị vua quan nhường ngôi cáo lão để đi tu. Nhờ đã hoàn thành giai đoạn nhập thế nên họ dễ tiến lên con đường xuất thế.
    Đến như những danh tăng đã xuất thế, cũng không vì đã xuất thế mà chẳng trở lại nhập thế khi quốc gia hữu sự, dân chúng đảo điên. Trường hợp của Tuệ trung Thượng sĩ, khi nghe giặc Nguyên xâm lăng nước ta từ chốn Thiền lâm cởi áo ca sa mặc lấy chiến bào ra trận, và khi giặc Nguyên đã bình, bèn vứt chiến bào mặc lại áo ca sa, đủ cho ta thấy cái đặc tính dân tộc của phái Trúc lâm Yên tử. Nhờ kiêm cả hai phương diện nhập thế và xuất thế, Thiền tông Việt Nam còn dung hợp với Tịnh độ tông để cùng điều hòa và trợ trưởng nhau trong pháp tu vừa tự lực vừa tha lực.
    Nhưng trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, tịnh thần Phật-giáo đời Lý đời Trần cùng theo thời gian mà mở dần trong dĩ vãng. Thừa lúc loạn loạc Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi tiếp theo thực dân đô hộ non một thế kỷ, tinh thần dân chúng hoang mang mất cả tự tin, những lối tu yếm thế, mê tín dị đoan pha màu phương thuật lại được dịp xây dựng cơ đồ, làm nền Phật-giáo dân tộc phải thối triều trong khoảng thời gian ngót năm thế kỷ.
    Nhận xét về nguyên nhân suy bại của Phật-giáo ở xứ ta, ông Hoàng Nhiên có nêu ra mấy điểm trọng yếu:
    1. Phái tăng già ở xứ ta phần nhiều tu mà không học
    2. Người minh hay trọng sự lạy lục cúng dường theo lối mê tín dị đoan.
    3. Không biết trọng sáng kiến của người khác.
    4. Không biết giúp đỡ, tán dương người tài trí, nhà hiền giả, bậc chân tu.
    5. Cố chấp về văn tự, theo tư tưởng Hán nho mà không rộng xem các sách khác (1)
    Về nguyên nhân suy đồi Phật-giáo ông Thanh Sĩ cũng nhận rằng:
    Cùng một cảnh huống đạo Khổng tử, đạo Phật Thích Ca ở xứ ta hồi thời nhà Đinh, Lê, Lý, Trần rất thịnh đạt, không những trong dân chúng mà luôn đến hàng vua chúa cũng cùng một tin tưởng mạnh mẽ. Các vua thời ấy, thường hay nhường ngôi cho con để đi tu, hoặc lên non núi lập chùa chiền qui tụ cả muôn tăng cả muôn tăng lữ lo viêc tu hành, hoặc xây cất am tự gần thành quách của mình để truyền bá đạo Phật, nhất là hồi thời nhà Trần vua Nhân Tôn tu được chứng quả, đạo hiệu của Ngài là Điều ngự Giác hoàng Đại Đầu Đà Người thời ấy tôn Ngài làm đệ nhất tổ của phái Thiền tông ở Việt Nam. Hàng quan tướng lúc bấy giờ xem gương của vua Nhân Tôn mà họ cũng lần lượt lánh rồi cuộc công danh phú quí lo tu hành rất đông, như con của Trần Quốc Tuấn là Trần Quốc Tảng. Lúc Trần Quốc Tảng mới mười bốn tuổi vừa đi học về nghe cha bị quân Nguyên vây tại thành Thăng Long thì ông mới nhất thân nhất mã ra giải vây cho cha. Chừng ông được hai mươi tuổi đã đi tu, ngộ được Phật chỉ đạo, hiệu của ông là Tuệ Trung Thượng sĩ. Còn những hạng tu hành chứng quả ở thời đó không kể xiết.
    Nhưng kể từ khi các vị Tổ bên Trung hoa ngưng việc truyền y phó bát đến nay, phái Trần Tú càng lúc càng thêm mạnh, không những ở Trung Hoa mà còn truyền qua xứ ta, họ bày ra cách thờ cúng đầy thinh, âm, sắc, tướng (đờn, đẩu, trống, phách, lầu, phướn, sá hạc v.v…) làm việc hữu hình, hữu ảnh, dân chúng xứ ta dần dần theo đó mà xa lần mối đạo vô vi chánh pháp của Phật, Nền chánh giáo từ đó càng ngày càng mờ lu, các ngôi chùa miễu phần nhiều chỉ là cái vỏ để các tà sư làm mê hoặc thập phương, lợi dụng việc lo cơm ấm áo vậy thôi, chớ họ không chú vào việc dắt người đến chỗ sáng sủa giải thoát. Cũng bởi phần đông hành đạo không chánh đáng, nên cả ngàn muôn người tu mà chỉ có một số ít người đắc đạo; do đó mà gần đây có người lên án cho cảnh chùa là chỗ chứa những phần tử ăn bám của xã hội, chỉ là tổ chức mê hoặc lòng dân, không có tinh thần tiến hoá, thật là một con sâu làm rầu nồi canh.
    Dầu vậy, tinh thần dân tộc vẫn không lịm hẳn trong Phật-giáo. Vào đầu thế kỷ thứ 19. Đức Phật Thầy Tây An xuất hiện lập nên giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương. Khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật, chẳng những khôi phục cái thịnh huống đạo Phật đời Lý đời Trần mà còn xây dựng lên một nền Phật-giáo hoàn toàn dân tộc. ....
    Nhìn vào lịch sử Phật-giáo Việt Nam, chẳng sử gia nào không nhìn nhận rằng chẳng có thời kỳ nào đạo Phật hưng thịnh bằng đời Lý đời Trần. Trong nước từ quan chí dân đều một lòng sùng mộ việc tu hành, kẻ đủ điều kiện tu giải thoát thì xuất gia, người còn bận việc đời thì giữ phần cư sĩ.
    Khắp nơi trong nước, cảnh già lam được nhiệt liệt dựng lên, ở mỗi gia đình, ngoài việc thờ phượng tổ tiên, còn có ngôi thờ Tam bảo. Có thể nói xã hội Việt Nam ở đời Lý đời Trần đã thấm nhuần tinh thần đạo Phật cả hai phương diện xuất thế và nhập thế.
    Do đâu đạo Phật đời Lý đời Trần hưng thịnh hơn các triều đại khác? Hẳn phải có nguyên nhân? Nhiều sử gia cho rằng Việt Nam cho đến đời Lý, chủ quyền quốc gia mới thật điện định. Nhờ được trấn an bờ cõi, các vua quan đời Lý có đủ thì giờ lo nghĩ việc mở mang dân trí. Đương nhiên Phật-giáo cũng như Khổng giáo và Lão giáo là ba nền đạo đề cao nhân cách, đào dưỡng tinh thần hướng thượng của chúng sinh, hẳn được nhà cầm quyền vun bồi và trợ trưởng. Đó là cơ hội thuận tiện cho Phật-giáo hưng thịnh.
    Xét ra thì sự nhận định trên đây chỉ dừng trên phương diện, ngoại duyên. Chớ chưa phải tìm động nhân chính. Thì như có một miếng đất tốt, thích hợp cho sự trồng tỉa mà ngay hột giống không tốt, không có sức phát triển thì cũng không làm sao có kết quả tốt đẹp. Miếng đất tốt chỉ là ngoại duyên, còn hột giống mới là nội nhân. Một nền triết học hay giáo lý cũng thế, mặc dù gặp hoàn cảnh thuận tiện cho sự phát triển nhưng nếu nội dung của nó không phù hợp với đời sống cùng trình độ của mọi người thì cũng không tài nào hưng khởi lên được.
    Thế nên cái động nhân để làm phát triển một nền học thuật hay giáo lý, chính là những khả năng thích nghi sẵn có của nó. Thiếu những khả năng ấy thì dù hoàn cảnh có thuận tiện cũng không sao phát triển được.
    Sở dĩ đạo Phật hưng thịnh nhất ở đời Lý đời Trần là cũng nhờ các danh tăng lúc bấy giờ biết làm phát triển cái khả năng thích nghi sẵn có của đạo Phật để được phù hợp với dân tộc tinh và cơ duyên của chúng sinh trong nước. Thay vì mô phỏng mù quáng theo các danh tăng dời Lý đời Trần khéo biến Thiền tông Trung Hoa thành một môn Thiền Việt Nam, phối hợp tu xuất thế và nhập thế. Các Ngài Điều ngự Giác hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang đời Trần thành lập một Thiền phái hoàn toàn Việt Nam lấy tên: phái Trúc Lâm Yên Tử.
    Với danh hiệu hoàn toàn Việt Nam, với pháp tu phù hợp với trình độ và căn tính của dân trong nước. thảo nào đạo Phật chẳng được phát đạt và toàn dân sùng mộ.
    Chính cái nội nhân thích nghi của đạo Phật mới là cái động cơ chính làm phát triển đạo Phật khắp nơi. Đó chẳng phải là cái thông lệ riêng của Việt Nam mới có, mà bất cứ ở nơi nào, nếu người đứng ra hoằng dương giáo pháp biết làm phát triển cái nội nhân thích nghi ấy cũng đều thâu hoạch kết quả như thế.
    Thử lấy Thiền tông để chứng minh, ta sẽ thấy ngay ở Ấn Độ là nơi xuất phát Thiền tông ; nhưng chính ở đấy trong khoảng thời gian một ngàn năm, Thiền tông chưa lập thành hẳn tông phái. Mãi khi du nhập vào Trung Hoa, các danh tăng cõi Chấn dân, biến nó thành một môn Thiền Trung Hoa, gây nên một thịnh huống vô cùng náo nhiệt mở rộng khắp nơi trong nước, đâm chồi nảy tược ra làm ngũ gia thất tông, Ngũ gia là: Lâm tế, Tào động, Qui Ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn, Về sau phái Lâm Tế có thêm hai chi Dương Kỳ và Hoàng Long; do đó mới gọi là Ngũ gia Thất tông.
    Đến như Thiền tông ở Nhật Bản, mặc dù do hai Ngài Vĩnh Tây và Đạo Nguyên cầu pháp ở Trung Hoa, nhưng khi du nhập vào Nhật lại dung hợp với Thần đạo và Võ sĩ đạo lập thành một Thiền phái hoàn toàn Nhật Bản. Nhờ thích ứng với dân tộc tinh Nhật, Thiền tông phát triển rất mạnh ở đảo Phù tang và sau hai Ngài Vĩnh Tây và Đạo Nguyên, còn phân ra khá nhiều chi phái, giáo nghĩa thêm đủ dầy, lợi ích càng sâu rộng.
    Cứ xem đó thì một nền giáo lý cho được phát triển, cái động cơ chính là các nhà truyền giáo phải biết làm cho thích hợp với dân tộc tinh và trình độ của dân trong nước. Cái nguyên nhân giúp cho đạo Phật hưng thịnh ở đời Lý đời Trần chính là ở chỗ đó.
    Các danh tăng Việt Nam đã biết phối hợp đạo Phật với dân tộc tinh nên gây được lòng sùng mộ của toàn thể nhân dân, nhưng cái thịnh huống ấy không thể duy trì lâu dài, khi cuộc Nam Bắc phân tranh nổi lên và tiếp theo đó dẫn khởi cuộc đô hộ của quân Pháp, khiến cho tinh thần dân tộc phải một phen tiềm tàng, cơ hồ mai một.
    Trong những lúc hỗn loạn làm xáo trộn cả giá trị tinh thần, chính là lúc rất thuận lợi cho các mê tín dị đoan nảy mục đâm chồi. Lịch sử Trung Hoa đã chứng minh rằng vào đời Lục Triều và Tam Quốc, trong nước không dứt loạn lạc, chính là lúc phái phương sĩ, một biến thể của đạo Lão phát triển mạnh mẽ nhất. Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau đời Hậu Lê cũng diễn ra những cảnh huống loạn lạc tương tợ Phái Trúc Lâm Yên Tử không sao tránh khỏi cảnh suy vi thất lạc, trong lúc tư tưởng của dân trong nước đang thối triều. Ban sơ Thiền phái Việt Nam chưa suy lạc cho lắm, nhưng trải qua một thời gian hàng mấy trăm năm loạn lạc, các tập tục mê tín ngoại lai thâm nhập càng nhiều làm cho bản chất thuần lý phù hợp với dân tộc tinh phai lạc đi.
    Nay muốn trấn hưng đạo Phật, tất phải làm sống lại tinh thần dân tộc. Nếu mãi nô lệ ngoại quốc, cứ nhất nhất mô phỏng những điều chỉ thích hợp với nước người mà không chịu áp dụng đúng với tinh thần dân tộc và phù hợp với căn cơ của dân trong nước thì những giáo lý ấy dù có được tiếp nhận chăng nữa cũng không gây được sự ngưỡng mộ nồng nhiệt của toàn dân. Một giáo lý thiếu tinh chất thích nghi là một giáo lý cằn cỗi ngưng đọng, mất bản tính chất Phật giáo.
    Ý thức được cái động nhân tiến triển của đạo Phật, nên chỉ khi ra đời Đức Phật Thầy Tây An không đạp theo dấu của các nhà sư lúc bấy giờ chỉ biết bắt chước và tai hại hơn nữa là Ấn Độ tùng xướng khởi lối tu mê tín dị đoan của Thần Tú. Để đề khởi tinh thần Phật-giáo đời Lý đời Trần. Ngài noi gương các vị tổ của phái Trúc lâm Yên tử mà sáng lập một tông phái phù hợp với dân tộc tinh Việt Nam và tương xứng với trình độ của dân chúng trong thời kỳ mạt pháp. Ngài thành lập phái Bửu Sơn Kỳ Hương và xướng xuất pháp môn Tu Nhân học Phật.
    Bửu- Sơn Kỳ- Hương là một tông phái hoàn toàn Việt Nam. Kiểm điểm các danh tông của Phật giáo Ấn độ và Trung Hoa hay bất cứ nền Phật-giáo của một nước nào ta thấy Bửu- Sơn Kỳ- Hương là một danh từ đặc biệt Việt Nam, không có trùng tên hay trùng ý với một tông phái nào khác.
    Nước Trung Hoa lấy làm hãnh diện về sự sáng lập Thiên thai tông là một tông hoàn toàn Trung Hoa, thiết tưởng chúng ta cũng không đến đỗi thiếu sáng kiến hay tự ty mặc cảm khi có tông phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương. Nhật Bản tự hào có Nhật liên tông một đặc sáng Nhật Bản nhưng thật ra Nhật liên tông chẳng qua là một thoát thai của Thiên thai tông Trung Hoa, do Thượng tọa Nhật Liên, sau một thời gian tu tập bên Trung Hoa trở về nước sáng lập.
    Đến như Bửu- Sơn Kỳ- Hương thì không thế. Nó chẳng những Việt Nam ở danh từ mà còn phù hợp với dân tộc tính Việt Nam ở phương diện hành đạo. Có thể nói Bửu- Sơn Kỳ- Hương là hoá thân hay hậu thân của Trúc Lâm Yên Tử, nhưng có điều khác hơn Trúc Lâm là Bửu- Sơn Kỳ- Hương, cho được phù hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời kỳ Hạ Nguơn mạt pháp, không còn là một thiền phái chú trọng nhiều về mặt xuất gia và chủ trương vừa xuất thế và nhập thế, mà là một tông phái trú trọng về cư sĩ tại gia và chủ trương chỉnh bị giai đoạn nhập thế để tiến dẫn đến xuất thế. Sở dĩ Bửu- Sơn Kỳ- Hương về pháp môn hành đạo có chỗ không giống Trúc Lâm Yên Tử, chẳng qua vì căn cơ của chúng sinh và hoàn cảnh của thời kỳ có khác. Nhưng trên phương diện dân tộc và sự phấn phát đã đem lại cho nền Phật-giáo Việt Nam thì Bửu- Sơn Kỳ- Hương không khác Trúc Lâm Yên Tử
     
    #8
    atulama, vohinh.tu and bian.tu Thanks.
  9. phananhtuan

    phananhtuan T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    20 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    121
    Đã được cảm ơn:
    123
    bạn nói kỹ hơn về thu thần nhập tịch vào trong đó thì đi đâu thì đi là sao . Cái này không hiểu lắm, nôm la là sau khi chết có thể đầu thai ở đâu thì đầu thai ở đó phải không nhỉ.
     
    #9
    vohinh.tuThanks.
  10. vohinh.tu

    vohinh.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    311
    Đã được cảm ơn:
    416
    - Hiểu đơn giản là như vậy, giống như là hồi sinh vậy, mang theo tất cả ký ức, tu vị . . . tất cả mọi quá khứ trở lại một lần nữa.
    - Đôi khi ko phải sinh ra và lớn lên như bình thường, mà đến lúc đến cơ duyên người tu luyện phép này sẽ trở lại làm tiếp việc mình cần làm. Và tiếp tục mục đích của cá nhân muốn, 4 đời Phật Thầy - Đức Bổn Sư - Đức Phật Trùm . . . đều là một cách thể hiện của phép này, ko phải là đồng cốt về xác.
     
    #10
    atulamaThanks.
  11. phananhtuan

    phananhtuan T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    20 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    121
    Đã được cảm ơn:
    123
    vậy là mình hiểu rồi. Cũng giống như các vị mật tông tây tạng. Thôi mỗi người có cách tu khác nhau, có người chán sinh tử, có người mê sinh tử. Có người coi sinh tử là trò chơi, có người coi là hệ trọng.
     
    #11
    vohinh.tuThanks.
  12. vohinh.tu

    vohinh.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    311
    Đã được cảm ơn:
    416
    Người học phép ko chỉ đơn giản muốn và thích, ngay cả căn học cũng là có lí do của đạo tự nhiên định để mỗi cá nhân có một trách nhiệm và định mệnh phải làm.
     
    #12
    atulamaThanks.
  13. vohinh.tu

    vohinh.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    311
    Đã được cảm ơn:
    416
    - BỬU SƠN KỲ HƯƠNG ko giống với TRÚC LÂM YÊN TỬ về hoàn cảnh xuất phát và mục tiêu, lúc đầu Phật Thầy vân du cứu nhân độ thế, đến lúc cơ duyên nên lấy thánh địa Thất Sơn lập Tổ Đình lập phái để cứu độ nhân gian sau này nhiều người tin tưởng đến tu học lẽ phải, thời gian này với người Nam Bộ thì Phật Giáo ko rõ ràng, rất khó hiểu xa vời.
    - Do vậy nên Phật Thầy dùng các truyền đạt giáo nghĩa một các đơn giản và gần gũi, phù hợp với người dân Nam Bộ, dựa vào cải lương, thơ ca, hát hò, cái bài hát cho trẻ con, các bài ca gặt lúa gieo hạt . . . để khuyên tu, hướng thiện, tập trung vào Thập Thiện Tịnh Hành làm nền tảng, dựa vào đạo lý làm người, tứ ân hiếu nghĩa, đạo ông bà, đạo làm người . . . (mang đậm chất quan điểm của ngưởi Nam Bộ).
    - Còn các môn nhân có căn cơ trí huệ hơn thì được truyền các pháp tu sâu hơn (có thể nói là tu luyện huyền thuật và Phật Pháp) để tiếp tục cứu nhân độ thế. Có thể nói tiêu chí của Bửu Sơn Kỳ Hương trước là cứu nhân độ thế sau là khuyên tu, ăn chay, làm lành rất đơn giản ngay cả trẻ con cũng làm được hiểu được.
    - Chứ ko rắc rối cao xa qua các từ ngữ, danh từ (Sơ Địa, Bát Địa, Tứ Thiền . . .) là ko thể hiểu đối với thời đó, vừa khó khăn, ko có kinh sách, ko có điều kiện, nông dân chân lắm tay bùn, bình dân kiến thức . . .
    - Giáo nghĩa của Bửu Sơn sau này truyền về có nhiều phần nằm trong Giáo Lý Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo truyền đến nay.
     
    #13
    atulama and khoqua.tu Thanks.
  14. DONGXUAT

    DONGXUAT Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    11 Tháng một 2013
    Bài viết:
    5
    Đã được cảm ơn:
    10
    Bửu Sơn Kỳ Hương có trước năm 1840, vậy là có trước Cao Đài và Hòa Hảo mà. Cao Đài mới lập khoảng năm 1927 thì phải, còn Hòa Hỏa khoảng 1934 nên đâu thể nói giáo lý của Bửu Sơn nằm trong Giáo lý Cao Đài và Hòa Hảo đặng.

    Đức Phật Thầy Tây An thọ pháp và tu đắc đạo tại đảnh núi Trà Lơn là gốc. Sau rồi mới tuân mệnh Phật Tổ hành đạo về tại 7 núi An Giang. Trong 7 núi này thì duyên của Người trụ ở Núi Sam dù rằng vẫn truyền pháp cả vùng Thất sơn. Ngôi tự người đặt tên là "Chùa Bửu Sơn Kỳ Hương" môn đồ gọi tắt là "Chùa Chánh" , các vị đệ tử mật truyền thì gọi là "Động Chánh" . Trong động có hang lớn gió thổi rất mạnh người ko đủ định lực bước vào là chóng mặt ngất xỉu liền, Hang gió này thông với tất cả các Hang huyệt ở Vùng Thất Sơn nối ra đến Hà Tiên. Nên vậy mà các đệ tử đủ định lực đi về bằng đường này, nhưng người đời ko ai biết, rồi suy luận sao đi nhanh quá.
    Vài dòng lược sử - tông môn bí truyền.
     
    #14
    khoqua.tu and vohinh.tu Thanks.
  15. vohinh.tu

    vohinh.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    311
    Đã được cảm ơn:
    416
    ohm đúng rồi DongXuat ! Cao Đài lấy giáo lý của bổn môn còn Hòa Hảo thì là một phiên bản sau này thừa hưởng hoàn toàn từ Bửu Sơn mà.
    Nên vohinh mới nói là "truyền đến nay"
     
    #15
    atulama, DONGXUAT and khoqua.tu Thanks.
  16. DONGXUAT

    DONGXUAT Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    11 Tháng một 2013
    Bài viết:
    5
    Đã được cảm ơn:
    10
    TỨ BỬU LINH TỰ
    Bửu ngọc quân minh thiên việt nguyên
    Sơn trung sư mạng địa nam tiền
    Kỳ niên trạng tái tân phục quốc
    Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên

    Bài thơ này được chép vào trang đầu tiên của quyển Bửu Bối cùng với 4 chữ Phép Linh: BỬU - SƠN - KỲ - HƯƠNG. Các vị đệ tử mật truyền đầu học thuộc bài thơ và 4 chữ này mai sau còn nhận ra nhau.
     
    #16
    atulama and vohinh.tu Thanks.
  17. vohinh.tu

    vohinh.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    19 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    311
    Đã được cảm ơn:
    416
    Ý đồng môn nè hjhj ! Bài phú này vohinh lúc nhỏ được dạy nè, đọc dọc lại được luôn đó.


    Bửu Sơn Kỳ Hương
    Ngọc trung niên xuất
    Quân sư Trạng Trình
    Minh Mạng tái sanh
    Thiên Địa tân tạo
    Việt Nam phục nghiệp
    Nguyên tiền quốc yên


    Lúc nhỏ ham chơi nên giờ chỉ nhớ đôi chút hình như bài phú này nói về sứ mạng và huyền cơ gì đó mà quên mất rồi có ghi chép mà giờ ko hiểu mình ghi cái gì. Nhớ là nói về thời điểm của Hội Long Hoa gì áh.
     
    #17
    atulamaThanks.
  18. hai nho

    hai nho Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    27 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    105
    Đã được cảm ơn:
    5
    Cam on ban da suu tâm
     
    #18
  19. hai nho

    hai nho Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    27 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    105
    Đã được cảm ơn:
    5
    Cam on ban da viet bai de minh biet them ve dao buu son ky huong
     
    #19
  20. hai nho

    hai nho Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    27 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    105
    Đã được cảm ơn:
    5
    Hay nhi....
     
    #20

Chia sẻ trang này