BỆNH SÂU RĂNG .........

Thảo luận trong 'Y Học - Dược Thuật' bắt đầu bởi Cát Tường Như Ý, 10 Tháng hai 2015.

  1. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Bệnh sâu răng là gì?

    Sâu răng là một bệnh phá hoại cấu trúc của răng. Nếu không được chữa trị, bệnh này có thể dẫn đến đau răng, rụng răng, nhiễm trùng, và tử vong đối với những ca nặng.

    Bệnh sâu răng có một lịch sử dài, với các căn cứ cho thấy nó đã xuất hiện từ thời kỳ Đồ Đồng, Đồ Sắt, thời Trung Cổ, và thậm chí trước cả thời kỳ Đồ Đá Mới. Người ta đã liên hệ những đợt bệnh sâu răng lan rộng mạnh nhất với các thay đổi về chế độ ăn. Ngày nay, sâu răng vẫn là một trong những bệnh thường gặp nhất trên khắp thế giới.

    Có nhiều cách phân loại các dạng sâu răng. Tuy rằng thể hiện có thể khác nhau, các nhân tố rủi ro và sự tiến triển của các dạng sâu răng khác nhau vẫn hầu như là tương tự nhau.

    Ban đầu, bệnh có thể thể hiện ở một vùng nhỏ có độ xốp (chalky), cuối cùng phát triển thành một lỗ hổng lớn mầu nâu. Tuy đôi khi người ta có thể trực tiếp nhìn thấy vùng bị sâu, nhưng tia X quang thường được dùng để kiểm tra những vùng răng khó nhìn thấy hơn và để đánh giá mức độ tổn thương của răng.

    Bệnh sâu răng do một số loại vi khuẩn tạo axit gây ra (cụ thể là các loài Lactobacillus, Streptococcus mutan, và các loài Actinomyces). Các vi khuẩn này gây tổn thương cho răng trong môi trường có các carbohydrate lên men được, ví dụ như các loại đường sucrose, fructose, and glucose.

    Tùy theo mức độ tổn thương của răng, có nhiều phương pháp điều trị khác nhau để khôi phục tình trạng của răng để có được hình dáng, chức năng và thẩm mỹ thích hợp.

    Tuy nhiên, hiện người ta chưa biết đến một phương pháp nào có thể tái sinh đáng kể cấu trúc răng. Thay vào đó, các tổ chức sức khỏe nha khoa kêu gọi các biện pháp phòng ngừa để tránh sâu răng, chẳng hạn như thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng và thay đổi chế độ ăn.
     
    #1
  2. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Bệnh sâu răng và những điều cần biết

    Bệnh sâu răng thực chất là sự tiêu huỷ cấu trúc vôi hoá chất vô cơ (tinh thể can-xi) của men răng và ngà răng, tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng do vi khuẩn gây ra.

    Hậu quả là sâu răng dẫn đến viêm tủy răng, tủy chết, viêm quanh cuống răng, áp xe quanh cuống răng, sâu răng có thể làm vỡ răng, sâu răng làm giảm thẩm mỹ, gây hôi miệng, ảnh hưởng đến giao tiếp.

    Nguyên nhân bệnh sâu răng
    Có 3 nguyên nhân quan trọng gây bệnh sâu răng là: vi khuẩn, đường (trong thức ăn) và thời gian.

    Vi khuẩn luôn tồn tại trong miệng. Còn đường thường tồn tại từ 20 phút đến khoảng 1 giờ trong miệng sau khi ăn, tuỳ thuộc vào hình thức chế biến trong thức ăn (đặc quánh hay lỏng, loãng).

    Vi khuẩn gây bệnh sâu răng tồn tại và bám trên bề mặt răng nhờ lớp mảng bám răng. Vi khuẩn sử dụng đường trong thức ăn và đồ uống để tạo và phát triển các mảng bám răng. Đồng thời chúng tiêu hoá đường để tạo a-xit, ăn mòn dần các chất vô cơ ở men răng và ngà răng, làm thành lỗ sâu.

    Các đối tượng có nguy cơ bị bị sâu răng sớm bao gồm trẻ thường xuyên dùng các thức uống, thức ăn có đường, có cha mẹ hoặc các anh chị em ruột bị sâu răng, trẻ có dị dạng ở răng...

    Dấu hiệu của bệnh

    Bình thường bệnh sâu răng có tốc độ phát triển tương đối chậm, mất khoảng từ 2 đến 4 năm để ăn sâu từ bề mặt lớp men răng đến lớp ngà răng.

    Khoảng từ 6 tháng cho đến 1 năm (hoặc có khi 2 năm) đầu thì bệnh thường tiến triển mà không tạo lỗ trên bề mặt răng. Có thể chỉ là những đốm trắng đục hoặc nâu trên mặt nhai hoặc ở kẽ giữa hai răng. Do đó mọi người thường không nhận thấy. Khi lỗ sâu còn nông thì không đau. Chỉ đến khi lỗ sâu lớn, ăn vào lớp ngà răng thì mới thấy đau với cường độ nhẹ.

    Răng bị sâu sẽ ê buốt khi có kích thích nóng lạnh, chua ngọt, khi lỗ sâu tiến sát tủy răng thì tủy răng sẽ bị viêm, bệnh nhân bị đau tủy răng từng cơn. Nếu không được điều trị, tình trạng sâu răng sẽ diễn tiến nặng hơn. Viêm tủy răng có thể dẫn đến hoại tử tủy, gây áp xe răng.

    Nhiễm trùng răng sữa có thể ảnh hưởng đến quá trình mọc răng vĩnh viễn. Một số trường hợp nhiễm trùng răng sữa có gây ra nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm trùng lan các vùng khác của mặt.

    Điều trị và phòng ngừa sâu răng

    Cách điều trị sâu răng phổ biến nhất là hàn răng, cần nạo sạch ngà vụn, sát khuẩn lỗ sâu và hàn kín. Trong một số trường hợp răng sâu nặng, không thể hàn được thì phải nhổ.

    Để phòng bệnh, mọi người cần phải đánh răng ngay sau khi ăn hoặc ít nhất 2 lần/ ngày, đặc biệt là đánh răng trước khi đi ngủ. Đánh răng đúng cách là việc quan trọng để làm sạch toàn bộ các răng dùng bàn chải lông mềm, chải mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai, trên và dưới.

    Nên cầm bàn chải quay 45o về phía lợi, chải kỹ rìa lợi và cổ răng. Bạn nên dùng kem đánh răng có fluor và canxi có tác dụng làm cho men răng cứng hơn, do vậy chống đỡ với vi khuẩn và axít tốt hơn.

    Đối với các kẽ răng có giắt thức ăn mà bàn chải không chải hết được có thể dùng chỉ nha khoa để làm sạch kẽ răng.

    Cách sử dụng như sau: Bạn lấy một đoạn chỉ nha khoa dài khoảng 40cm, quấn chặt vào hai đầu ngón tay giữa cho tới khi cách nhau 10cm, dùng hai ngón trỏ căng sợi chỉ, dùng ngón trỏ trái hoặc phải ấn sợi chỉ vào kẽ răng còn dắt thức ăn, kéo ngang 1cm, thức ăn sẽ ra theo sợi chỉ.

    Những người bị tụt lợi dẫn đến hở cổ và chân răng nhiều và thưa răng cần dùng thêm bàn chải kẽ răng để làm sạch mặt tiếp giáp giữa các răng. Những răng mọc lệch lạc cần được chỉnh cho đúng vị trí vì răng mọc lệch bị bám thức ăn nhiều hơn làm tăng nguy cơ sâu răng. Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện răng sâu và chữa kịp thời.
     
    #2
  3. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Vì sao bị sâu răng?

    Sâu răng là những tổn thương ở tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ trên bề mặt răng. Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc chân răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên chân răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà chân răng.

    Sâu răng do nguyên nhân từ đâu?

    Nguyên nhân là do vi khuẩn có sẵn trong miệng, chủ yếu là Streptococcus Mutans, khi có thức ăn dính lên mặt răng đặc biệt là đường và tinh bột, các vi khuẩn sẽ phân hủy thức ăn tạo nên acid ăn mòn men răng tạo thành lỗ sâu.

    Vi khuẩn, acid, mùn thức ăn trên mặt răng sẽ tạo thành một màng dính vào răng gọi là màng bám răng, màng này rất dính và có ở tất cả các mặt răng đặc biệt là răng hàm, màng bám răng không những gây sâu răng mà còn gây viêm lợi và viêm quanh răng. Màng bám răng dần dần được khoáng hóa bởi các chất khoáng trong nước bọt và thức ăn tạo thành cao răng.

    Sau khi men răng bị ăn mòn thành lỗ, vi khuẩn và thức ăn càng có điều kiện bám vào, acid càng được tạo ra nhiều hơn, tổ chức cứng (men và ngà răng) càng bị phá hủy, lỗ sâu được mở rộng và tiến về phía tủy răng.

    Những người bị tụt lợi hở cổ răng và chân răng thì màng bám răng sẽ bám lên và bắt đầu quá trình phân hủy thức ăn tạo acid trên bề mặt cổ răng và chân răng, mô cứng của răng bị ăn mòn tạo thành lỗ sâu. Người Việt Nam nói chung có thói quen dùng bàn chải cứng và chải ngang nên hay bị mòn cổ răng và chân răng làm lộ ngà chân răng, ngà chân răng bị hở rất dễ bị sâu.

    Phát hiện sâu răng bằng cách nào?

    Răng bị sâu sẽ ê buốt khi có kích thích nóng lạnh, chua ngọt, khi lỗ sâu tiến sát tủy răng thì tủy răng sẽ bị viêm, bệnh nhân bị đau tủy răng từng cơn. Để phát hiện sâu răng, tất cả mọi người cần đi khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để kiểm tra có bị sâu răng không và chữa kịp thời.

    Lỗ sâu nằm trên mặt nhai, mặt ngoài và mặt trong của răng thì dễ phát hiện khi khám lâm sàng, lỗ sâu ở mặt tiếp giáp của hai răng thì khó phát hiện hơn, nhiều trường hợp cần chụp Xquang để chẩn đoán, bệnh nhân có thể chụp phim cận chóp hoặc phim panorama.

    Điều trị và dự phòng

    Các lỗ sâu của răng vĩnh viễn cần được làm sạch hết ngà mủn và trám bằng vật liệu amalgam, composite, xi măng glassionomer, răng sữa có thể trám bằng xi măng glassionomer, xi măng sứ và xi măng phosphat.

    Những lỗ sâu lớn có thể được hồi phục bằng inlay hoặc onlay kim loại hoặc sứ, răng vỡ lớn nên được bọc bằng chụp kim loại hoặc chụp sứ. Răng tổn thương tủy cần được điều trị tủy rồi phục hồi răng.

    Hậu quả là sâu răng dẫn đến viêm tủy răng, tủy chết, viêm quanh cuống răng, áp xe quanh cuống răng, sâu răng có thể làm vỡ răng, sâu răng làm giảm thẩm mỹ, gây hôi miệng ảnh hưởng đến giao tiếp. Tuy nhiên, nếu răng được điều trị đúng kỹ thuật thì hoàn toàn có thể sử dụng như các răng bình thường khác.

    Để phòng bệnh, mọi người cần phải chải răng sau mỗi bữa ăn hoặc ít nhất 1 lần trong ngày sau bữa tối, tránh ăn vặt nhất là ăn vặt đồ ngọt, chải răng đúng cách là việc quan trọng để làm sạch hoàn toàn các răng, nên để lông bàn chải nghiêng trên mặt ngoài (hoặc mặt trong) một góc 45 độ, chải hất về phía mặt nhai hoặc rìa cắn, chải từng nhóm răng tới khi sạch, đối với mặt nhai thì đơn giản hơn, chỉ cần đặt lông bàn chải vuông góc với mặt răng và kéo qua kéo lại.

    Dùng thuốc chải răng có fluoride, fluoride kết hợp với hydroxy apatid có trong men răng có tác dụng làm cho men răng cứng hơn, do vậy chống đỡ với vi khuẩn và acid tốt hơn.

    Dùng chỉ nha khoa làm sạch kẽ răng: các kẽ răng thường vẫn còn đọng thức ăn sau khi chải răng, bởi vậy các bạn nên sử dụng chỉ nha khoa sau khi chải răng, cách dùng như sau: bạn lấy một đoạn chỉ nha khoa dài khoảng 40cm, quấn chặt vào hai đầu ngón tay giữa cho tới khi cách nhau 10cm, dùng hai ngón trỏ căng sợi chỉ, dùng ngón trỏ trái hoặc phải ấn sợi chỉ vào kẽ răng còn dắt thức ăn, kéo ngang 1cm, thức ăn sẽ ra theo sợi chỉ.

    Những người bị tụt lợi dẫn đến hở cổ và chân răng nhiều và thưa răng cần dùng thêm bàn chải kẽ răng để làm sạch mặt tiếp giáp giữa các răng. Những răng mọc lệch lạc cần được chỉnh cho đúng vị trí vì răng mọc lệch bị bám thức ăn nhiều hơn làm tăng nguy cơ sâu răng. Tránh ăn vặt đồ ngọt nhiều lần, nên ăn thành bữa và chải răng sau bữa ăn. Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện răng sâu và chữa kịp thời.
     
    #3
  4. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Nguyên nhân sâu răng và cách chữa

    Răng bị sâu khác với các bộ phận khác bị tổn thương, vì đây là một quá trình và là bộ phận duy nhất trong cơ thể không có khả năng tự phục hồi, phải chữa trị. Thông thường sâu răng phát triển liên tục từ lớp nông đến lớp sâu của răng.

    Triệu chứng ban đầu là răng đổi màu, lúc này người bệnh chưa cảm thấy gì, lỗ sâu răng chưa có và kích thích do thức ăn nóng, lạnh chưa xảy ra. Một thời gian sau, răng biến đổi sang màu nâu hoặc màu đen.

    Lỗ sâu ở răng xuất hiện, người bệnh cảm thấy khó chịu khi thức ăn giắt vào lỗ sâu, cảm thấy buốt khi ăn thức ăn nóng, lạnh, đau khi có thức ăn nóng giắt vào. Nếu lỗ sâu tiếp tục bị sâu thì phần đáy lỗ bị bong calcium và mềm hóa, nhiễm vào tầng sâu của răng, làm cho bệnh nặng hơn.

    Khi răng đau kéo dài, hoặc mức độ đau gia tăng thì rất có thể tủy răng đã bị viêm. Bên cạnh đó, khi bị sâu răng, hơi thở của người bệnh còn có mùi hôi.

    Những nguyên nhân gây sâu răng

    Người ta cho rằng có 4 nhân tố như một chuỗi liên hoàn gây ra sâu răng là vi khuẩn, thức ăn, răng của từng người và thời gian.

    Vi khuẩn gây sâu răng là các vi khuẩn bám vào mặt răng và có khả năng gây sâu răng, chúng sản sinh và tiết ra chất hữu cơ, polyore, enzyme thủy phân chất lòng trắng trứng (một thành phần trong nước miếng), những chất đó có thể hòa tan chất hữu cơ và phân hủy chất vô cơ của kết cấu răng. Các vi khuẩn này bám vào răng hình thành các đốm khuẩn, đến lượt các đốm khuẩn này phát triển tấn công răng.

    Khả năng chống sâu của răng tùy thuộc vào trạng thái kết cấu của răng. Hàm răng không bị sứt mẻ, không khiếm khuyết, mọc thẳng hàng, thẳng lối, men răng trắng bóng, mức khoáng hóa răng cao là những yếu tố quan trọng chống lại các tác nhân gây sâu răng. Ngược lại, các yếu tố này không hoàn chỉnh thì nguy cơ sâu răng là rất lớn.

    Sự gây ra sâu răng của thức ăn được nhắc đến nhiều nhất là đường, là cơ sở quan trọng để vi khuẩn bám vào đó sinh sôi nảy nở, nhất là ăn nhiều đường, ăn đồ ngọt, không đánh răng trước khi đi ngủ. Các gợn thức ăn còn bám vào các kẽ răng, nếu không đánh răng thường xuyên, hoặc/và không lấy cao răng định kỳ cũng sẽ làm môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây sâu răng phát triển.

    Quá trình từ răng mới sâu đến khi hình thành lỗ sâu phải trải qua một thời gian, nhanh hay chậm tùy thuộc vào sự vệ sinh, khả năng chống sâu của từng người và cũng phụ thuộc mức độ vi khuẩn nhiều hay ít. Người ta cho rằng từ lúc xuất hiện các đốm răng cho đến khi hình thành lỗ sâu có thể đến 1,5 năm, trong thời gian đó rất cần được điều trị kịp thời.Điều trị răng sâu như thế nào?

    Dùng thuốc điều trị cho những trường hợp mới chớm sâu, chưa hình thành lỗ. Thuốc dùng thường là chấm vào chỗ bị sâu, đây là những dung dịch có tính sát khuẩn. Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho chỗ sâu của răng nghiền phía sâu vì dễ gây đổi màu men răng.

    Biện pháp nạo bỏ phần răng bị sâu, áp dụng cho mọi lỗ sâu răng, nhất là lỗ sâu rộng, nhằm ngăn chặn sự phát triển tiếp theo của răng sâu.

    Biện pháp tái khoáng phần bị sâu, dùng dung dịch gồm các chất calcium, phosphate, fluorine đổ vào nơi răng bị sâu. Phương pháp này áp dụng cho trường hợp răng chớm sâu, có khả năng thu hẹp vùng có màu trắng vôi hoặc vùng đó ngừng phát triển. Đây là phương pháp tái khoáng đơn giản, hiệu quả, không đau và an toàn.

    Hàn vá lỗ sâu là phương pháp thường dùng nhất để chữa sâu răng, áp dụng đối với răng có khả năng định vị sau khi bị sâu. Khi hàn vá sử dụng chất liệu hàn vá để hàn thật chắc vào răng, vá vào chỗ khuyết của răng, khôi phục tính năng của răng, nhằm giữ được thẩm mỹ và chức năng cho hàm răng.Phòng bệnh sâu răng

    Trước hết phải vệ sinh răng miệng sau khi ăn, trước khi đi ngủ. Hạn chế ăn thức ăn chứa nhiều đường. Trẻ em trong thời kỳ mọc răng, thay răng càng phải đặc biệt quan tâm đến hàm răng, như cho trẻ ăn đủ chất tạo răng, đánh răng và dạy trẻ biết đánh răng cho mình. Dùng kem đánh răng có chứa flourine, có thể dùng thêm nước súc miệng diệt khuẩn sau bữa ăn.

    Những phụ nữ mang thai cần bổ sung calcium để trẻ sinh ra không bị thiếu chất tạo răng. Mọi người cũng cần khám răng định kỳ 6 tháng/lần để kịp thời phát hiện những biến đổi của răng, có các biện pháp điều trị phù hợp.
     
    #4
  5. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Phòng tránh sâu răng

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạn bị sâu răng nhưng điểm mấu chốt vẫn là thói quen ăn uống của bạn.

    Dưới đây là một vài hướng dẫn giúp bạn giảm lượng axit do vi khuẩn tạo ra gây sâu răng để có một hàm răng chắc khỏe:

    1. Ăn đa dạng, cân bằng và điều độ các thức ăn tốt cho sức khỏe của cơ thể cũng như cung cấp đủ lượng vitamin, khoáng chất và các chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe của răng miệng.

    2. Hạn chế ăn vặt để giảm lượng axit có hại cho răng. Vi khuẩn ở các mảng bám trên răng tạo nên những axit có hại từ 20 đến 40 phút sau khi bạn ăn.

    3. Giảm các loại nước hoa quả, nước giải khát có chứa đường, trà và cà phê chứa đường. Hãy hạn chế thời gian uống những loại nước ngọt này.

    4. Uống nước có chứa florua nếu có thể. Nước làm sạch răng và florua chống lại bệnh sâu răng hữu hiệu.

    5. Tránh ăn đường, mút kẹo và những thức ăn chứa nhiều đường. Những loại thức ăn này làm cho vi khuẩn hoạt động mạnh tiết ra nhiều axít có hại cho răng.

    6. Không nên cho trẻ nhỏ uống nhiều nước hoa quả mà nên thay vào đó là cho các bé uống sữa. Nước ngọt có đường khiến vi khuẩn ở các mảng bám hoạt động mạnh cùng với cacborn hydrate có trong nước ngọt khiến cho răng trẻ dễ bị sâu.

    7. Hãy đánh răng đều đặn sau mỗi bữa ăn để hạn chế sự tồn tại của mảng báo nơi chứa vi khuẩn tiết ra axit có hại cho răng. Nếu bạn không đánh răng được đều đặn sau mỗi bữa thì nên đánh răng ít nhất 2 lần một ngày với kem đánh răng có chứa florua.

    8. Súc miệng bằng nước diệt khuẩn sau khi đánh răng một hoặc hai lần mỗi ngày để loại trừ các mảng bám trên bề mặt răng. Nếu mảng bám vẫn tồn tại sẽ gây ra các bệnh về nướu răng, viêm lợi và các lỗ hổng trong răng.

    9. Nếu trước đây bạn có thói quen hút thuốc thì giờ là lúc nên thôi không hút nữa. Hút thuốc làm tăng nguy cơ sâu răng và làm hơi thở có mùi khó chịu.

    10. Hãy thường xuyên kiểm tra răng ở nha sĩ để có cách chăm sóc răng tốt nhất .

    Chăm sóc răng miệng đúng cách sẽ giúp bạn luôn tự tin khi giao tiếp.Hãy luôn để ý tới sức khỏe răng miệng bạn nhé!
     
    #5
  6. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Các triệu chứng sâu răng

    Nếu không được điều trị, bệnh có thể gây các biến chứng như viêm tủy răng, viêm quanh cuống răng với các cơn đau dữ dội. Sâu răng còn có thể gây viêm hạch, viêm tủy xương, thậm chí gây nhiễm trùng huyết.

    Sâu răng là một bệnh mạn tính phổ biến. Tuy y học đã phát triển nhiều, vệ sinh răng miệng đã được thực hiện rộng rãi nhưng tỷ lệ bệnh sâu răng vẫn ngày càng tăng ở các nước phát triển (90%, thậm chí 100% dân số).Chẩn đoán sâu răng thường dựa vào các triệu chứng:

    - Nhìn thấy lỗ sâu: Thường là thương tổn men và ngà răng. Nếu dùng que nạo ngà, lấy hết vụn bẩn thức ăn trong lỗ sâu, sẽ thấy đáy lỗ sâu rộng hơn miệng lỗ.

    - Đau buốt khi kích thích: Khi thức ăn lọt vào lỗ sâu, khi ăn nóng, lạnh, ngọt..., bệnh nhân sẽ đau buốt; hết tác nhân kích thích sẽ hết đau.

    - Nếu thấy răng có lỗ sâu mà đau thành cơn kéo dài khoảng 10 phút rồi dịu dần thì đó là dấu hiệu nhiễm trùng tủy răng. Lúc này, sự can thiệp của thầy thuốc là rất cần thiết.

    Để điều trị sâu răng, cần nạo sạch ngà vụn, sát khuẩn lỗ sâu và hàn kín. Tùy theo vị trí của lỗ sâu, mức độ sâu và điều kiện kinh tế của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chọn chất hàn phù hợp.

    Để phòng sâu răng, không nên ăn vặt, nhất là thức ăn có đường; tăng cường thức ăn có nhiều chất xơ như rau, táo, cam... Cần tăng cường chất lượng tổ chức cứng của răng bằng cách: người mẹ mang thai ăn uống tốt, nhất là cung cấp đủ canxi và vitamin; trẻ em cần chống còi xương, suy dinh dưỡng vì điều này ảnh hưởng tới sự phát triển của răng. Vitamin D, fluor là chất vi lượng rất quan trọng để nâng cao chất lượng tổ chức cứng của răng.

    Về vệ sinh răng miệng, cần chải răng đúng cách với kem chứa fluor, tốt nhất là sau bữa ăn. Nếu chải 1 lần/ngày thì nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. Lấy cao răng định kỳ 6 tháng/lần.
     
    #6
  7. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Dấu hiệu biểu hiện sâu răng

    Bình thường bệnh sâu răng có tốc độ phát triển tương đối chậm, mất khoảng từ 2 đến 4 năm để ăn sâu từ bề mặt lớp men răng đến lớp ngà răng.

    Khoảng từ 6 tháng cho đến 1 năm (hoặc có khi 2 năm) đầu thì bệnh thường tiến triển mà không tạo lỗ trên bề mặt răng. Có thể chỉ là những đốm trắng đục hoặc nâu trên mặt nhai hoặc ở kẽ giữa hai răng. Do đó mọi người thường không nhận thấy. Khi lỗ sâu còn nông thì không đau. Chỉ đến khi lỗ sâu lớn, ăn vào lớp ngà răng thì mới thấy đau với cường độ nhẹ.

    Răng bị sâu sẽ ê buốt khi có kích thích nóng lạnh, chua ngọt, khi lỗ sâu tiến sát tủy răng thì tủy răng sẽ bị viêm, bệnh nhân bị đau tủy răng từng cơn. Nếu không được điều trị, tình trạng sâu răng sẽ diễn tiến nặng hơn. Viêm tủy răng có thể dẫn đến hoại tử tủy, gây áp xe răng.

    Nhiễm trùng răng sữa có thể ảnh hưởng đến quá trình mọc răng vĩnh viễn. Một số trường hợp nhiễm trùng răng sữa có gây ra nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm trùng lan các vùng khác của mặt.
     
    #7
  8. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Sâu răng sớm, răng trẻ dễ bị xô lệch hàm

    Rất nhiều bậc cha mẹ coi thường hàm răng sữa của trẻ vì cho rằng đó chỉ là hàm răng tạm thời. Họ không biết rằng một trong những nguyên nhân dẫn tới việc bị xô lệch hàm (khi mọc răng vĩnh viễn) ở trẻ chính là do trẻ bị sâu răng sớm, viêm nha chu hoặc mất răng sữa sớm.

    Yếu tố đầu tiên được coi là nguyên nhân gây lệch lạc răng hàm chính là yếu tố di truyền. Nếu cha hay mẹ có xương hàm nhỏ, răng quá to hoặc xương hàm quá to, răng quá nhỏ sẽ gây ra sự mất cân xứng về kích thước giữa răng và hàm khiến các răng không thể xếp ngay ngắn trên cung hàm, thì thế nào cũng để lại ít nhiều dấu ấn này trên hàm răng của trẻ. Tuy nhiên, có nhiều bậc cha mẹ có hàm răng đẹp, đều như hạt bắp nhưng trẻ lại có hàm răng lệch lạc là do:

    - Một số thói quen không tốt về răng miệng khi trẻ còn nhỏ như tật mút ngón tay, mút môi và cắn môi, đẩy lưỡi, thói quen thở bằng miệng. Các thói quen này sẽ gây mất hài hòa giữa răng và hàm.

    - Mất răng sữa sớm, răng vĩnh viễn không có được sự hướng dẫn và có thể đưa đến mọc lệch. Việc chú ý giữ gìn răng sữa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp các răng vĩnh viễn mọc đúng trên cung hàm.

    - Tình trạng dinh dưỡng kém có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của xương hàm.

    - Chấn thương các răng, ví dụ trẻ bị té ngã, sẽ làm các răng di chuyển.

    - Sâu răng sớm, bệnh nha chu làm mất răng nên các răng bị xô lệch.

    Những dạng lệch khớp cắn ở trẻ

    - Nhô hàm trên:Hàm trên nhô quá về phía trước, hoặc hàm dưới lùi quá về phía sau.

    - Khớp cắn ngược (móm):Hàm dưới nhô quá về phía trước hoặc hàm trên lùi quá về phía sau.

    Hiện tượng này xảy ra khi răng hàm trên cắn vào bên trong răng hàm dưới.

    - Khớp cắn hở:Khi cắn 2 hàm răng lại, răng hàm phía sau chạm nhau nhưng răng cửa vẫn hở. Răng trên và các răng dưới không chạm nhau.

    - Khớp cắn sâu: Khi cắn lại, răng hàm trên che khuất răng hàm dưới.

    - Răng chen chúc: Hai hàm đúng vị trí nhưng trên mỗi hàm, răng mọc không đều các răng khấp khểnh, chen chúc. Răng quá to hay xương hàm cung răng quá nhỏ không đủ chỗ để các răng sắp xếp.

    - Răng thưa: Nếu như răng bị mất hay quá nhỏ hoặc cung răng quá rộng, khoảng cách giữa các răng có thể xuất hiện điều tồi tệ thông thường nhất do quá trình này gây ra là vẻ bề ngoài xấu.

    Trẻ cần được điều trị sớm

    Quan niệm về hàm răng đẹp là hàm răng đầy đủ với các răng mọc đúng vị trí trên cung hàm, có hình dáng bình thường và răng trên phủ ngoài răng dưới với tỉ lệ thích hợp có khớp cắn đúng.

    Bạn nên đưa trẻ đến bác sĩ chuyên môn về chỉnh hình răng mặt từ lúc 6 - 7 tuổi để kiểm tra và phát hiện các lệch lạc răng hàm hoặc nguy cơ sai hình trong tương lai. Bác sĩ sẽ có những lời khuyên nếu nhận thấy trẻ cần được can thiệp sớm và sẽ quyết định thời điểm điều trị. Một số trường hợp sẽ được giải quyết sớm, không cần phải chờ đến khi rụng hết răng sữa vì lúc đó, sự lệch lạc răng sẽ trầm trọng hơn. Bởi vậy, tốt nhất là cứ 6 tháng một lần cho trẻ đi khám định kỳ.

    Việc chỉnh hình răng hàm mặt có thể thực hiện ở mọi lứa tuổi. Thời điểm chuẩn để chỉnh hình răng mặt tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của sự sai hình xương và sự lệch lạc của răng. Ví dụ, một trẻ bị sứt môi và hở hàm ếch có thể phải dùng một máng chỉnh hình trong miệng ngay sau khi sinh vài tuần.

    Theo Hiệp hội Nha khoa Mỹ, thời điểm tốt nhất để điều trị chỉnh hình răng hàm mặt là khi các răng vĩnh viễn đã mọc (10-12 tuổi). Ở lứa tuổi này, xương hàm đang phát triển, rất thuận lợi cho việc nới rộng và sắp xếp lại các răng. Nhưng để việc nắn chỉnh răng thực sự có hiệu quả hoàn hảo và không gặp nhiều cản trở về sau, thì ngay từ khi bắt đầu thay răng sữa (6-7 tuổi) nên cho trẻ đi kiểm tra răng miệng thường xuyên để có thể thực hiện nắn chỉnh răng phòng ngừa kịp thời.

    Nắn chỉnh răng phòng ngừa cần thực hiện rất sớm ngay khi bắt đầu thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn để điều chỉnh cho hàm răng vĩnh viễn mọc ngay ngắn và đều hơn, giúp cho việc nắn chỉnh toàn diện ở lứa tuổi đã thay hết răng sữa (khoảng 12 tuổi) trở nên dễ dàng và đạt kết quả tốt.
     
    #8
  9. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Phát hiện sâu răng bằng cách nào?

    Răng bị sâu sẽ ê buốt khi có kích thích nóng lạnh, chua ngọt, khi lỗ sâu tiến sát tủy răng thì tủy răng sẽ bị viêm, bệnh nhân bị đau tủy răng từng cơn. Để phát hiện sâu răng, tất cả mọi người cần đi khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để kiểm tra có bị sâu răng không và chữa kịp thời
    Lỗ sâu nằm trên mặt nhai, mặt ngoài và mặt trong của răng thì dễ phát hiện khi khám lâm sàng, lỗ sâu ở mặt tiếp giáp của hai răng thì khó phát hiện hơn, nhiều trường hợp cần chụp Xquang để chẩn đoán, bệnh nhân có thể chụp phim cận chóp hoặc phim panorama.
     
    #9
  10. Cát Tường Như Ý

    Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    26 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    1,028
    Đã được cảm ơn:
    1,771
    Chẩn đoán sâu răng qua nước bọt

    Số răng sâu trong một đời người có thể tiên đoán được nhờ phân tích protein trong nước bọt. Xét nghiệm này thậm chí còn có thể nhận diện chiếc răng nào dễ bị hỏng nhất.

    Một ngày không xa, xét nghiệm nước bọt tìm răng sâu sẽ rất hữu hiệu trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng. Trẻ nhỏ sẽ được khám từ rất sớm để có biện pháp bảo vệ răng trước khi chúng bị sâu.

    Tác giả của phương pháp chẩn đoán trên là các nhà khoa học thuộc Đại học Nam California. Họ đã phát hiện ra một số mẫu protein trong nước bọt có liên quan đến nguy cơ sâu răng, và có thể biết trước tới 98% chiếc răng nào sẽ bị sâu.

    Theo trưởng nhóm nghiên cứu Paul Denny, xét nghiệm sâu răng qua nước bọt sẽ hấp dẫn đối với cả bệnh nhân và bác sĩ, vì chất liệu xét nghiệm dễ lấy và rất sẵn có (trung bình một ngày, một người tiết ra khoảng 1 lít nước bọt). Đặc biệt là nó không cần đến kim tiêm. Tuy nhiên, phương pháp chẩn đoán trên vẫn không thể coi là giải pháp thay thế cho việc khám nha khoa thường xuyên. Theo giáo sư Denny, nó chỉ có thể giúp bác sĩ vạch kế hoạch phòng bệnh cho từng cá nhân.

    Nước bọt vốn chứa nhiều loại protein và phân tử mà máu và nước tiểu có, vì thế nó cũng sẽ là một yếu tố quan trọng cho biết chuyện gì đang diễn ra trong cơ thể. Nhóm nghiên cứu dự định phát triển phương pháp xét nghiệm nước bọt để chẩn đoán các bệnh ung thư ở đầu và cổ dựa trên nguyên tắc tương tự.
     
    #10

Chia sẻ trang này