ỨNG DỤNG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP TRONG VIỆC XÂY CẤT MỘ PHẦN. BÀI 1.

Thảo luận trong 'DỊCH HỌC ( Dịch số, Thái Ất, Kỳ Môn Ðộn Giáp...)' bắt đầu bởi catbuicuocdoi, 28 Tháng sáu 2015.

  1. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    ỨNG DỤNG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP TRONG VIỆC XÂY CẤT MỘ PHẦN.
    奇門遁甲秘笈大佺.
    [​IMG]
    [​IMG]
    LỜI NÓI ĐẦU :
    Độn Giáp là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn). Có sách thêm hai chữ "Kỳ Môn" ở trước và có tên gọi là Kỳ Môn Độn giáp.
    Độn Giáp là môn tính toán căn cứ vào sự tiêu trưởng của Âm Dương để đặt ra những nguyên tắc và định lý quyết đoán sự diễn tiến cát hung của sự vật.
    Trong tam thức, nếu như Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất thì Độn Giáp, lại thiên về Địa, nó nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý, phong thủy đối với con người.
    Độn Giáp là môn dự đoán, phát sinh từ Dịch học, ứng dụng dịch lý. Độn Giáp là hệ thức thời gian theo Can Chi tương ứng với các thuộc tính của Tiết khí, theo một chu kỳ tính theo năm (tháng) hoặc Nguyên, Hội, Vận v.v mà mỗi vị trí thời gian Can Chi phản ánh một quá trình phát sinh, phát triển và kết quả của sự vật, hiện tượng, con người. Nói đến Độn Giáp là nói đến Tiết khí được lượng hoá qua độ mạnh yếu của khí Âm Dương bằng hằng số của Dịch học gọi là Cục.
    Trong mười Thiên can thì ba nhóm Thiên can Ất, Bính, Đinh được gọi là Tam Kỳ, sáu nhóm Thiên can Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí được gọi là Lục Nghi. Can giáp được ẩn đi nên gọi là Độn Giáp. Tam kỳ tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng và tinh tú.
    Môn là Bát Môn, tức là tám cửa. Tám cửa gồm có Hưu Môn, Sinh Môn, Thương Môn, Đỗ Môn, Cảnh Môn, Tử Môn, Kinh Môn và Khai Môn. Tám cửa này là từ tám phương vị của Bát Quái mà ra. Trong quân sự còn có tên khác là Bát Trận Đồ. Tên các cửa trong Bát Trận Đồ là Thiên Môn, Địa Môn, Phong Môn, Vân Môn, Long Môn, Hổ Môn, Điểu Môn và Xà Môn. Bát Trận Đồ này xem thì rất đơn giản, dễ dàng nhưng kỳ thực thì thiên biến vạn hóa, cao siêu thần diệu. Bát Môn thực tế là tám loại cảm ứng điện từ của hệ Mặt Trời và Trái Đất đối với con người ta.
    Kỳ Môn Độn Giáp nguyên gọi là Tam Nguyên Kỳ Môn Độn Giáp. Tam Nguyên tức là Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên (có nơi còn gọi là Thiên Nguyên, Nhân Nguyên, Địa Nguyên dựa trên cơ sở Tam Tài là Thiên Nhân Địa rồi tìm ra Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hòa).
    Độn giáp được hình thành trên cơ sở của các thuyết: Tam tài (Thiên, địa, nhân), Can Chi, Âm Dương, ngũ hành, Tiên thiên bát quái, Hậu thiên bát quái, cửu cung phi tinh... Hiện nay có nhiều trường phái độn giáp được phát triển ở Trung Hoa lục địa và Đài Loan. Phổ biến nhất là thời gia kỳ môn học, sau đó là niên gia kỳ môn học, nguyệt gia kỳ môn học, nhật gia kỳ môn học...
    Kỳ Môn Độn Giáp là môn khoa học cho ta biết được thời điểm nào, phương vị nào sẽ có lợi cho ta và phương vị nào sẽ bất lợi cho ta, rồi ta có thể dựa vào đó cải thiện vận mệnh của ta cho từng thời điểm.
    Kỳ Môn Độn Giáp được ứng dụng trong việc lựa chọn thời gian, hướng bày binh, xuất quân, cầu tài, cầu danh, yết kiến quí nhân, xuất hành, khai trương, động thổ, xây cất, tìm người cưới gả …

    Trước đây, Độn giáp ứng dụng vào quân sự là chủ yếu. Ngày nay độn giáp có thể ứng dụng trong các hoạt động mang tính cạnh tranh, thi đua, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh. Ngoài ra độn giáp còn là công cụ quan trọng trong tính toán địa lý "tam hợp" điều này cũng nói lên sự liên quan mật thiết giữa độn giáp với yếu tố "Địa" trong hệ thống tam tài Thiên - Nhân - Địa. ( http://vi.wikipedia.org/ )
    Trong Kỳ môn độn giáp còn có phần : Kỳ môn độn giáp Thần phù , tương truyền do đấng Cửu Thiên Huyền Nữ truyền cho Hoàng Đế khi đánh nhau với Si Vưu ở Trác Lộc. Lúc đó bản sách chỉ có bản Kim Hàm thường dùng trong việc binh thư. Đến đời Nghiêu - Thuấn khi sai Đại Vũ đi trị thủy , đấng Cửu Thiên Huyền Nữ truyền cho Hà Đồ và Lạc Thư trên lưng Rùa Thần . Từ đó phép Độn Giáp chính thức được lưu truyền.
    Sau này Hán Tử Phòng gom lại thành 13 cục . Gia Cát Lượng Võ hầu Khổng Minh cùng bố vợ là Hoàng Thừa Ngạn , vợ là Hoàng Nguyệt Anh ( tục gọi là Hoàng A Sửu ) đắc ngộ thần cơ tạo nên Bát Quái Trận đồ gồm có 8 cửa và 3 kỳ .
    Sau này được truyền ra ngoài và trong hầu hết các binh thư thời cổ đều sử dụng phép Kỳ môn độn giáp .
    Tại Việt Nam , thời Trần có Đức Thánh Trần Hưng Đạo viết ra cuốn Binh Thư Yếu Lược là một cuốn sách bất hủ nay đã bị thất truyền.
    Khi đắc ngộ được KỲ MÔN ĐỘN GIÁP , trên có thể phò Vua , báo Quốc , làm cho lê dân được yên ổn , dưới có thể phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn gia đình .
    Ngày trước dienbatn có duyên được một ẩn sĩ chỉ dạy cho môn này một chút , đem áp dụng vào việc xây cất mộ phần trong mấy chục năm qua đều thấy rất hiệu quả. Xin cùng chia sẻ với các bạn.
    PHẦN 1 : QUAN HỆ TAM TÀI.

    [​IMG]
    Theo sử sách còn truyền lại,từ khi Phục Hy lập ra Bát quái định Thiên đồ,xa thì trông Thiên văn,đại Địa,gần thì trông ở người,vật,toàn đồ Vũ trụ quan bao gồm Thiên -Địa -Nhân.
    THIÊN :Tinh ba là Nhật -Nguyệt -Tinh.
    ĐỊA :Tinh ba là Thủy -Phong -Hỏa.
    NHÂN :Tinh ba là Tinh -Khí -Thần.
    Tất cả các thành phần trên gọi chung là Đại đạo,mỗi thành phần đều sống động.
    THIÊN ĐẠO :Là sự vận hành các phần tử Thiên hà,Thiên hệ,Tinh tú châu lưu an toàn trong khoảng không theo một trật tự nhất định.
    ĐỊA ĐẠO :Thủy -Hỏa-Phong châu lưu khắp nơi nhằm sinh hóa và nuôi dưỡng vạn vật.
    NHÂN ĐẠO :Là cái đức lớn của Thiên -Địa,Tinh khí tươi nhuận thì Thần mới minh.
    Vũ trụ toàn đồ luôn sống động,nếu ngưng ,nghỉ tức là hoại ,là diệt.
    Một Cảnh giới hài hòa tạo được sự an lạc,hạnh phúc cho mọi người tức là cả ba thành phần phải tốt tương ứng thể hiện đủ đức tính của Đại đạo.Vì thế ,các bậc Tiền nhân luôn có ước muốn tạo cho mình và cộng đồng một Cảnh giới Chân -Thiện -Mỹ,họ chiêm nghiệm ,học hỏi từ Thiên nhiên địa vật,tạo nên nền tảng Kiến trúc .Nhân giới luôn hài hòa với Tam tài (Thiên văn,Địa thế,Nhân sinh ),nên gọi là thuật Phong thủy.Phong thủy cũng dựa vào trên nền tảng Quái đồ,Hà Lạc.
    Tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn) được sử dụng rất hiệu quả khi cải táng mộ phần.
    1/ Lục Nhâm ( Nhân ) :
    Lục nhâm đại độn là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn). Lục nhâm là 6 chữ Nhâm trong lục thập hoa giáp gồm: Nhâm Dần, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất và Nhâm Tý.Trong tam thức nếu như Thái Ất thiên về Thiên, Độn giáp thiên về Địa thì Lục nhâm chủ về Nhân và thường được sử dụng rộng rãi hơn trong cuộc sống.
    2/ Thái Ất ( Thiên ) :
    Thái Ất thần kinh hay Thái Ất là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn).
    Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực.
    Trong tam thức, Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người.
    Theo một số sách bói kinh điển, Thái Ất là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh đói rét bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn.
    3/ Độn Giáp ( Địa ) :
    Độn Giáp là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn). Có sách thêm hai chữ "Kỳ Môn" ở trước và có tên gọi là Kỳ Môn Độn giáp.
    Độn Giáp là môn tính toán căn cứ vào sự tiêu trưởng của Âm Dương để đặt ra những nguyên tắc và định lý quyết đoán sự diễn tiến cát hung của sự vật.
    Trong tam thức, nếu như Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất thì Độn Giáp, lại thiên về Địa, nó nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý, phong thủy đối với con người.
    Như vậy ta thấy rằng, khi nghiên cứu và thực hành phong thủy, nhất là phần Âm trạch - Mồ mả , Phong thủy sư phải rành rẽ các nguyên tắc của thuật Địa lý và phải thành thạo các môn : Thái Ất ( Thiên ) -Độn Giáp ( Địa ) - Lục Nhâm ( Nhân ). Người xưa có câu : " Trên thông Thiên văn - Dưới tường Địa lý - Giữa thông muôn loài " là vậy.
    Tại mộ phần có các loại Khí như sau :
    [​IMG]
    Thiên khí từ trên các hành tinh Mặt trăng, mặt Trời và các vì tinh tú giáng xuống thâm nhập vào hài cốt , Địa khí từ Long mạch chuyển đến , bốc từ dưới lên hòa quyện cùng Thiên khí , kết hợp với Nhân khí từ xương cốt trong mộ phần tạo nên năng lượng để kết Huyệt. Huyệt kết là kết quả của sự tương đồng giữa THIÊN KHÍ - NHÂN KHÍ - ĐỊA KHÍ. Theo thuyết hiện tượng cộng hưởng Hacmonic của GS.TS Nguyễn Hoàng Phương trong bài viết Tích hợp đa văn hóa Đông - Tây cho một chiến lược giáo dục mai sau: Sẽ xẩy ra hiện tượng cộng hưởng mà tần số này bằng n lần tần số kia . Hiện tượng cộng hưởng đó gọi là hiện tượng cộng hưởng Hacmônic. Theo các cụ hay nói: Đó là hiện tượng Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu. Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương: Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và thân xác người còn sống, nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều, nên trong lý thuyết về Nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.
    Khí Huyệt ( Đã bao gồm ; Thiên khí, Nhân Khí, Địa Khí ) sẽ cộng hưởng theo hình thái Huyết thống ( Cộng hưởng hacmonic ) tác động tới từng cá nhân trong dòng họ người chết . Đó chính là nguyên lý hoạt động của Khí trong Huyệt mộ mà sau nhiều năm nghiên cứu, dienbatn đã ngộ ra.
    Khi đặt hài cốt vào Huyệt mộ - Ứng với thời điểm của Tiết khí, phương vị của mộ , Năng lượng của cuộc đất , Phúc phận của dòng họ và của người chết ....ta sẽ có một bảng Mã cốt đặc trưng cho ngôi mộ đó , giống như một tấm giấy khai sinh của Huyệt mộ hay như một lá Tử vi của riêng Huyệt mộ đó. Từ đó, thông qua các kiến thức về Tam thức, Địa lý..., chúng ta hoàn toàn có thể đọc được quá trình vận hành tốt hay xấu của Huyệt mộ . Chúng ta có thể biết được sự thịnh suy , thời điểm thịnh suy, phương hướng thịnh suy, nhánh nào thịnh suy... của con cháu trong dòng họ đó .
    Ứng dụng Kỳ môn Độn Giáp vào việc xây cất mộ phần là một trong hàng trăm ứng dụng của môn học Kỳ môn Độn Giáp . Độn Giáp là môn tính toán căn cứ vào sự tiêu trưởng của Âm Dương để đặt ra những nguyên tắc và định lý quyết đoán sự diễn tiến cát hung của sự vật. Độn Giáp thiên về Địa, nó nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý, phong thủy đối với con người. Trong loạt bài này, dienbatn không đi sâu vào những kiến thức của Kỳ môn Độn Giáp mà đi thẳng vào việc ứng dụng Kỳ môn Độn Giáp trong việc xây cất mộ phần các dòng họ tại Việt Nam.
     
    #1
  2. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    MỘT CHÚT KIẾN THỨC VỀ KỲ MÔN ĐỘNG GIÁP.
    ( Trong phần này dienbatn sử dụng tư liệu trong cuốn Kim Hàm Ngọc Kính của Lưu Bá Ôn ,"透地奇门地理奥秘 -Thấu địa kì môn Địa lí áo bí . Hoàng Triêu Toàn . ( Trung hoa dân quốc thất thập ngũ niên tứ nguyệt tam nhật - Thai Loan dịch học quán quán chủ Hoàng hào phi long Triêu Toàn , trung chánh đại học giáo thụ hoàng giới lương đồng bổ thuật .)
    Thấu Địa kỳ môn tác giả VinhL , và một số tài liệu của huyenkhonglyso.com ).
    [​IMG]

    1/ KỲ MÔN.
    Kỳ môn được hợp bởi Kỳ và Môn.
    Kỳ để chỉ Tam kỳ: Ất - Bính - Đinh. Trong đó theo quan niệm người xưa : Mặt trời sinh từ Ất . Mặt trăng sinh từ Bính . các tinh tú sinh ra từ Đinh . ( Ất - Bính - Đinh = Nhật - Nguyệt - Tinh ).
    Trong Kỳ môn độn giáp , Tam kỳ được phân bố trên Thiên bàn và Địa bàn . Phương hướng gặp Tam kỳ là phương cát lợi .
    Ngoài Tam kỳ còn có Lục nghi : Mậu, Kỷ, Canh, Tân , Nhâm, Quý . Lục nghi này cũng được phân bố trên Thiên bàn và Địa bàn và chuyển vận phụ thuộc vào Thiên bàn và Địa bàn.
    Môn : Chỉ Bát môn Hưu- Sinh - Thương - Đỗ - Cảnh - Tử - Kinh - Khai . Bát môn phụ thuộc vào thời gian mà chuyển vận.
    Tam kỳ phối hợp với Bát môn gọi là Kỳ môn.
    2/ ĐỘN GIÁP.
    Độn có nghĩa là ẩn tàng , Giáp là Thiên can đầu tiên . Giáp Mộc sợ gặp phải Canh Kim nên phải ẩn đi để tránh bị khắc. Một cách lý giải khác là : "Độn" trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là ẩn đi, Giáp là mã đầu trong hệ thập can, một hệ mã long cốt mang tính cơ sở đo đếm thiên, địa, nhân. Các học giả cho rằng Can giáp đứng đầu trong các Can nay ẩn nó thì thì " Cát". Được rút ra theo ý nghĩa của hào dụng cửu quẻ Càn " Quần long vô thủ cát" - Nghĩa là bày rồng không đầu cát. Tại sao lại như vậy, trong sách dịch nói rồng tượng trưng cho người có tài có đức, cùng hợp tác với nhau mà không có người đứng đầu. Phải chăng câu quân long vô thủ cát ứng với trường hợp 1 và dịch lý cho rằng cát.
    Học thuyết độn giáp được hình thành trên cơ sở của các mô hình : Tam tài ( Thiên địa nhân), Can chi, âm dương ngũ hành. Tiên thiên bát quái , hậu thiên bát quái, cửu cung phi tinh. Hiện nay có nhiều trường phái độn giáp được phát triển ở Trung Hoa lục địa và rực rỡ ở Đài Loan. Nhưng thông dụng nhất vẫn là Thời gia kỳ môn học, sau đó phải kể đến niên gia kỳ môn học, nguyệt gia kỳ môn học, nhật gia kỳ môn học.

    [​IMG]

    Trong 60 hoa Giáp ( Lục thập hoa Giáp ) có 6 Giáp được gọi là Thiên Ất quý nhân. Khi tiến hành độn Giáp thì :
    * Giáp Tý ẩn dưới 6 Mậu ( Mậu Tý - Mậu Dần - Mậu Thìn - Mậu Ngọ - Mậu Thân - Mậu Tuất ).
    * Giáp Tuất ẩn dưới 6 Kỷ ( Kỷ Sửu - Kỷ Mão - Kỷ Tị - Kỷ Mùi - Kỷ Dậu - Kỷ Hợi ).
    * Giáp Thân ẩn dưới 6 Canh ( Canh Tý - Canh Dần - Canh Thìn - Canh Ngọ - Canh Thân - Canh Tuất ).
    * Giáp Ngọ ẩn dưới 6 Tân ( Tân Sửu - Tân Mão - Tân Tị - Tân Mùi - Tân Dậu - Tân Hợi ).
    * Giáp Thìn ẩn dưới 6 Nhâm ( Nhâm Tý - Nhâm Dần - Nhâm Thìn - Nhâm Ngọ - Nhâm Thân - Nhâm Tuất ).
    * Giáp Dần ẩn dưới 6 Quý ( Quý Sửu - Quý Mão - Quý Tị - Quý Mùi - Quý Dậu - Quý Hợi ).
    Trong Kỳ môn , đem 6 Giáp phân bố vào Cửu cung thì cung đầu tiên là Giáp Tý , tiếp theo là các cung Giáp Tuất- Giáp Thân - Giáp Ngọ - Giáp Thìn và cuối cùng là Giáp Dần.

    [​IMG]
    ( Có tài liệu viết : Tam kỳ Ất Bính Đinh là 2, 3, 4
    2+3+4 = 9 cửu cung
    9x2 = 18 cục âm dương
    2x3x4 = 24 tiết khí
    Âm dương hai độn trãi bày 24 tiết khí
    Lấy Giáp mà thống lảnh 6 nghi chính là theo 1-6 Hà đồ
    Lấy 24 tiết bày 8 quái là 3x8 = chính là 3-8 Hà đồ.
    Lục Nghi 5,6,7,8,9,10
    5+6+7+8+9+10 = 45
    45 x 8 = 360 đó là Lục nghi bày 8 tiết (tức 8 quái mỗi quái là một tiết gồm 3 tiết khí = 24 tiết khí) mà thành 1 Chu thiên vậy.)
    Như vậy ta thấy rằng :
    KỲ MÔN ĐỘN GIÁP = TAM KỲ + BÁT MÔN + ĐỘN GIÁP.
    3/ THỨC BÀN KỲ MÔN ĐỘN GIÁP.
    Thức bàn Kỳ môn độn giáp được hình thành từ 4 vòng tròn đồng tâm từ lớn đến nhỏ. Mỗi vòng tròn chia làm 8 phần bằng nhau , mỗi phần là 45 độ. Bàn trên cùng chia làm hai mặt âm - dương có thể thay đổi.Trong thức bàn Kỳ môn độn giáp từ trong ra ngoài lần lượt sẽ là : Thần bàn - Nhân bàn - Nhân bàn - Địa bàn. Căn cứ cấu tạo như vậy người ta có thể chế tạo thức bàn Kỳ môn độn giáp sử dụng khá thuận tiên.

    [​IMG]

    [​IMG]

    1. ĐỊA BÀN :
    Địa bàn dựa trên Hậu Thiên Bát quái : Phía Bắc là Khảm -, Đông Bắc là Cấn - 8 , Đông là Chấn - 3 , Đông Nam là Tốn - 4 , Nam là Ly - 7, Tây Nam là Khôn - 2, Tây là Đoài - 7 , Tây Bắc là Càn - 6. Trung cung - 5.
    Trong Địa bàn , bắt đầu từ cung Khảm xếp theo thứ tự thuần chiều kim đồng hồ : KHẢM - CẤN - CHẤN - TỐN - LY - KHÔN - ĐOÀI - CÀN . Theo thứ tự đó bắt đầu từ cung Khảm xếp Cửu tinh : BỒNG - NHẬM - XUNG - PHỤ - ANH - NHUẾ- TRỤ - TÂM - CẦM . ( Riêng sao CẦM gửi vào trung cung . Nếu là Dương độn gửi vào cung KHÔN, nếu là Âm độn gửi vào cung CẤN ).
    Ngoài ra cũng bắt đầu từ cung Khảm theo chiều kim đồng hồ lần lượt xếp BÁT MÔN : HƯU - SINH - THƯƠNG - ĐỖ - CẢNH - TỬ - KINH - KHAI .
    2. THIÊN BÀN :
    Thiên bàn tương tự như Địa bàn . Cũng từ cung Khảm 1 , thuận theo chiều kim đồng hồ xếp CỬU TINH : BỒNG - NHÂM - XUNG - PHỤ - ANH - NHUẾ - TRỤ - TÂM - CẦM .
    Phương pháp chuyển động Cửu tinh trên Thiên bàn là Trực Phù chuyển động theo CAN.
    3. NHÂN BÀN.
    Trên Nhân bàn cũng từ cung Khảm - 1 thuận theo chiều kim đồng hồ xếp BÁT MÔN : HƯU - SINH - THƯƠNG - ĐỖ - CẢNH - TỬ - KINH - KHAI .
    Bát môn Nhân bàn là Trực Sử chuyển động theo CHI.
    4/ THẦN BÀN :
    Thần bàn còn gọi là Bát trá môn bàn theo 2 cục ÂM và DƯƠNG.
    CỤC DƯƠNG : Bắt đầu từ TRỰC PHÙ theo chiều thuận kim đồng hồ xếp BÁT THẦN :
    TRỰC PHÙ - ĐẰNG XÀ - THÁI ÂM - LỤC HỢP - CÂU TRẦN - CHU TƯỚC - CỬU ĐỊA - CỬU THIÊN .
    CỤC ÂM : Cũng bắt đầu từ TRỰC PHÙ theo chiều nghịch kim đồng hồ xếp BÁT THẦN :
    TRỰC PHÙ - ĐẰNG XÀ - THÁI ÂM - LỤC HỢP - BẠCH HỔ - HUYỀN VŨ - CỬU ĐỊA - CỬU THIÊN .
    Phương pháp chuyển động Thần bàn theo phương vị Trực phù trên Thiên bàn.
    4/ CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN TRONG THỨC BÀN KỲ MÔN ĐỘN GIÁP.
    1/ TUẦN ĐẦU VÀ PHÙ ĐẦU.
    10 Can kết hợp với 12 Chi cho ta 60 Hoa Giáp:
    Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu
    Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi
    Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ
    Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão
    Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu
    Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi
    60 Hoa Giáp Can Chi có 6 con Giáp đứng đầu. Mỗi Giáp có 10 Can Chi, nên gọi là 1 tuần (tuần Giáp), con Giáp đứng đầu gọi là Tuần Đầu.
    Trong 10 Can, thì can lẻ tức là Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là dương, can chẳn Ất Đinh Kỷ Tân Quý là âm.
    Tương tự trong 12 chi, thì chi lẻ là Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất là dương, chi chẳn là Sửu Mão Tỵ Mùi Dậu Hợi là âm.
    Trong 60 Hoa Giáp, Can Chi kết hợp dương can và dương chi, âm can và âm chi, không có trường hợp âm dương lẫn lộn.

    [​IMG]
    1.Nhìn trong bảng ngày cần tra là các ngày trong tuần - Tuần đầu là ngày chữ đỏ.
    2. Phù đầu : Từ Tuần đầu đếm tới Long nhập thủ , nếu tới Can Kỷ thì chính là Phù đầu Nếu đếm từ Tuần đầu tới Long nhập thủ chưa tới Kỷ, thì Tuần Đầu Giáp cũng chính là Phù đầu.
    2/ BÁT MÔN.
    1. Bát môn bao gồm: Hưu, thương, đỗ, cảnh, tử, kinh, khai, sinh. Trong đó phân ra tính cát hung mang tính tổng quátt như sau :
    Hưu, Khai, sinh: Cát môn
    Cảnh : trung tính, có trường phái cho rằng cảnh là Cát mộn
    Kinh, thương, tử : Môn hung.
    2. Bát Môn phối với các cung như sau:
    Khảm – Hưu
    Khôn - Tử
    Chấn – Thương
    Tốn - Đổ
    Trung – Vô Môn
    Càn – Khai
    Đoài – Kinh
    Cấn – Sinh
    Ly - Cảnh
    3. Ca quyết dùng Bát môn:
    Dục cầu tài lợi vãng Sinh phương ,
    Táng liệp tu tri Tử lộ cường.
    Chinh chiến , viễn hành Khai môn cát.
    Hưu môn kiến quý Tối vi lương.
    Kinh môn quan tụng thị phi đa.
    Đỗ môn vô sự hảo đào tàng.
    Thương môn bác đấu năng tróc tặc,
    Cảnh môn ẩm tửu hảo tư lượng.
    4. ĐẶC TÍNH BÁT MÔN.
    * Khai Môn : Tọa cung Càn - 6 - Tây Bắc - Ngũ hành thuộc Kim.
    Khai môn tọa tại cung Càn là Phục ngâm , tọa tại cung Tốn là Phản ngâm , tọa tại cung Cấn là Nhập mộ , tọa tại cung Ly là bị chế phục, tọa tại cung Khôn là đại cát, tọa tại cung Đoài là Vượng tướng, tọa tại cung Khảm là cát lợi, tọa tại cung Chấn là bức bách.
    * Hưu môn : Tọa tại cung Khảm - 1- Chính Bắc - Ngũ hành thuộc Thủy.
    Hưu môn tọa tại cung Khảm là Phục ngâm , tọa tại cung Ly là Phản ngâm , tọa tại cung Tốn là Nhập mộ , tọa tại cung Khôn và Chấn là bị chế phục, tọa tại cung Càn và Đoài là đại cát, tọa tại cung Chấn là cát lợi .
    * Sinh môn : Tọa tại cung Cấn -8 - Đông Bắc - Ngũ hành THổ.
    Sinh môn tọa tại cung Cấn là Phục ngâm , tọa tại cung Khôn là Phản ngâm , tọa tại cung Tốn là Nhập mộ , tọa tại cung Chấn là bị chế phục, tọa tại cung Ly là đại cát, tọa tại cung Càn, Đoài là thứ cát , tọa tại cung Khảm là bức bách.
    * Thương môn : Tọa tại cung Chấn - 3 - Chính Đông - Ngũ hành thuộc Mộc.
    Thượng môn : Tọa tại cung Chấn là Phục ngâm , tọa tại cung Đoài là Phản ngâm , tọa tại cung Khôn là nhập mộ , tọa tại cung Khảm là sinh vượng, tọa tại cung Càn bị khắc chế, tọa tại cung Cấn là bức bách , đại hung.
    * Đỗ môn : Tọa tại cung Tốn - 4- Đông Nam - Ngũ hành thuộc Mộc.
    Đỗ môn : Tọa tại cung Tốn là Phục ngâm , tọa tại cung Càn là Phản ngâm , tọa tại cung Khôn là nhập mộ , tọa tại cung Khảm là sinh vượng, tọa cung Chấn hài hòa, tọa tại cung Đoài bị khắc chế, tọa cung Ly bị tiết khí , tọa tại cung Cấn là bức bách , đại hung.
    * Cảnh môn ; Tọa tại cung Ly - 9 - Chính Nam - Ngũ hành thuộc Hỏa.
    Cảnh môn tọa cung Ly là Phục ngâm , tọa tại cung Khảm là Phản ngâm , tọa cung Càn là Nhập mộ, tọa cung Đoài là bị bức bách, tọa tại cung Chấn và Tốn được sinh vượng , tọa tại cung Khôn và Cấn được sinh.
    * Tử môn : Tọa tại cung Khôn - 2 - Tây Nam - Ngũ hành thuộc Thổ.
    Tử môn tọa tại cung Khôn là Phục ngâm, tọa tại cung Cấn là Phản ngâm , tọa tại cung Tốn là nhập mộ, tọa tại cung Chấn là bị khắc, tọa tại cung Ly là sinh vượng, tọa tại cung Khảm là bị bức bách, tọa tại cung Càn và Đoài bị tiết khí.
    * Kinh môn : Tọa tại cung Đoài - 7 - Chính Tây - Ngũ hành thuộc Kim.
    Kinh môn tọa tại cung Đoài là Phục ngâm , tọa tại cung Chấn là Phản ngâm , tọa tại cung Cấn là Nhập mộ, tọa tại cung Ly là bị khắc chế, tọa tại cung Tốn là bị bức bách, tọa tại cung Khảm là bị tiết khí, tọa tại cung Càn là hài hòa.
    Trong Kỳ môn độn giáp, Bát môn chuyển động theo cửa đương trực , tức là chuyển động theo Trực Sử , sau đó căn cứ vào phương vị Bát môn tọa lạc, tương ứng với Cửu tinh, Tam Kỳ, Lục nghi , Cung vị để xác định cát hung.
    3/ CỬU TINH .
    Gồm : Thiên Bồng,Thiên Nhậm, Thiên Xung, Thiên Phù, Thiên Anh, Thiên Nhuế, , Thiên Cầm , Thiên Trụ, Thiên Tâm .
    Hung tinh :Xung, Bồng , Nhuế, Trụ
    Cát tinh :Tâm, Nhậm, Cầm, Phụ.
    Anh thứ cát .
    Thứ tự từ Khảm đi thuận theo chiều kim đồng hồ là Bồng - Nhậm - Xung - Phụ - Anh - Nhuế - Trụ - Tâm - Cầm.
    Theo Thấu Địa Kỳ Môn thì Dương Độn Thiên Cầm ký cung Khôn, Âm Độn ký cung Cấn.
    * Thiên Bồng ứng với cung Khảm - Phương Bắc - Là sao dương - Ngũ hành thuộc Thủy.
    * Thiên Nhậm ứng với cung Cấn - Đông Bắc - Là sao Âm - Ngũ hành thuộc Thổ.
    * Thiên Xung ứng với cung Chấn - Chính Đông - Là sao Dương - Ngũ hành thuộc Mộc.
    * Thiên Phù ứng với cung Tốn - Đông Nam - Là sao Âm - Ngũ hành thuộc Mộc.
    * Thiên Anh ứng với cung Ly - Chính Nam - Là sao Dương - Ngũ hành thuộc Hỏa.
    * Thiên Nhuế ứng với cung Khôn - Tây Nam - Là sao Âm - Ngũ hành thuộc Thổ.
    * Thiên Trụ ứng với cung Đoài - Chính Tây - Là sao Dương - Ngũ hành thuộc Kim.
    * Thiên Tâm ứng với cung Càn - Tây Bắc - là sao Âm - Ngũ hành thuộc Kim.
    * Thiên Cầm ứng với trung cung - Là sao Dương - Ngũ hành thuộc Thổ .

    [​IMG]
    4/ BÁT THẦN .
    Bát Thần trong Kỳ Môn là Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trận (Bạch Hổ), Chu Tước (Huyền Vũ), Cửu Địa, Cửu Thiên. ( Thực ra là Cửu Thần ).
    Vòng Bát Thần này có hai cách an, một là theo Thiên Bàn, hai là theo Địa Bàn. Sách Hán văn thì có quyển an theo Địa bàn, có quyển an theo Thiên bàn. Còn các sách Việt thì đều an theo thiên bàn cả.Cho nên ta dùng cách Thiên bàn .Đa số thì dùng Thiên Bàn. Trong loạt bài này Bát Thần được xếp ở Thần bàn .

    [​IMG]
    [​IMG]

    LUẬN BÁT THẦN.
    1/ Trực Phù là đầu của các thần (chư thần chi nguyên thủ), là cổ cánh (linh tu) của sao. Vì thế mà gọi là Trực phù. Thể Thần thuộc Hỏa. Nơi nào thần đến thì trăm ác tiêu tan, mọi hung biến hết Là thần rất cát. Thái bạch kim tinh kỵ vào Mộ. Gặp vậy ở nơi cát thì không cát, ở nơi hung càng hung. Trời khởi từ Giáp, Đất khởi từ Tí cho nên gọi là bậc Tôn của muôn nhóm . Giáp Tí là 6 giáp ở trong, cho nên gọi tên là Trực Phù.
    2/ Cửu Thiên (Chín trời): là Kiền kim.Thể này thuộc kim. Kiền nạp Giáp Nhâm, tính cương mà ưa động. Chủ những việc gọi đúng lời xuôi (danh chính ngôn thuận), gặp đúng lệnh thì không gì trở ngại, là thần rất cát. Nếu được Cửa được Kỳ thì vạn phúc gom vào. Ví không được Kỳ thì cũng không hung. Sợ vào Mộ thì sức yếu đi. Trời bắt đầu từ Giáp, từ Giáp đến Nhâm (bản nguyên viết là Thìn), Số được 9 cho nên gọi là Cửu thiên.
    3/ Cửu Địa (Chín đất): là thể Khôn. Thần này ưa tĩnh. Chủ các việc mềm dẻo, kính cẩn bề ngoài, lại nắm quyền sinh sát. Là thần nửa hung, nửa cát. Sợ khắc chế, kỵ vào Mộ. Xuân Hạ thì sinh. Thu Đông thì giết. Giữ quyền hành bà Hậu nội cung vua. Khôn nạp Ất và Quý. Từ Ất đến Quý được số 9 cho nên gọi tên là Cửu địa. Nói đến Ất sửu là có 6 Ất ở trong vậy.
    4/Chu tước (Sẻ non): là thần Hỏa phương Nam, quản cỏ khắp đồng ruộng của vùng trời. Nắm giữ quyền văn minh, tấu đối, miệng lưỡi, giữ chức vụ văn thư. Được đất (đắc địa = ở nơi tốt không có trở ngại) thì có mừng về văn thư ấn tín. Không được thời thì tai tiếng cãi cọ, nhiễu loạn, cát hung như vậy. Ngôi ở Bính. Bính nạp Cấn thổ, vượng tướng ở Ly. Ở trời là Thần chim đỏ (Xích Điểu chi thần) thuộc Bính hỏa. Nói đến Bính Dần là có 6 Bính ở trong cho nên gọi là Chu tước.
    5/ Đằng xà (rắn vọt): là khí Đinh Hỏa, mà thực ra thì thuộc âm Thổ. Đoài nạp ở Đinh Tị. Thần này tính mềm dẻo mà miệng độc. Chuyên giữ các việc sợ hãi, quái lạ, lửa yêu, cổ quái. Ngôi trấn phương Tốn. Còn tên là Ngọc Nữ. Độn can là thần 6 Đinh, 6 Giáp, tức là thần âm rất lệnh. Nói đến Đinh Mão là có sáu Đinh ở trong vậy.
    6/ Câu trận (móc câu): là Thổ dương ở trung ương. Thần này tính ngoan, ngạnh. Giữ các việc đất cát, kiện cáo. Từ Giáp đến Mậu số được 5. Từ Tí đến Thìn số cũng được 5. Cấn nạp Bính, Khảm nạp Mậu, phối ở Đông nam. Kinh nói: “ Biết ba, tránh năm” là khí hung ác giả dối (hung ngoan chi khí), không nên tới. Ngồi trấn ở Cấn, cho nên gọi tên là Câu trận. (Lánh 5 là 5 can phần Âm: Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 5 cửa hung là Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh).
    7/ Lục hợp (Sáu hợp): là khí hóa của Giáp mộc, là Mộc âm ở phần Đông. Thần này tính hòa bình, chuyên giữ các việc về hôn nhân, giao dịch, manh mối, hòa hợp. Làm em gái của sáu Giáp, gả cho Canh kim là vợ. Có thai với Canh, rồi trở về nhà. Ngôi trấn phương Đông. Chấn nạp Canh. Từ Giáp đến Kỷ số được 6 cho nên gọi tên là Lục hợp.
    8/ Bạch Hổ (hổ trắng): là Canh kim. Oai thống phương Tây. Thần này ưa giết, chuyên giữ các việc binh qua, sát phạt, tranh đấu, tật bệnh, chết chôn, đường xá. Kỷ nạp ở Canh Kim. Tốn là Phong (gió). Phong theo ngôi Hổ. Trấn ở phương Tây. Từ Giáp đến Canh số được 7 cho nên gọi là Bạch Hổ.
    9 / Huyền Vũ (Rùa xám): là tinh của nước. Thống giữ khí phương Bắc. Thần này ưa âm mưu làm hại, chuyên giữ các việc trộm cắp, trốn chạy. Nước thì sắc đen, được đất vàng (hoàng thổ) ở trung ương mà thành cho nên gọi là Huyền Vũ.
    5/ KỲ TỬ.
    Ngoài 4 bàn : Thiên Bàn - Địa Bàn - Nhân Bàn - Thần Bàn ở phần trên, trong Kỳ môn độn giáp còn sử dụng 2 bộ Kỳ tử. Hai bộ đó chính là Tam Kỳ và Lục Nghi . Một bộ đặt trên Địa Bàn, một bộ đặt trên Thiên Bàn , mỗi bộ Kỳ tử tổng cộng có 9 hạt, 2 bộ tổng cộng có 16 hạt.
    Trong ứng dụng thực tế, Địa bàn đứng yên không chuyển động, Thiên bàn, Nhân bàn và Thần bàn chuyển động theo một quy luật sẽ nói ở phần sau . Như vậy tại thời điểm nhất định ( Khi dùng làm mộ phần ta thay thế thời điểm bằng 60 Long nhập thủ ), khi Thiên bàn, Nhân bàn và Thần bàn chuyển động , sẽ tạo ra một cục thế cụ thể . Thông qua việc phân tích các mối quan hệ : Âm - Dương - Ngũ hành, cách sắp xếp Cửu tinh, Bát môn, Bát Thần và Kỳ tử ta sẽ biết được cát hung của mộ phần và có hướng bổ trợ cho phần mộ đó .
     
    #2
  3. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    MỘT CHÚT KIẾN THỨC VỀ KỲ MÔN ĐỘNG GIÁP.

    ( Trong phần này dienbatn sử dụng tư liệu trong cuốn Kim Hàm Ngọc Kính của Lưu Bá Ôn ,"透地奇门地理奥秘 -Thấu địa kì môn Địa lí áo bí . Hoàng Triêu Toàn . ( Trung hoa dân quốc thất thập ngũ niên tứ nguyệt tam nhật - Thai Loan dịch học quán quán chủ Hoàng hào phi long Triêu Toàn , trung chánh đại học giáo thụ hoàng giới lương đồng bổ thuật .)
    Thấu Địa kỳ môn tác giả VinhL , và một số tài liệu của huyenkhonglyso.com ).

    [​IMG]


    ( "透地奇门地理奥秘 -Thấu địa kì môn Địa lí áo bí . Hoàng Triêu Toàn . ( Trung hoa dân quốc thất thập ngũ niên tứ nguyệt tam nhật - Thai Loan dịch học quán quán chủ Hoàng hào phi long Triêu Toàn , trung chánh đại học giáo thụ hoàng giới lương đồng bổ thuật .)

    THẤU ĐỊA KỲ MÔN.
    Môn "Thấu Địa Kỳ Môn" này kết hợp Kỳ Môn Độn Giáp, Lục Hào, 28 Tú Thất Ngươn Cầm Thất Chính vào 60 Long Thấu Địa để tìm các phương vị về Tử Phụ Tài Quan Huynh, Lộc Mã Quý Nhân, Tứ Kiết (Nhật Nguyệt Kim Thủy trong Thất Chánh), Tam Kỳ Bát Môn. Thật là một môn độc đáo.
    Trong quyển "La Kinh Thấu Giải" có nói đến các phần này, nhưng thật sự mà nói, rất ít ai thấu triệt được, bỡi gì kiến thức cơ bản quan trọng để diễn bày các cục chính là Kỳ Môn.
    1. CAN CHI.
    Trong Kỳ Môn 9 Thiên Tinh bày theo Can, và 8 Cửa bày theo Chi.
    Cổ nhân gọi Kỳ Môn Độn Giáp bởi vì Can có 10 mà chỉ thấy có 9, 6 con Giáp đều ẩn tàng (độn) tại 6 con Nghi, cho nên gọi là Độn Giáp vậy.
    10 thiên Can: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý.
    Ất Bính Đinh: gọi là Tam Kỳ
    Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý: gọi là Lục Nghi
    Giáp thì ẩn vào 6 nghi như sau:
    Giáp Tý ẩn tại nghi (Can) Mậu
    Giáp Tuất ẩn tại nghi Kỷ
    Giáp Thân ẩn tại nghi Canh
    Giáp Ngọ ẩn tại nghi Tân
    Giáp Thìn ẩn tại nghi Nhâm
    Giáp Dần ẩn tại nghi Quý
    10 Can kết hợp với 12 Chi cho ta 60 Hoa Giáp:
    Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu
    Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi
    Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ
    Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão
    Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu
    Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi
    60 Hoa Giáp Can Chi có 6 con Giáp đứng đầu. Mỗi Giáp có 10 Can Chi, nên gọi là 1 tuần (tuần Giáp),con Giáp đứng đầu gọi là Tuần Đầu.
    Như Ất Hợi thì thuộc Giáp Tuất, cho nên Tuần Đầu của Ất Hợi là Giáp Tuất vậy.
    Như Nhâm Tý thì thuộc Giáp Thìn, cho nên Tuần Đầu của Nhâm Tý là Giáp Thìn.
    2. Cách tính Tuần Đầu của Can Chi.
    Khi ta muốn tìm tuần đầu của một cập Can Chi nào đó, ta bắt đầu từ Can Chi đó đếm đến Can Quý, sau đó bỏ hai Chi, Chi tới chính là con Giáp Tuần Đầu.
    Như tìm Tuần Đầu cho Mậu Thân, ta đếm Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, đây là Can Quý, Can chi tới là Giáp Dần, và Ất Mão bỏ, ta lấy chi Thìn tức là Giáp Thìn. Tuần đầu của Mậu Thân là Giáp Thìn.
    Tìm Tuần đầu cho Ất Hợi, ta đếm Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, đây là Can Quý, bỏ hai can chi tới (Giáp Thân, Ất Dậu), sau đó là chi Tuất, vậy Giáp Tuất là tuần đầu của Ất Hợi.
    Trong 10 Can, thì Can lẻ tức là Giáp Bính Mậu Canh Nhâm là dương, Can chẵn Ất Đinh Kỷ Tân Quý là âm.
    Tương tự trong 12 Chi, thì Chi lẻ là Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất là dương, chi chẵn là Sửu Mão Tỵ Mùi Dậu Hợi là âm.
    Trong 60 Hoa Giáp, Can Chi kết hợp dương Can và dương Chi, âm Can và âm Chi, không có trường hợp âm dương lẫn lộn.
    3. Phù Đầu.
    Chúng ta đã biết qua Tuần Đầu , nay chúng ta nói đến Phù Đầu.
    Theo thời gia Kỳ Môn, túc dùng Can Chi giờ để bày quẻ Kỳ Môn thì 60 giờ Can Chi là một nguyên.
    Một ngày theo âm lịch thì có 12 giờ Can Chi, như vậy 5 ngày có tổng cộng 60 giờ .
    Tam nguyên tức có 180 giờ, tức 15 ngày. 5 ngày còn gọi là một hầu.
    Một năm có 24 tiết khí, theo âm lịch thì lấy 360 làm mốc (dĩ nhiên thiếu đi hơn 5 ngày nên có năm phải nhuận 1 tháng). 360 ngày chia 24 tiết khí, cho nên mỗi tiết khí có 15 ngày (dĩ nhiên cũng chỉ là mốc, vì thực tế tiết khí có khi đến sớm hoặc đến muộn nên Kỳ môn mới có phép siêu thần tiếp khí và phép nhuận).
    180 giờ (Can Chi) chia làm Tam nguyên ( Thượng nguyên, Trung nguyên, và Hạ nguyên ), mỗi nguyên 60 giờ (hoặc Can Chi).
    Như vậy 5 ngày là một nguyên, nếu ta lấy mốc Giáp Tý khởi Thượng nguyên, thì sau 5 ngày (60 giờ), sẽ là Trung nguyên Kỷ Tỵ, lại sau 5 ngày (60 giờ) nửa là Hạ nguyên Giáp Tuất.
    Nếu ta tuần tự đi hết 60 can chi, thì ta sẻ có bảng sau:
    ThNguyên Giáp Tý, TrNguyên Kỷ Tỵ, HạNguyên Giáp Tuất
    ThNguyên Kỷ Mão, TrNguyên Giáp Thân, HạNguyên Kỷ Sửu
    ThNguyên Giáp Ngọ, TrNguyên Kỷ Hợi, HạNguyên Giáp Thìn
    ThNguyên Kỷ Dậu, TrNguyên Giáp Dần, HạNguyên Kỷ Mùi
    ThNguyên GiápTý, . . .
    Sau đó sẽ lập lại y vậy. Từ sự liệt kê trên, ta thấy rằng:
    Thượng nguyên thì Giáp Kỷ kết hợp với Tý, Ngọ, Mão, Dậu
    Trung nguyên thì Giáp Kỷ kết hợp với Dần, Thân, Tỵ, Hợi
    Hạ nguyên thì Giáp Kỷ kết hợp với Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
    Tuần Đầu đều khởi Giáp (1 tuần 10 ngày, hay Can Chi, từ Giáp đến Quý)
    Nhưng Phù Đầu là ám chỉ đến 5 ngày 60 giờ, để biết ngày đó thuộc Thượng Trung hay Hạ nguyên của tiết khí, vì một tiết khí có 15 ngày, tức 3 hầu, cũng là Thượng Trung Hạ nguyên 60x3 = 180 giờ Can Chi.
    Thí dụ như Nhâm Tuất .
    Theo phép tính nhẩm Tuần Đầu thì
    Nhâm Tuất, Quý Hợi, bỏ Giáp Tý, Ất Sửu, tới chi Dần, như vậy Nhâm Tuất có Tuần Đầu là Giáp Dần, vậy Phù Đầu là gì?
    Từ Giáp Dần, ta đếm, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, ta thấy đếm qua can Kỷ, đây chính là Phù Đầu.
    Ta thấu rằng Kỷ kết hợp với Thìn Tuất Sửu Mùi, tức ta biết Nhâm Tuất thuộc về Hạ Nguyên của tiết khí vậy.
    Thí dụ Mậu Tý .
    Theo phép tính nhẩm thì
    Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, bỏ Giáp Ngọ, Ất Mùi, chi kế là Thân, vậy Mậu Tý thuộc tuần Giáp Thân (tức Tuần Đầu là Giáp Thân), vậy Phù Đầu là gì?
    Ta lại khởi Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, ta thấy rằng không có can Kỷ nào tức Giáp Thân củng chính là Phù Đầu vậy. Tức là Giáp Thần vừa là Tuần Đầu, vừa là Phù Đầu.
    Giáp Kỷ kết hợp với Tý Ngọ Mão Dậu thuộc về Thượng Nguyên, như vậy ta biết Mậu Tý nằm trong thượng nguyên của tiết khí.
    Phép tìm Phù Đầu
    Khởi từ Tuần Đầu đếm tới Can Chi, nếu qua Can Kỷ thì đây là Phù đầu, nếu không đi qua Kỷ thì Giáp cũng chính là Phù đầu.
    Sau đó xem Giáp Kỷ kết hợp với Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Thượng nguyên, nếu kết hợp với Dần, Thân, Tỵ, Hợi, thì là Trung nguyên, kết hợp với Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì là Hạ nguyên.

    4/ Theo phép khởi Trường sinh:

    [​IMG]

    Dần Thân Tỵ Hợi đều là chở khởi Trường Sinh, nên còn được gọi là Tứ Sinh,
    Tý Ngọ Mão Dậu đều là nơi Đế Vượng nên còn được gọi là Tứ Vượng, Thìn Tuất Sửu Mùi đều là nơi Mộ nên còn được gọi là Tứ Mộ.
    Theo 4 mùa, thì mỗi mùa có 3 tháng, tháng đầu của mùa thì gọi là Mạnh, giữa mùa thì gọi là Trọng, cuối mùa thì gọi là Quý. Mùa xuân bắt đầu tiết Lập Xuân tháng giêng Kiến Dần, qua Dần Mão Thìn 3 tháng thì tới mùa Hạ, tháng Tỵ Ngọ Mùi, lại tới mùa Thu tháng Thân Dậu Tuất, và mùa Đông tháng Hợi Tý Sửu.
    Như vậy:
    Xuân: Dần, Mão, Thìn
    Hạ: Tỵ, Ngọ, Mùi
    Thu: Thân, Dậu, Tuất
    Đông: Hợi, Tý, Sửu
    Vì vậy cho nên
    Dần Thân Tỵ Hợi còn được gọi là Tứ Mạnh
    Tý Ngọ Mão Dậu còn được gọi là Tứ Trọng
    Thìn Tuất Sửu Mùi còn được gọi là Tứ Quý.
    5. Tiết Khí .
    Khi tính xem Can Chi ngày thuộc Thượng Trung Hạ Nguyên của Tiết Khí thì chỉ lấy Phù Đầu mà tính, không phải lấy Tuần Đầu. Dĩ nhiên có rất nhiều Tuần Đầu của Can Chi củng chính là Phù Đầu, trường hợp này chính là 5 ngày đầu của một tuần Giáp (tại chưa tới Kỷ, nên Tuần Đầu Giáp củng chính là Phù Đầu). 5 ngày sau của tuần Giáp thì có can Kỷ là Phù Đầu.
    Ta biết trái đất xoay quanh mặt trời, 1 vòng 360 độ là 1 năm. Đem 360 / 24 = 15 độ.
    Cho nên mỗi tiết khí là 15 kinh độ mặt trời (Sun Longitude)
    Tiết khí căn cứ vào kinh độ của mặt trời cho nên các điểm móc này không thay đổi, tức là tiết Lập Xuân thì lúc nào củng là 315 kinh độ mặt trời.
    Tiết khí âm lịch bắt đầu từ tiết Đông Chí.
    Dưới đây là bản liệt kê tiết khí, kinh độ mặt trời, và các ngày Dương Lịch mà tiết khí thường bắt đầu.
    Đông Chí (Winter Solstice), 270 độ, 22 Tháng 12 DL
    Tiểu Hàn, 285 độ, 6 Tháng 1 DL
    Đại Hàn, 300 độ, 10 Tháng 1 DL
    Lập Xuân, 315 độ, 4 Tháng 2 DL
    Vũ Thũy, 330 độ, 19 Tháng 2 DL
    Kinh Chập 345 độ, 6 Tháng 3 DL
    Xuân Phân (Spring Equinox), 0 độ, 21 Tháng 3
    Thanh Minh, 15 độ, 5 Tháng 4 DL
    Cốc Vũ, 30 độ, 20 Tháng 4 DL
    Lập Hạ, 45 độ, 6 Tháng 5 DL
    Tiểu Mãn, 60 độ, 21 Tháng 5 DL
    Mang Chủng, 75 độ, 6 Tháng 6 DL
    Hạ Chí (Summer Solstice), 90 độ, 21 Tháng 6 DL
    Tiểu Thử, 105 độ, 7 Tháng 7 DL
    Đại Thử, 120 độ, 23 Tháng 7 DL
    Lập Thu, 135 độ, 8 Tháng 8 DL
    Xử Thử, 150 độ, 23 Tháng 8 DL
    Bạch Lộ, 165 độ, 8 Tháng 9 DL
    Thu Phân (Autum Equinox), 180 độ, 23 Tháng 9 DL
    Hàn Lộ, 195 độ, 8 Tháng 10 DL
    Sương Giáng, 210 độ, 24 Tháng 10 DL
    Lập Đông, 225 độ, 8 Tháng 11 DL
    Tiểu Tuyết, 240 độ, 22 Tháng 11 DL
    Đại Tuyết, 255 độ, 7 Tháng 12 DL
    Tại sao điểm Xuân Phân lại cho là 0 độ?
    Điểm Xuân Phân chính là điểm giao nhau của vòng Hoàng Đạo và Xích Đạo.
    Thật ra 24 Tiết Khí, bao gồm 12 Tiết và 12 Khí (còn gọi là Trung Khí, tức khí giữa hai tiết).
    Lấy Lập Xuân là mốc của Tiết, ta thấy rằng các kinh độ mặt trời có đuôi 5 đều là Tiết và các kinh độ có đuôi 0 đều là Khí hay Trung Khí.
    Vì vậy ta sẽ thấy các sách cổ liệt kê như sau:
    Tháng 1 kiến Dần, tiết Lập Xuân, khí Vũ Thủy
    Tháng 2 kiến Mão, tiết Kinh Chập, khí Xuân Phân
    Tháng 3 kiến Thìn, tiết Thanh Minh, khí Cốc Vũ
    Tháng 4 kiến Tỵ, tiết Lập Hạ, khí Tiểu Mãn
    Tháng 5 kiến Ngọ, tiết Mang Chủng, khí Hạ Chí
    Tháng 6 kiến Mùi, tiết Tiểu Thử, khí Đại Thử
    Tháng 7 kiến Thân, tiết Lập Thu, khí Xử Thử
    Tháng 8 kiến Dậu, tiết Bạch Lộ, khí Thu Phân
    Tháng 9 kiến Tuất, tiết Hàn Lộ, khí Sương Giáng
    Tháng 10 kiến Hợi, tiết Lập Đông, khí Tiểu Tuyết
    Tháng 11 kiến Tý, tiết Đại Tuyết, khí Đông Chí
    Tháng 12 kiến Sửu, tiết Tiểu Hàn, khí Đại Hàn.
    Kiến còn gọi là Nguyệt Kiến, cổ nhân ngấm sao trên trời, chia bầu trời thành 12 thứ (Chi), thấy rằng đuôi sao bắc đẩu thất tinh tuần tự chỉ vào các chi, mỗi tháng một chi, khởi đầu tháng giêng chỉ vào cung Dần, và tuần tự qua 12 cung trong 12 tháng (dĩ nhiên cái Kiến này theo thời gian củng sẻ thay đổi ).
    6. Nguyệt Tướng.
    Nguyệt Tướng là nói đến sự vận hành của mặt trời tuần tự qua 12 cung.
    Nguyệt Kiến thì di chuyển thuận qua 12 cung địa chi, nhưng mặt trời thì đi nghịch qua 12 cung như sau:
    Khí Vũ Thủy đến khí Xuân Phân, Nguyệt Tướng tại Hợi
    Khí Xuân Phân đến khí Cốc Vũ, Nguyệt Tướng tại Tuất
    Khí Cốc Vũ đến khí Tiểu Mãn, Nguyệt Tướng tại Dậu
    Khí Tiểu Mãn đến khí Hạ Chí, Nguyệt Tướng tại Thân
    Khí Hạ Chí đến khí Đại Thử, Nguyệt Tướng tại Mùi
    Khí Đại Thử đến khí Xử Thử, Nguyệt Tướng tại Ngọ
    Khí Xử Thử đến khí Thu Phân, Nguyệt Tướng tại Tỵ
    Khí Thu Phân đến khí Sương Giáng, Nguyệt Tướng tại Thìn
    Khí Sương Giáng đến khí Tiểu Tuyết, Nguyệt Tướng tại Mão
    Khí Tiểu Tuyết đến khí Đông Chí, Nguyệt Tướng tại Dần
    Khí Đông Chí đến khí Đại Hàn, Nguyệt Tướng tại Sửu
    Khí Đại Hàn đến khí Vũ Thủy, Nguyệt Tướng tại Tý.
    Thuyết Nhị Hợp cũng chính là căn cứ vào Nguyệt Kiến và Nguyệt Tướng, tức khi Nguyệt Tướng tại Tý thì Nguyệt Kiến tại Sửu, cho nên ta có 6 cặp Nhị hợp như sau:
    Tý - Sửu
    Dần - Hợi
    Mão - Tuất
    Thìn - Dậu
    Tỵ - Thân
    Ngọ - Mùi.
    [​IMG]

    7. Hậu Thiên Bát Quái phối 24 Tiết Khí.
    24 / 8 = 3. Vì vậy mỗi quái Hậu Thiên quản 3 Tiết Khí, liệt kê như sau:
    Dương Cục (Dương Độn)
    Khảm 1
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Đông Chí: *** 1 - 7 – 4
    Tiểu Hàn: *** 2 – 8 – 5
    Đại Hàn: **** 3 – 9 – 6
    Cấn 8
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Lập Xuân: *** 8 – 5 – 2
    Vũ Thủy: **** 9 – 6 – 3
    Kinh Chập: ** 1 – 7 – 4
    Chấn 3
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Xuân Phân:*** 3 – 9 - 6
    Thanh Minh:** 4 – 1 - 7
    Cốc Vũ:****** 5 – 2 – 8
    Tốn 2
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Lập Hạ:****** 4 – 1 - 7
    Tiểu Mãn:**** 5 – 2 - 8
    Mang Chủng:** 6 – 3 – 9
    Âm Cục (Âm Độn)
    Ly 9
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Hạ Chí:****** 9 – 3 – 6
    Tiểu Thử:**** 8 – 2 – 5
    Đại Thử: **** 7 – 1 – 4
    Khôn 2
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Lập Thu:***** 2 – 5 – 8
    Xử Thử:****** 1 – 4 - 7
    Hàn Lộ:****** 9 – 3 - 6
    Đoài 7
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Thu Phân:**** 7 – 1 - 4
    Hàn Lộ:****** 6 – 9 - 3
    Sương Giáng:* 5 – 8 – 2
    Càn 6
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Lập Đông:**** 6 – 9 – 3
    Tiểu Tuyết:** 5 – 8 – 2
    Đại Tuyết:*** 4 – 7 – 1
    Nếu ta quan sát các cục Thượng Trung Hạ, thì ta thấy Thượng Trung Hạ nguyên cách nhau 6 số, 6 số đây là 6 con Giáp. Dương độn thì đếm tới 6 số, âm độn thì đếm nghịch 6 số.
    Như Thượng nguyên khởi 5 thì 5,6,7,8,9, 1, trung nguyên là 2, lại đếm 6 số 2,3,4,5,6,7, vậy hạ nguyên là 8.
    Tức mỗi nguyên Thượng Trung Hạ cách nhau 6 con Giáp tức 60 Can Chi.
    Mỗi quẻ là 3 tiết, cục khởi đầu của số Lạc của quẻ Hậu Thiên Bát Quái (tức Khãm 1, Cấn 8, Chấn 3, Tốn 4, Ly 9, Khôn 2, Đoài 7, Càn 6), hai tiết tới mỗi tiết tăng 1 nếu là dương độn, giãm 1 nếu là âm độn. Như vậy ta chỉ cần nhớ quẻ nào quản 3 tiết nào, và số Lạc của quẻ (Hậu Thiên) thì có thể tính ra tiết nào, thượng trung hạ nguyên thuộc độn mấy cục.
    Dương độn thì lúc nào cũng bắt đầu từ Đông Chí, âm độn thì bắt đầu từ tiết Hạ Chí.
    [​IMG]
    Phía trên là 24 Tiết Khí phối quái của Kỳ Môn Độn Giáp.
    Tinh gặp Giáp là Trực phù.
    Môn mà gặp Giáp là Trực Sử.
    Trực phù địa ở đâu thì Môn nơi ấy là Trực sử.
    Trực phù bay theo Can .
    Trực Sử, Dương độn bay xuôi, Âm độn bay ngược .
    8. Thấu Địa Kỳ Môn : An bày 8 tiết chính, Lập Đông, Đông Chí, Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hạ, Hạ Chí, Lập Thu, Thu Phân vào giữa tám quẻ Hậu Thiên, cho nên 24 Tiết Khí trong Thấu Địa Kỳ Môn lùi lại 1 tiết,
    liệt kê như sau:

    Dương Cục (Dương Độn)
    Khảm 1
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Đại Tuyết:*** 4 – 7 – 1
    Đông Chí: *** 1 - 7 – 4
    Tiểu Hàn: *** 2 – 8 – 5
    Cấn 8
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Đại Hàn: **** 3 – 9 – 6
    Lập Xuân: *** 8 – 5 – 2
    Vũ Thủy: **** 9 – 6 – 3
    Chấn 3
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Kinh Chập: ** 1 – 7 – 4
    Xuân Phân:*** 3 – 9 - 6
    Thanh Minh:** 4 – 1 - 7
    Tốn 2
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Cốc Vũ:****** 5 – 2 – 8
    Lập Hạ:****** 4 – 1 - 7
    Tiểu Mãn:**** 5 – 2 - 8
    Âm Cục (Âm Độn)
    Ly 9
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Mang Chủng:** 6 – 3 – 9
    Hạ Chí:****** 9 – 3 – 6
    Tiểu Thử:**** 8 – 2 – 5
    Khôn 2
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Đại Thử: **** 7 – 1 – 4
    Lập Thu:***** 2 – 5 – 8
    Xử Thử:****** 1 – 4 - 7
    Đoài 7
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Hàn Lộ:****** 9 – 3 - 6
    Thu Phân:**** 7 – 1 - 4
    Hàn Lộ:****** 6 – 9 - 3
    Càn 6
    ------------- Th, Tr, Hạ
    Sương Giáng:* 5 – 8 – 2
    Lập Đông:**** 6 – 9 – 3
    Tiểu Tuyết:** 5 – 8 – 2
    24 Tiết khí phối quái như trên củng được ứng dụng tron Thấu Địa Long lâm Liên Sơn Quái.
    Thời tiết có khi đến sớm khi đến muộn, cho nên trong Kỳ Môn Độn Giáp có phép tính Siêu Thần Tiếp Khí, nhưng trong Thấu Địa Kỳ Môn thì không dùng, bỡi vì 60 long phối Tiết Khí là bất di bất dịch.
    9 . 60 long được phối với 24 tiết như sau:
    Khãm 1
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý:******** Đại Tuyết:*** 4 – 7 – 1
    Canh Tý, Nhâm Tý:**************** Đông Chí: *** 1 - 7 – 4 (Dương Độn)
    Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu:******** Tiểu Hàn: *** 2 – 8 – 5
    Cấn 8
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Tân Sửu, Quý Sửu:**************** Đại Hàn:***** 3 – 9 – 6
    Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần:***** Lập Xuân:**** 8 – 5 – 2
    Nhâm Dần, Giáp Dần:************** Vũ Thủy: **** 9 – 6 – 3
    Chấn 3
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Đinh Mão, Kỷ Mão, Tân Mão:******* Kinh Chập: ** 1 – 7 – 4
    Quý Mão, Ất Mão:***************** Xuân Phân:*** 3 – 9 - 6
    Mậu Thìn, Canh Thìn, Nhâm Thìn:** Thanh Minh:** 4 – 1 - 7
    Tốn 2
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Giáp Thìn, Bính Thìn:************ Cốc Vũ:****** 5 – 2 – 8
    Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Quý Tỵ:*********** Lập Hạ:****** 4 – 1 - 7
    Ất Tỵ, Đinh Tỵ:****************** Tiểu Mãn:**** 5 – 2 - 8
    Ly 9
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Giáp Ngọ:**** Mang Chủng:** 6 – 3 – 9
    Bính Ngọ, Mậu Ngọ:*************** Hạ Chí:****** 9 – 3 – 6 (Âm Độn)
    Tân Mùi, Quý Mùi, Ất Mùi:******** Tiểu Thử:**** 8 – 2 – 5
    Khôn 2
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Đinh Mùi, Kỷ Mùi:**************** Đại Thử: **** 7 – 1 – 4
    Nhâm Thân, Giáp Thân, Bính Thân:* Lập Thu:***** 2 – 5 – 8
    Mậu Thân, Canh Thân:************* Xử Thử:****** 1 – 4 - 7
    Đoài 7
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Quý Dậu, Ất Dậu, Đinh Dậu:******* Hàn Lộ:****** 9 – 3 - 6
    Kỷ Dậu, Tân Dậu:***************** Thu Phân:**** 7 – 1 - 4
    Giáp Tuất, Bính Tuất, Mậu Tuất:** Hàn Lộ:****** 6 – 9 - 3
    Càn 6
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ
    Canh Tuất, Nhâm Tuất:************ Sương Giáng:* 5 – 8 – 2
    Ất Hợi, Đinh Hợi, Kỷ Hợi:******** Lập Đông:**** 6 – 9 – 3
    Tân Hợi, Quý Hợi:**************** Tiểu Tuyết:** 5 – 8 – 2
    10. 9 Thiên tinh và 8 Cửa của Kỳ Môn.
    [​IMG]
    Kỳ môn có 9 thiên tinh phối với các cung Hậu Thiên như sau:
    Khảm - Thiên Bồng,
    Khôn - Thiên Nhuế,
    Chấn - Thiên Xung,
    Tốn - Thiên Phụ,
    Trung - Thiên Cầm
    Càn - Thiên Tâm
    Đoài – Thiên Trụ
    Cấn – Thiên Nhậm
    Ly – Thiên Anh (Thiên Ương)
    11. Bát Môn phối với các cung như sau:
    Khảm – Hưu
    Khôn - Tử
    Chấn – Thương
    Tốn - Đổ
    Trung – Vô Môn
    Càn – Khai
    Đoài – Kinh
    Cấn – Sinh
    Ly - Cảnh
    Ca quyết dùng Bát môn:
    Dục cầu tài lợi vãng Sinh phương ,
    Táng liệp tu tri Tử lộ cường.
    Chinh chiến , viễn hành Khai môn cát.
    Hưu môn kiến quý Tối vi lương.
    Kinh môn quan tụng thị phi đa.
    Đỗ môn vô sự hảo đào tàng.
    Thương môn bác đấu năng tróc tặc,
    Cảnh môn ẩm tửu hảo tư lượng.

    12. Địa bàn kỳ môn (bất di bất dịch) như sau:
    [Tốn: Thiên Phụ, Đỗ------][Ly:Thiên Anh, Cảnh---][Khôn:Thiên Nhuế, Tử--]
    [Chấn: Thiên Xung, Thương][Trung: Thiên Cầm-----][Đoài: Thiên Trụ, Kinh]
    [Cấn: Thiên Nhậm, Sinh---][Khãm: Thiên Bồng, Hưu][Càn: Thiên Tâm, Khai-]
    Mấy bài trước chúng ta đã biết Tuần Đầu của Can Chi (6 con Giáp).
    Khi bài quẻ Kỳ Môn, thì Tuần Đầu tại cung nào thì sao (thiên tinh) của cung đó gọi là Trực Phù, và môn tại cung đó gọi là Trực Sử.

    [​IMG]
    13. Bày một quẻ Kỳ Môn gồm các bước như sau:
    1 – TìmTiết Khí
    Xem năm tháng ngày giờ thuộc thời tiết nào để tính cục. Phần này trong Thấu Địa Kỳ Môn thì chỉ cần xem bản 60 phối Tiết Khí.
    2 – Tính Cục
    Tính Độn Cục căn cứ vào Tiết Khí và ngày Thượng Nguyên (Giáp Kỷ gia Tý Ngọ Mão Dậu). Có 4 trường hợp, Chính Thụ, Siêu Thần, Tiếp Khí, và Nhuận. Phần tính Siêu Thần Tiếp Khí này hơi rắc rối cho nên tốt nhất là mua một quyển lịch có liệt kê các Cục và Tiết khí.
    May thay Thấu Địa Kỳ Môn không dụng Siêu Thần Tiết Khí bởi vì Can Chi 60 Long kết hợp với Tiết Khí và Cục là không thay đổi. Chúng ta chỉ cần dùng Phù Đầu để định Cục thuộc Thượng, Trung, hay Hạ nguyên của Tiết Khí.
    3 – Bày Kỳ Nghi Địa Bàn
    4 – Định Trực Phù Trực Sử
    5 – Lập Thiên Bàn Kỳ Nghi và Tinh (xoay chuyển cho Trực Phù gia Thời Can)
    6 – Lập Thiên Bàn 8 Môn, (xoay chuyển cho Trực Sử gia Thời Chi).
    7 – An Bát Thần (Trục Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trận (Bạch Hổ), Chu Tước (Huyên Vũ), Cửu Địa, Cửu Thiên). Thấu Địa Kỳ Môn không dùng Bát Thần.
    Dương Độn Âm Độn Cục
    Các sách về Kỳ Môn đều nói rằng:
    Dương Độn: Nghi đi thuận Kỳ đi nghịch
    Âm Độn: Nghi đi nghịch Kỳ đi thuận
    Hai câu này ý nó gì?
    Nếu ta theo thứ tự cung từ 1 đến 9, bắt đầu bày Lục Nghi: Mậu, Kỷ Canh Tân Nhâm Quý theo thứ tự (Thuận) thì Tam Kỳ, Ât Bính Đinh đi nghịch, như sau:
    1 Mậu
    2 Kỷ
    3 Canh
    4 Tân
    5 Nhâm
    6 Quý
    7 Đinh
    8 Bính
    9 Ất
    Ta thấy Ất Bính Đinh là 9, 8, 7
    Nếu Lục Nghi đi nghịch thì Tam Kỳ đi thuận như sau:
    1 Mậu
    9 Kỷ
    8 Canh
    7 Tân
    6 Nhâm
    5 Quý
    4 Đinh
    3 Bính
    2 Ất
    Ta thấy thứ tự Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý là 9,8,7,6,5, và Tam Kỳ Ất Bính Đinh là 2, 3, 4
    Thật ra các đơn giản hơn là không cần biết Thuận Nghi Nghịch Kỳ hay Nghịch Nghi Thuận Kỳ gì cả, ta chỉ đếm theo thứ tự sau:
    Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất
    Dương độn thì đi thuận (số tăng), Âm độn thì đi nghịch (số giảm).
    Các bạn xem lại phía trên đều thấy cho dù Thuận Nghi Nghịch Kỳ, hay Nghịch Nghi Thuận Kỳ đều có thứ tự là Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Đinh Bính Ất cả!!!
     
    #3
  4. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    [​IMG]

    Bài trước ta biết Bính Tý long có quẻ Liên Sơn là Trạch Thủy Khổn.
    Các bạn nào không thích tính toán bấm độn thì cứ mở sách bốc dịch ra có thể ghi Lục Thân cho quẻ Trạch Thủy Khôn.
    Riêng tiểu sinh thì thích dùng Lưỡng Nghi Tiên Thiên để tìm Ngủ Thân (tức Lục Thân ).
    Ôn lại Lưỡng Nghi Tiên Thiên .
    Âm Dương của các cung của Thiên Thiên Bát Quái
    [+][-][+]
    [-][x][-]
    [+][-][-]
    Cộng thì thuận hành theo chiều kim đồng hồ, Trừ thì nghịch hành.
    Số của hai vòng nghi (Lưỡng nghi) 1-6-8-5, 2-7-3-4
    Tượng quẻ thì:
    Các quẻ thuộc số 1,2,3,4 trong hai nghi có tượng là đơn quái ngoại.
    Các quẻ thuộc số 5,6,7 trong hai nghi có tượng là đớn quái đối nội
    Quẻ thuộc số 8 có tượng là đơn quái nội.
    Hào Thế thì theo các số của hai nghi 1-6-8-5, 2-7-3-4, như sau:
    1 - Thế 6 (quẻ Bát Thuần)
    2 - Thế 1
    3 - Thế 2
    4 - Thế 3
    5 - Thế 4
    6 - Thế 5
    7 - Thế 4 (quẻ Du Hồn)
    8 - Thế 3 (quẻ Quy Hồn)
    Hào Thế và hào ứng đi thành 1 cập 1-4, 2-5, 3-6. Thế 1 thì Ứng 3, thế 3 thì ứng 1, vv….
    Ta khởi Trạch (Đoài) tiên thiên, thuộc dương (+), đi thuận, đếm
    1 Đoài, 6 Càn, 8 Chấn, 5 Ly, nhảy sang cung đối của Ly là Khảm, Khảm thuộc (-), đi nghịch
    2 Khảm, 7 Tốn, 3 Khôn, 4 Cấn.
    Trạch Thủy tức là Đoài Khảm, Đoài là ngoại quái, Khảm là nội quái, ta khởi tại Đoài tới Khảm được số 2 tức là quẻ số 2 của tượng vậy.
    Quẻ 2 tượng là đớn quái ngọại, tức là Đoài, thế hào 1 (sơ), ứng hào 4
    Vậy ta biết quẻ Trạch Thủy Khổn thuộc quẻ số 2 trong Tượng (Họ) Đoài.
    Tượng Đoài tức là hành Kim, vậy ta là Kim hành
    Ôn lại Trùng Quái Nạp Can Chi .
    Tưởng tượng đây là 12 cung địa chi :
    [Tỵ: Đinh Đoài-][Ngọ: Nhâm Càn--------][Mùi: Ất Khôn-----------][-----]
    [Thìn: Bính Cấn][----------------------------------------------][-----]
    [Mão: Kỷ Ly----][----------------------------------------------][-----]
    [Dần: Mậu Khãm-][Sửu: Quý Khôn,Tân Tốn][Tý: Giáp Càn, Canh Chấn][-----]
    Đó là hào sơ khởi chi của các quẻ thuần, Dương quái Càn Chấn Khãm Chấn đi thuận, âm quái Khôn Tốn Ly Đoài đi nghịch, đếm 1 bỏ 1. Càn nội lấy Giáp ngoại lấy Nhâm, Khôn nội lấy Ất ngoại lấy Quý.
    Để dễ ghi nhớ:
    Giáp Nhâm phùng Càn Tý Ngọ phương
    Ất Quý Khôn cư Mùi Sửu vị
    Chấn Canh Tý xứ, Tốn Tân Sửu
    Khãm hề Mậu Dần, Ly Kỷ Mão
    Bính Cấn cư Thìn, Đoài Đinh Tỵ

    Vậy ta biết:
    Đoài khởi Tỵ nghịch hành, lấy 1 bỏ 1, tức Tỵ Mão Sửu (3 hào nội), Hợi Dậu Mùi (3 hào ngoại) Đoài nạp can Đinh vậy 3 hào ngoại là Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Mùi , Khảm khởi Dần thuận hành, lấy 1 bỏ 1, tức Dần Thìn Ngọ (3 hào nội), Thân Tuất Tý (3 hào ngoại) , Khảm nạp can Mậu, vậy 3 hào nội là Mậu Dần, Mậu Thìn, Mậu Ngọ
    Vậy ta có
    _ _, Đinh Mùi
    ___, Đinh Dậu
    ___, Đinh Hợi
    _ _, Mậu Ngọ
    _ _, Mậu Thìn
    _ _, Mậu Dần
    Trạch Thủy Khổn họ Đoài Kim, tức ta là hành Kim, xét các hành của chi để mà lập Ngũ Thân, tức :
    Sinh Ta là Phụ Mẫu
    Đồng Ta là Huynh Đệ
    Ta Sinh là Tử Tôn
    Ta Khắc là Thê Tài
    Khắc Ta là Quan Quỷ
    Đinh Mùi, Mậu Thìn, Mùi và Thìn đều là Thổ, Ta là Kim, Thổ sinh Kim, vậy hai hào này là hào Phụ Mẫu
    Đinh Dậu, Dậu là Kim, Ta là Kim, Kim Đồng Kim, vậy Đinh Dậu là hào Huynh Đệ
    Đinh Hợi, Hợi là Thủy, Ta là Kim, Kim Sinh Thủy, vậy Đinh Hợi là hào Tử Tôn
    Mậu Ngọ, Ngọ là Hỏa, Ta là Kim, Hỏa Khắc Kim, vậy Mậu Ngọ là hào Quan Quỷ
    Mậu Dần, Dần là Mộ, Ta là Kim, Kim Khắc Mộc, vậy Mậu Dần là hào Thê Tài
    Như vậy ta được quẻ Trạch Thủy Khổn như sau:
    _ _, Đinh Mùi, Phụ Mẫu
    ___, Đinh Dậu, Huynh Đệ
    ___, Đinh Hợi, Tử Tôn (Ứng)
    _ _, Mậu Ngọ, Quan Quỷ
    ___, Mậu Thìn, Phụ Mẫu
    _ _, Mậu Dần, Thê Tài (Thế)
    Này ta đã có Ngũ Thân Tử Phụ Tài Quan Huynh, ta xem lại Can Chi mỗi hào an tại cung nào trong 9 cung.
    Nếu Can Chi rơi vào Trung cung thì Dương Độn ký Khôn, Âm Độn ký Cấn.
    Bính Tý Long thuộc Âm Độn 1 cục, vậy nếu Can Chi của Ngủ Thân nào rơi vào Trung Cung thì ký tại cung Cấn vậy.
    Ta có Can Chi hào của Trạch Thủy Khổn an vào các cung như sau:
    Đinh Mùi, Phụ Mẫu, cung Chấn
    Đinh Dậu,Huynh Đệ, cung Tốn
    Đinh Hợi, Tử Tôn, cung Cấn (Đinh Hợi rơi vào Trung Cung nên ký cung Cấn)
    Mậu Ngọ, Quan Quỷ, cung Khảm
    Mậu Thìn, Phụ Mẫu, cung Càn
    Mậu Dần, Thê Tài, cung Cấn (Mậu Dần rơi vào Trung Cung nên ký cung Cấn)
    Như vậy Bính Tý Long có Ngũ Thân như sau:
    [Huynh--][----][---]
    [Phụ----][----][---]
    [Tài, Tử][Quan][Phụ]
    Ghép vào Tam Kỳ 8 Môn (bài trước) vào thì ta có:
    [Huynh,Đinh, Sinh][-----------][Ất--------]
    [Phụ,Bính, Hưu---][-----------][----------]
    [Tài, Tử, Khai---][Quan-------][Phụ-------]
    Như vậy ta còn lại 4 thức: 4 Kiết, Lộc, Mã, Quý Nhân là xong quẻ Thấu Địa Kỳ Môn!!!

    GIẢI THÍCH TẦNG 17 CỦA LA KINH TAM HỢP ĐỊNH TỨ CÁT, TAM KỲ, BÁT MÔN, CỬU TINH; TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH ĐỆ, LỘC MÃ, QUÝ NHÂN, ĐÁO PHƯƠNG, ĐỊNH CỤC
    Co dãn 60 Long thấu địa, gọi là Thiên Kỷ, hay Thấu địa Quang bảo đó là mộ thừa khí; đưa khí tốt vào huyệt, Tiên Thánh nói: Núi sông có linh thiên mà không có chủ; hài cốt có chủ nhưng không có linh thiêng. Người chết còn linh gì được ? Chẳng qua là cái khí thiêng của núi sông tụ lại, là chân long kết huyệt, chung đúc khí tinh anh lại 1 chỗ, làm cho hài cốt ấm áp, trong sạch, thì cái tinh khí ấy truyền vào con cháu, được thấm nhuần mà phát sanh ra người tinh anh v.v… Như: 12 vị Thiên can lai Long, trong vòng đó có 1 huyệt gặp được vị Châu bảo, còn xê dịch sang hai bên tả, hữu là vị Cô hư, Sát diệu, Không vong. Cách một huyệt Hỏa khanh ở bên tả và hữu lại có 2 huyệt có thể kết được. Như vậy là có 3 huyệt phát phúc. Như:
    trong 12 Long địa chi nhập thủ, thì mỗi Long có 2 huyệt, là Châu bảo. Trong 12 chi, mỗi chi có 5 chữ Tý, cộng lại thành 60 hoa Giáp hợp với 12 Thiên can trước là 72 Long xuyên sơn nhập thủ chỗ tọa huyệt.
    Khi đặt La kinh thì phải đặt ở chỗ kết huyệt, thừa đúng chỗ lý khí của loan đầu, mà chỉ dùng xem 60 Long thấu địa thôi, Xuyên sơn long không cần phải dùng đến ở đó. Lấy thấu khí vào quan, ở sau huyệt, khoảng 8 thước (thước Đông phương). Những Long thuộc về Địa chi, ở giữa chỗ phùng (2 mép khép lại) là Hỏa khanh, tối kỵ, không nên đặt quan tài vào đó, mà phải thấu vào long huyệt Châu bảo, ở 2 bên tả, hữu Hỏa khanh. Học giả khi đăng sơn xem đất, trước phải chiêm nghiệm những ngôi đất cũ, từ xưa nay, hãy còn danh tiếng tích, thì mới biết phép thừa khí, phân biệt được xấu, tốt đã, sau mới đoạt được Thần công, thắng tạo hóa. Sau đây, trình bày về 24 ngôi Châu bảo thấu địa long và liệt đồ về Kỳ môn, tử, phụ, tài, quan, quý nhân, lộc mã, ngũ thân, sa, thủy.
    GIẢI THÍCH VỀ TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH ĐỆ GỌI LÀ NGŨ THÂN

    Thấu địa kỳ môn lục Giáp, chia làm 2 thứ độn là âm và dương
    1- Dương sinh ở Giáp Tý, là dương độn thì thuận khởi lục nghi nghịch bá tam kỳ
    2- Âm sinh ở Giáp Ngọ, là âm độn thì nghịch khởi lục nghi thuận bá tam kỳ.
    Sự cần thiết là thu được sơn của tứ cát, phác được thủy của Tam kỳ, tọa vào các phương lộc, mã, quý nhân, phải kỵ cho ngũ hành quan sát tránh chỗ âm, dương, sai thác, bỏ những tinh thần án phục, thì lấy được những độ thanh kỳ của bát can. Lấy đó mà lượng sa, tính thủy thì không sai. Phép định huyệt thì lấy hỗn thiên Giáp Tý làm chủ trong 60 Long, 12 Chi, mỗi Chi chiếm 5 ngôi. Chia các tinh độ thuộc ngũ hành của 6 Giáp Tý ra, thừa khí ở đó. 60 Thấu địa long, tọa huyệt làm nội quái, do hỗn thiên Giáp Tý để xét sơn thủy tốt, xấu làm cần thiết, lấy quý nhân, lộc mã, hoặc Tam kỳ là Ất, Bính, Đinh, tứ cát là kim, thủy, nhật, nguyệt. Ngũ thân là sa, thủy, tử, phụ, tài, quan, huynh đệ để tọa huyệt, hợp được sơn của 8 phương. Nếu được kim, thủy, nhật, nguyệt chiếu hướng, hoặc được Tam kỳ tú bạt là sơn hữu lực, hoặc các phương tử, phụ, tài, quan, huynh đệ, có cao phong viên tú hữu lực; hoặc quý nhân, lộc mã cũng phù hợp hóa là đất thượng hạng. Quyết định phát xuất công hầu, khanh tướng, sinh người trung trinh, nhân hậu, anh tài. Còn nếu hợp được Tam kỳ, Tứ cát, tất sinh ra người kinh khôi, hào kiệt, liệt sĩ, anh hung. Pháp này đời nay hiếm người biết đến. Tiên Thánh tạo ra các quẻ Kỳ môn là để sử dụng các tinh độ biết cách tự nhiên mà xuất. Các học giả hậu thế phần nhiều là chưa biết nay lục ra thêm 4 tầng để khỏi bị thất truyền, dùng hay không tùy ý.
    Khí Bính Tý ở chính long Nhâm, là tiết đại tuyết, hạ cục, khởi đầu từ Giáp Tý, Mậu Thân là phù đầu, là nghịch độn tại cửu cung, là quẻ Trạch thủy khổn , thuộc kim, sơ hào là khuê mộc lang chủ trì (trì thế)
    [​IMG]
     
    #4
  5. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    Đinh Sửu khí ở chính Quý long, Tiết tiểu hàn, Hạ cục được quẻ Phong thủy hoán, ngũ
    cung khởi Giáp Tý, Giáp Tuất là phù đầu. Kiền cung thuận độn thuộc hỏa, ngũ hào. Mão nhật kê trì thế.
    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]
     
    #5
  6. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    ( 謂平分六十龍透地,地名曰天紀又名曰透地奇門從地脈透引墓中乘生氣趨吉灌穴。如先聖言山川有靈,而無主,屍骸而有主,無靈,乃提有主,而無靈之骨骸,埋於山川有靈而無主之處。盡吸山川之靈,蔭益子孫後代,為此愛用者。不惜榮若奔走。天邊海角,覓尋天地媾精一席之地,運氣行轉引入穴中承受,暖氣給枯骸,福蔭子孫。夫透地奇門此也。亦起予遁甲如來矣。如推算方法,為陰陽二遁,陽遁順起六儀逆佈三奇,陰遁逆起六儀順佈三奇,所用一切仍收四吉之山,撥三奇之水,收生祿馬貴人之避忌五行零神關煞之鄉。促正神上山,零神下水。以此量砂步水:避其顚倒陰陽,足選清六神取貴人祿馬或三奇乙丙丁,四吉,日月金水,五親砂水峯巒父母財官兄弟,以坐穴合得八方之山,日月金水,或得之照向,或三奇峯巒秀拔有力,或是子孫公母財官兄弟鄉峯高圓秀麗,有力、或貴人祿馬拱扶合得化清為上地。定出公侯卿相忠貞仁厚之才。依此如今人皆不知。先聖造此奇門卦例宿度測出呼以自然而用之。今民孽者仍不知陰陽卦之零正兩神配用尚無益于精華所選矣。今余于前人未錄出部份供給愛用者免誤用失傳以世人矣。
    中華民國七十五年四月三日 台灣易學館館主 黃號飛龍朝全、中正大學教授黃介良 仝補述
    vị bình phân lục thập long thấu địa , địa danh viết thiên kỉ hựu danh viết thấu địa kì môn tòng địa mạch thấu dẫn mộ trung thừa sanh khí xu cát quán huyệt 。 như tiên thánh ngôn san xuyên hữu linh , nhi vô chủ , thi hài nhi hữu chủ , vô linh , nãi đề hữu chủ , nhi vô linh chi cốt hài , mai vu san xuyên hữu linh nhi vô chủ chi xử 。 tận hấp san xuyên chi linh , ấm ích tử tôn hậu đại , vi thử ái dụng giả 。 bất tích vinh nhược bôn tẩu 。 thiên biên hải giác , mịch tầm thiên địa cấu tinh nhất tịch chi địa , vận khí hành chuyển dẫn nhập huyệt trung thừa thụ , noãn khí cấp khô hài , phúc ấm tử tôn 。 phu thấu địa kì môn thử dã 。 diệc khởi dư độn giáp như lai hĩ 。 như thôi toán phương pháp , vi âm dương nhị độn , dương độn thuận khởi lục nghi nghịch bố tam kì , âm độn nghịch khởi lục nghi thuận bố tam kì , sở dụng nhất thiết nhưng thu tứ cát chi san , bát tam kì chi thủy , thu sanh lộc mã quý nhân chi tị kị ngũ hành linh thần quan sát chi hương 。 xúc chánh thần thượng san , linh thần hạ thủy 。 dĩ thử lượng sa bộ thủy : tị kì điên đảo âm dương , túc tuyển thanh lục thần thủ quý nhân lộc mã hoặc tam kì ất bính đinh , tứ cát , nhật nguyệt kim thủy , ngũ thân sa thủy phong loan phụ mẫu tài quan huynh đệ , dĩ tọa huyệt hợp đắc bát phương chi san , nhật nguyệt kim thủy , hoặc đắc chi chiếu hướng , hoặc tam kì phong loan tú bạt hữu lực , hoặc thị tử tôn công mẫu tài quan huynh đệ hương phong cao viên tú lệ , hữu lực 、 hoặc quý nhân lộc mã củng phù hợp đắc hóa thanh vi thượng địa 。 định xuất công hầu khanh tương trung trinh nhân hậu chi tài 。 y thử như kim nhân giai bất tri 。 tiên thánh tạo thử kì môn quái lệ túc độ trắc xuất hô dĩ tự nhiên nhi dụng chi 。 kim dân nghiệt giả nhưng bất tri âm dương quái chi linh chánh lưỡng thần phối dụng thượng vô ích vu tinh hoa sở tuyển hĩ 。 kim dư vu tiền nhân vị lục xuất bộ phân cung cấp ái dụng giả miễn ngộ dụng thất truyện dĩ thế nhân hĩ 。trung hoa dân quốc thất thập ngũ niên tứ nguyệt tam nhật   thai loan dịch học quán quán chủ hoàng hào phi long triêu toàn 、 trung chánh đại học giáo thụ hoàng giới lương đồng bổ thuật )
     
    #6
  7. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    Lưu ý :
    Ứng dụng năm tháng ngày giờ thì là lập quẻ Kỳ Môn Độn Giáp.(Còn được gọi là Thời Gia Kỳ Môn).
    Thời Gia Kỳ Môn thì lại dùng Tiết Khí, tính Siêu Thần, Tiếp Khí để định cục khỡi từ Phù Đầu nào.
    Thấu Địa Kỳ Môn là dùng cho 60 Long nhập thủ - (Giáp Tý tới Quý Hợi) .
    Cách lập bảng Thấu Địa Kỳ môn ta thường dựa vào những bảng tính sẵn áp vào 60 Long nhập thủ theo tiết khí nên cũng không quá khó như phần đã trình bày ở trên. dienbatn sẽ trình bày một số bảng tính sẵn ở phần sau. Khi lập được bảng Thấu Địa kỳ môn của Long nhập thủ mới chỉ là bước đầu và là công cụ dùng cho tính toán khi xây cất mộ phần. Đây mới chính là vấn đề dienbatn muốn trao đổi cùng các bạn.
    Một số kiến thức dùng trong quá trình phân tích bảng Thấu địa kỳ môn dienbatn dựa vào những kiến thức trong cuốn La kinh thấu giải của tác giả Vương Đạo Hạnh sau đây.

    1/ TẦNG THỨ 13: 60 LONG THẤU ĐỊA
    Chia đều 60 long thấu địa gọi là thiên Kỷ, bắt đầu từ Giáp Tý ở tầng chính châm. Hợi,
    Mùi thuộc Kiền cung; Kiền của hậu thiên thì liên hệ với Cấn ở tiên thiên; Cấn là sơn vì cớ đó gọi là xuyên sơn. Chia đều 60 long bắt đầu từ Giáp Tý ở chính châm. Nhâm đứng ở đầu thuộc Khảm; Khảm ở hậu thiên, liên hệ với Khôn ở tiên thiên; Khôn là đất nên gọi là thấu địa; không nói xuyên mà nói thấu; lấy thấu là thông thấu tất cả, như cái ống thổi tro, hơi ra ở cái lỗ đó là thoát thấu được hết. Không nói sơn mà nói địa, là vì địa phát sinh ra vạn vật và ngũ hành khí đều do ở trong định địa có cát khí, thổ tùy khí mà khởi, có thể thấy hình tượng nổi lên trên mặt đất, đều do khí của ngũ hành thấu qua địa trung, hễ khí mạnh thì đất tùy khí mà lên cao,hễ khí yếu thì đất cũng tùy khí mà bình phục; khí thanh thì đất được thanh tú đẹp đẽ, khí trọc thì đất cũng tùy khí mà hung ác. Như vậy, khả dĩ nói là đắc địa. không nói hổ mà nói long; là vì long có khí mà không hình, nó biến hóa không lường được, không ai là không phải luận long, thấu ở huyệt trung vì long đó là đầu mối biến hóa. Vậy cần phải biết cái hay của 60 long thấu địa nên gọi là thấu địa long. Vì lẽ đó, sự tác dụng này là “táng thừa sinh khí”. Tất nhiên là phải nhận định cái long lai nhập thủ trước hết; tức là chỗ xương sống đất phân thủy ở sau huyệt, phải nhận xét kim của la bàn và mạch vào huyệt cho thật đúng.
    Ví dụ:
    Nhập thủ long: như 60 long: Tân Hợi nạp âm thuộc kim, mạch long từ bên hữu lại thì lấy tay bên tả làm thừa khí, thì huyệt tinh phải tọa Kiền hướng Tốn mới thấu được Đinh Hợi khí là thuộc thổ; chính Kiền long tọa huyệt là thổ sinh Tân Hợi kim, là huyệt sinh lai long thì nhà ấm phát phúc. Nhược bằng thấu được ất Hợi thì 7 phân Hợi, 3 phân Kiền là hỏa âm (âm nạp âm) tọa huyệt thì khắc Tân Hợi là long lai khắc huyệt sơn, thì nhà áo ít có lộc, cũng thấu được Kỷ Hợi khí 5 phân Kiền, 5 phân Hợi là sát diệu gọi là hỏa khanh thì con phá phần nhiều mắc bệnh lao thổ huyết, tổn thê, khắc tử, bị nước, bùn, kiến, mối vào quan tài đục gặm hài cốt.
    Có bài thi ca của Tiên Thánh rằng:
    Nhị thập tứ sơn, điên điên, đảo đảo
    Nhị thập tứ sơn, hữu châu bảo
    Nhị thập tứ sơn, thuận nghịch hành,
    Nhị thập tứ sơn, hữu hỏa khanh.

    Lại nói: “Đáo đầu sai nhất chỉ, như cách vạn trùng sơn”. Xem đó được thấy xuyên sơn, thấu địa đều là tự dụng 72 long chỉ luận về lai mạch, để định cương đầu (chỗ sống đất gồ lên)mà thấy phân thủy, ở sau huyệt, cứ trên long tích mà đặt bàn châm, độ khoảng 8 thước loan đầu ở phía sau huyệt, dùng bàn châm của 60 long thấu địa, xuyên sơn thì không cần dùng.
    Thẩm nhân, khí pháp huyệt của 60 long; mỗi một long có 5 khí, chữ là vượng khí; như long của 2 vòng Bính Tý và Canh Tý, thì có 24 vị châu bảo là cát. Lai cần phải tránh chỗ không, hư, sát, diệu, sai khác, không vong như: Giáp Tý, Nhâm Tý, Mậu Tý long ở trong 3 vòng này, có 36 huyệt là sai thác quan sát là toàn hung. Lại cần phải tránh cái hỗn thiên độ, không nên khắc phân kim; phân kim không nên khắc tọa huyệt; tọa huyệt không nên khắc thấu địa; thấu địa không nên khắc lai long. Khắc thì nên thuận khắc: lấy cái hạ khắc thượng thì sinh cát. Sinh thì nên nghịch sinh: là lấy dưới sinh trên thì làm xem đó thấy tác dụng của thấu địa, phải nên lưu tâm, cẩn thận chớ nên khinh thường.
    Trong La kinh bàn chép 24 vị có chính tự, hợp với 24 sơn chính khí mạch, nhập thủ là châu bảo. Chép có 12 ngũ tự là hỏa khanh.
    Trong 24 sơn thì có 37 long là sai thác, không vong. Người đời ai cũng biết là huyệt tại sơn, mà không biết các vị trí của huyệt chỉ độ 1 tấc vuông, là nhỏ bằng sợi dây tơ, đặt nằm trên la bàn.
    NGHIỆM TÂN CỰU PHÂN ĐOÁN
    THI CA
    Nhất cá sơn đầu, táng thập phân
    Nhất phân phú quý, cửu phân bần
    Đông sơn, đông hướng, đông triều thủy
    Cánh hữu đồng đôi, cộng tỉnh doanh
    Nhất biến quang hoa, sinh phú quý
    Nhất quan nên thủy, tuyệt nhân Đinh
    Huyệt tọa hỏa khanh, chiếu nê thủy
    Kim ngưu tọa huyệt, khởi tứ đằng
    Thời sư nhược năng tri thử lý
    Đả phá âm dương huyền diệu tinh
    Nghĩa là:
    Một khoảng sơn ở sau đầu, chôn 10 ngôi mộ
    Chỉ có 1 ngôi là phát phú quý, còn 9 ngôi bần
    Cùng 1 sơn, 1 hướng, 1 dãy thủy chầu
    Cũng có cùng đông mộ, ở cùng một lỗ huyệt
    Một bên khí nhuận tươi sáng thì sinh phú quý
    Một bên thấy bùn nước vào quan tài bị tuyệt tự
    Đó là huyệt tọa vào chỗ hỏa khanh, thì bùn nước vào
    Huyệt tọa vào chỗ kim ngưu thì có tơ tía quấn phủ
    Thầy địa nào biết lý khí này nghiệm như thế
    Là khám phá được mọi huyền diệu tinh vi của âm dương

    TINH VI HUYỀN THƠ THI CA
    Bát xích loan đầu yêu thức chân
    Trung gian tích thủy lưỡng biên phân
    Khán tha sinh ý quy hà xứ
    Thập tự đương trung chính lập thành
    Cánh khán lương biên vô cường nhược
    Định tâm phương khả hạ la châm
    Châu bảo hỏa khanh an bài định
    Phú quý bần tiện nghiệm như thần
    Nhị thập tứ sơn điên điên, đảo đảo
    Nhị thập tứ sơn hữu châu bảo
    Hữu nhập tọa liễu thử nhất huyệt
    Vinh hoa phú quý thử trung thảo
    Nhị thập tứ sơn đảo đảo điên
    Nhị thập tứ sơn hữu hỏa khanh
    Hữu nhân tọa liễu thử nhất huyệt
    Gia nghiệp thoái bại, tuyệt nhân Đinh
    Chỉ nhân bất thức, loan đầu xử
    Hỏa khanh tương lai, tác châu bảo
    Hữu nhân tri đạo, kỳ trung diệu
    Năng cứu thế gian bần cùng nhân
    Lập lại loan đầu tâm chính khí
    Kim ngưu tọa huyệt khởi tử đằng

    Giải nghĩa theo nguyên văn:
    - Cần nhận rõ ở chỗ loan đầu khoảng 8 thước
    - Ở giữa khoảng sống đất cao rộng thủy phân hai bên
    - Xét cái ý nó chuyển về bên nào, đó là sinh khí
    - Mình đứng chính giữa chỗ chữ thập đỏ
    - Xét thấy 2 bên quân bình, không bên nào mạnh yếu
    - Quyết định có thể đặt la bàn đúng châm
    - Sự giàu sang nghèo hèn ứng nghiệm như thần
    - Trong 24 sơn đảo xuất, đảo ngược nhau đều là có châu bảo
    - Đều là có châu bảo ở trong 24 sơn đó
    - Ai đặt huyệt tọa đúng chỗ châu bảo là phú quý
    - Trong 24 sơn cũng đảo ngược đảo xuôi kia
    - Đều có vị trí của hỏa khanh đó ở trong đó
    - Nếu ai đặt táng tọa vào hỏa khanh thì tuyệt tự
    - Đó chỉ vì họ không biết rõ khí của loan đầu
    - Nên làm lẫn lộn vị trí của hỏa khanh đem làm châu bảo
    - Nếu ai biết được cái đạo lý kỳ diệu ở trong đó
    - Có thể cứu được những người cùng khổ ở trong đời
    - Là đứng tại giữa chỗ loan đầu mà tìm chính khí
    - Đặt huyệt đúng tọa vào kim ngưu thì tơ hồng tía quân phủ.
    DƯƠNG CÔNG NGŨ KHÍ LUẬN .
    Theo ông Dương Công luận xét thì: Từ Giáp Tý luân chuyển đi một vòng đến ất Hợi là mạch lãnh khí, là hư, từ Bính Tý đi một vòng đến Đinh Hợi là mạch chính khí là vượng; từ Mậu Tý một vòng đến Kỷ Hợi là mạch bại khí là sát; từ Canh Tý một vòng đến Tân Hợi là mạch khí vượng là tướng; từ Nhâm Tý một vòng đến Quý Hợi là mạch khí thoái là hư .
     
    #7
  8. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    2. LỤC THẬP LONG THẤU ĐỊA - TỨC NGŨ TÝ KHÍ – CÁT HUNG BÍ QUYẾT
    1-Khí Giáp Tý 7 phân Nhâm 3 phân Hợi là tiểu thác; là Giáp Tý xung quan mà sanh ra ác bệnh: hoàng sũng, điên dại, phong, lao, tê liệt, cùi hủi, gái câm, trai ngọng v.v… Nếu thấy ủy ở phương Bính lại, thì trong quan tài có bùn nước đọng sinh ra thưa kiện v.v… sẽ ứng ào những năm Tị, Dậu, Sửu.
    2-Khí Bính Tý ở chính Nhâm long thì rất tốt thêm người, gia của phú quý song toàn, mọi việc đều tốt. Nếu thấy thủy ở phương Mùi lại và phương Khôn thì chung quanh quan quách là ái lọ chứa nước, rất xấu, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị, Dậu, Sửu.
    3-Khí Mậu Tý, 5 phân Tý, 5 phân Nhâm là hỏa khanh thì sinh ra người du đãng, bại nhân luân, không những quan tài bị rễ cây xuyên vào mà còn kiến, mối đục nữa. Nếu thấy thủy ở phương Tốn lại thì trong quan tài có 2,3 phần nước, bùn thì hỏng, sẽ ứng vào những năm: Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn.
    4-Khi Canh Tý ở chính Tý long được phú quý song toàn, phúc lộc thịnh vượng lâu bền. Nếu thấy thủy ở Tốn lại là trong quan tài có bùn thì xấu hay dở sẽ ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn.
    5-Khí Nhâm Tý, 7 phân Tý, 3 phân Quý là dương nhận, sinh ra người hay chết non và bị trộm cướp, tổn thê, hại tử, gặp nhiều tai nạn. Nếu thấy thủy ở Canh Tân lại thì trong quan tài có đầy bùn nước, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn.
    6-Khi Ất Sửu 7 phân Quý, 3 phân Tý thì người của đều được thịnh vượng, sang giàu. Nếu thấy thủy ở phương Ngọ, Đinh thì quan tài có đầy bùn nước; tốt hay xấu đều ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu
    7-Khí Đinh Sửu ở ngay Quý long, sinh ra người thông minh, lanh lợi, phú quý lâu bền; mọi sự vui vẻ. Nếu thấy thủy ở phương Mùi đến, thì trong quan tài có nước như ao thì hỏng; tốt hay xấu đều ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn
    8-Khi Kỷ Sửu có 5 phân Sửu, 5 phân Quý là hắc phong, thì con gái bị chết non, con trai bệnh tật; mọi sự đều xấu, thường sinh ra bệnh điên khùng và thất bại đau đớn. Nếu thấy thủy ở phương Hợi lại thì trong huyệt có nước và sâu bọ, là vì thủy ở trong hỏa khanh sinh xuất, sẽ ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất
    9-Khí Tân Sửu ở chính Sửu long, thì 30 năm sau mới giàu sang Đinh tài, đại vượng; mọi sự cát tường, sinh ra người nhân từ hiếu thảo, khác thường. Nếu thấy thủy ở phương Dần lại, trong quan tài có bùn nước là xấu.
    10-Khí Quý Sửu, 7 phân Sửu, 3 phân Càn là phạm cô hư, sau khi tọa táng xong có nhiều tai họa xảy ra; mọi sự không vừa ý, cả gia đình đều lủng củng, khẩu thiệt sẽ ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy thủy ở phương Kiền thì có rễ cây xuyên vào quan tài
    11-Khí Bính Dần, 7 phân Cấn, 3 phân Sửu thì huyệt bình thường, phát phúc, nhưng không bền sẽ ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất; mọi sự đều cát tường. Nếu thấy thủy ở phương Hợi lại thì quan tài bị bùn vào nát hư
    12-Khí Mậu Dần chính Cấn long thì phú quý vinh hoa đời đời thịnh vượng, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn đậu đạt; chỉ sợ thủy ở phương Mão lại xung quan thì hung.
    13-Khí Canh Dần, 5 phân Càn, 5 phân Cấn là cô hư, hỏa khanh, hắc phong, không vong. Sau khi táng 3, 6, 9 năm thấy sinh ra bệnh tật, gia tộc bại tuyệt, rất đau buồn. Lại thấy Thân thủy lại xung thì trong huyệt có bùn vào
    14-Nhâm Dần khí ở chính long Dần, thì phú quý, phúc trạch dồi dào, lắm ruộng nhiều vườn, sẽ ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu. Nếu thấy thủy ở phương Ngọ xung thì quan tài có bùn là hỏng.
    15-Giáp Dần khí có 7 phân Dần, 3 phân Giáp thì được bình an, một đời phát phúc, qua đời sau bị mắc bệnh đau mắt. Nếu thấy thủy ở Khôn xung vào thì quan tài bị mối, kiến đục thì xấu.
    16-Đinh Mão khí có 7 phân Giáp, 3 phân Dần là bình thường, sinh ra người hay tửu sắc, phiêu lưu, lười biếng, ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy thủy ở Hợi xung vào thì huyệt có nhiều bùn nước là họa bại
    17-Kỷ Mão khí ở chính Giáp long, Đinh tài đều phát đạt, ăn mặc phong lưu. Nếu thấy thủy ở Tốn xung vào thì có chuột bọ đục khoét hài cốt, con cháu đau buồn, không nghi hoặc gì nữa.
    18-Tân Mão khí có 5 phân Tân, 5 phân Mão là hắc phong, hỏa khanh sanh ra trộm cướp,ngành thứ 3 bị bại tuyệt trước, rồi đến cả các ngành khác; sau bị thưa kiện, xảy ra nhiều sự hung dữ. Nếu thấy thủy ở Canh Thân lại thì quan tài có đầy bùn ngập. Mộ này chậm không chịu di cải thì bị bại tuyệt không tránh khỏi.
    19-Quý Mão khí ở chính Mão long thì phú quý song toàn, sinh ra người thông minh, khỏe mạnh, mọi sự tăng tiến. Nếu thấy thủy ở Tị phương xung vào thì có rễ cây đâm vào quan tài, lành dữ đều ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu
    20-Ất Mão khí, 3 phân ất, 7 phân Mão, hay sinh ra người cô quả, yểu tử, đời sau sinh ra người khòng lưng, khèo chân, tuy có người cũng khó giữ thân thế an toàn. Nếu thấy thủy ở phương Tuất xung vào thì trong huyệt có nhiều bùn nước nuôi cá tốt.
    21-Mậu Thìn khí, 7 phân ất, 3 phân Mão, thì được người trường thọ, giàu sang, danh giá nêu cao. Nếu thấy thủy ở phương Thân, Dậu xung vào thì trong quan tài có kiến, bọ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu
    22-Canh Thìn khí ở ngay ất long, thì an nhàn phát phúc vĩnh cửu vô cùng; 7 đời giàu sang, sanh ra người tuấn tú, anh hùng, siêu quần quán thế, ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi; chỉ sợ Đinh thủy xung vào thì sinh hỏa tai.
    23-Nhâm Thìn khí, 5 phân Thìn, 5 phân ất là hắc phong, hỏa khanh, bại tuyệt, hay què chân, sinh khẩu thiệt, thưa kiện, ly hương, tu đạo, biệt tông. Nếu thấy thủy ở phương Tuất lại thì quan tài có bùn, bọ, kiến ở trong.
    24-Giáp Thìn khí ở chính Thìn long thì 75 năm phát giàu sang thịnh vượng. Nếu thấy Tý, Quý thủy đến thì trong huyệt có bùn ngâm
    25-Bính Thìn khí, 7 phân Thìn, 3 phân Tốn, thì người ngoài được phát phúc no ấm, yên ổn, rước con rể vào phòng (rước họa vào nhà) đời sau bại tuyệt vô tử, ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Dần, Thân thủy xung vào, thì bị rễ cây đâm vào quan, vong nhân bất an.
    26-Kỷ Tị khí, 7 phân Tốn, 3 phân Thìn thì phú quý ngang nhau, ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy phương Kiền thủy xung, thì thây cốt chôn bùn
    27-Quý Tị khí, 5 phân Tị, 5 phân Tốn là hắc phong, hỏa khanh thì bại tuyệt, bách sự hung dữ, sau khi táng 5 hoặc 7 năm thì già trẻ, lục súc tan như gió bay. Nếu thấy thủy ở phương Sửu đến xung thì có chột làm tổ ở trong huyệt.
    28-Ất Tị khí ở chính Tị long, được vinh hoa, phú quý, phúc lộc hưng long, ứng vào những năm Dần, Ngọ, Tuất có nghiệm. Nếu Quý thủy xung vào thì quan tài có bùn đầy.
    29-Đinh Tị khí, 7 phân Tị, 3 phân Bính, thì sau 3 hoặc 7 năm thì khẩu thiệt đều. Nếu thấy Mão thủy đến thì trong quan tài có bùn và nước ở ngoài xâm nhập
    30-Tân Tị khí ở chính Tốn long thì quá nguyệt là phát vinh hoa phú quý cho con cháu dòng họ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu; chỉ sợ là Ngọ Đinh thủy lại xung thôi
    31-Canh Ngọ khí, 7 phân Bính, 3 phân Tị thì nhân hưng tài vượng sẽ hẹn được đời đời tăng tiến hạnh phúc, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất; chỉ kỵ thủy ở Giáp Dần lại thì tổn Đinh.
    32-Nhâm Ngọ khí ở chính Bính long thì sinh xuất anh hung, phú quý song toàn, được 3 đời, sau cháu chắt vẫn còn thịnh vượng, ân hưởng bằng sắc huy chương. Kỵ thấy thủy ở phương Thân lại thì hỏng.
    33-Giáp Ngọ khí, 5 phân Bính, 5 phân Ngọ là hỏa khanh, năm Tị, Dậu, Sửu gia trung bị bại khuynh. Lại thấy Đinh, Ngọ thủy lại thì đáy quan tài nát như bùn.
    34-Bính Ngọ khí ở chính Ngọ long thì gia nghiệp bình bình, sinh ra người thông minh, mọi mưu sự đều thành tốt lành; gặp vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị, Dậu, Sửu. Nếu thấy Sửu, Cấn thủy lại xung thì trong quan tài bùn nước vào thì hỏng.
    35-Khí Mậu Ngọ, 7 phân Ngọ, 3 phân Đinh thì quan tụng, khẩu thiệt rắc rối, người của bình thường, hằng năm hay sanh ra hoành sự bất ngờ. Nếu thấy thủy ở Quý, Tý xung thì ứng vào những năm Dần, Ngọ, Tuất không sai
    36-Tân Mùi khí, 7 phân Đinh, 3 phân Ngọ thì sinh người tuấn kiệt, phát phúc mạnh như sấm động, tiền nát, thóc mục đầy kho. Nếu thấy Ngọ phương thủy xung, thì quan tài bị rễ cây xuyên vào thì rất xấu.
    37-Quý Mùi khí ở chính Đinh long, thì sinh ra người phú quý, thọ khảo mộc đầu. Nếu thấy phương Canh thủy xung vào thì người chết về tai ách, ứng vào các năm Hợi, Mão, Mùi
    38-Ất Mùi khí, 5 phân Đinh, 5 phân Mùi là phạm cô hư, hỏa khanh thì bại tuyệt rất đau đớn. Lại thấy Tị phương thủy xung, thì thây xương nát rã thành đất bùn, ứng vào các năm Tị, Dậu Sửu.
    39-Đinh Mùi khí ở chính Mùi long thì gặp được phú quý song toàn, lâu dài, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn. Còn gặp hung sự vào những năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy Sửu, Cấn phương thủy xung vào thì bùn nước đầy trong quan tài là hỏng.
    40-Kỷ Mùi khí, 7 phân Mùi, 3 phân Khôn là phạm cô hư thì bị tai họa phá bại không sai.
    Đến hạn những năm Dần, Ngọ, Tuất thì sinh ra bệnh phong mê cuồng độc. Nếu thấy thủy ở phương Hợi, Nhâm xung vào thì nhi tôn có sự tai họa bất ngờ.
    41-Nhâm Thân khí, 7 phân Khôn, 3 phân Mùi thì phá gia tài, bại sản, bệnh tật, đau đớn
    liên miên đáng buồn khổ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu, thuốc thang khó điều trị. Nếu gặp thủy ở phương Ngọ xung thì quan tài có đầy nước.
    42-Giáp Thân khí ở chính Khôn long, được sinh ra người thông minh, tuấn tú, phú quý
    thanh nhàn, điềm ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn; đời đời vui vẻ vô cùng. Nếu thấy thủy phương Càn lưu xung thì quan tài bể nát làm hư thì hỏng bại .
    43-Bính Thân khí, 5 phân Thân, 5 phân Khôn là hắc phong, hỏa khanh bị bại tuyệt bần cùng. Nếu thấy Tý, Quý thủy xung thì huyệt có bùn nước, thực không sai.
    44-Mậu Thân khí ở chính Thân long thì sinh ra người thông minh trường thọ, phú quý song toàn. Nếu thấy Giáp thủy xông vào thì quan tài đầy bùn nước, là tối hung.
    45-Canh Thân khí, 7 phân Thân, 3 phân Canh thì phạm cô hư, có nhiều tai nạn xảy ra. Lại thấy Kiền thủy lai xung, thì người bị về tai nạn áp bức chết.
    46-Quý Dậu khí, 7 phân Canh, 3 phân Thân được phát phú quý, người của vẹn toàn cả hai và sống lâu. Nếu thấy thủy phương Đinh xung vào thì huyệt trở thành ao ngâm nước quan tài, hài cốt hư nát.
    47-Đinh Dậu khí, 5 phân Canh, 5 phân Dậu là phạm hỏa khanh, thì bách sự bất như ý, bị tuyệt tự nhân Đinh. Nếu thấy Quý thủy xung vào thì quan tài đầy bùn nước mãi.
    48-Ất Dậu khí ở chính Khôn long sinh ra người rất thông minh và giàu sang. Nếu thấy thủy Thìn phương xung vào thì quan tài chôn chỗ nước bùn.
    49-Kỷ Dậu khí ở chính Dậu long, thì phát văn võ gần tới tước tam công (quan to) đời đời giàu sang, điềm ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy thủy phương Mão xung, thì áo quan cũng bị bùn vào, không kết phát đâu.
    50-Tân Dậu khí, 7 phân Dậu, 3 phân Tân thì giàu sang bền mãi, người của hưng vượng, mọi sự đều tốt lành, sẽ ứng vào các năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy Kiền thủy phương xung vào quan tài thì lại ưu sầu.
    51-Giáp Tuất khí, 7 phân Tân, 3 phân Dậu, được phát phú quý 1 đời không vẹn, qua đời sau sinh ra người đi làm tăng ni tu đạo; ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất, bị cô quả mà bại tuyệt, mọi sự buồn chán, lo âu. Nếu thấy thủy phương Nhâm xung vào thì sinh ra kỳ quái, ma quỷ trêu quậy.
    52-Bính Tuất khí ở chính Tân long thì sinh ra nhân Đinh phát đạt vui vẻ, đăng khoa cập đệ sớm, vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Giáp Mão thủy xung, có rễ cây đâm xuyên vào quan tài.
    53-Mậu Tuất khí 5 phân Tuất, 5 phân Thân, phạm vào cô hư, hỏa khanh, bị bại tuyệt,
    người sinh nhiều bệnh tật, chết non, cô quả, vào chùa tu đạo, tổn vợ khắc con, quyết định không nghi hoặc, ứng vào các năm Ngọ, Mùi đã biết trước rồi, lại chịu nhiều tai họa kỳ dị. Nếu thấy thủy phương ở Thân xung thì quan tài hư nát không còn.
    54-Canh Tuất khí ở chính Tuất long, thì được giàu sang, sung sướng,ăn mặc phong lưu,những năm Tị, Dậu, Sửu thấy tin vui mừng, 36 năm sẽ sanh ra người thông minh xuất chúng. Nếu thấy Ngọ, Đinh thủy xung vào thì hung bại.
    55-Nhâm Tuất khí, 7 phân Tuất, 3 phân Kiền, sinh ra người chết non, không có của cải, Ly hương vào chùa tu đạo, tổn khê, khắc tử, bại phòng 2 (con thứ 2 bại), thoái bại không thể lo tính thoát khỏi. Điềm ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy thủy Thìn, Tuất phương xung thì trong quan tài có đầy bùn nước ngập.
    56- Ất Hợi khí, 7 phân Kiền, 3 phân Tuất sinh ra con dâu quả phụ, chết non, bệnh tật
    phong tàn đủ cảnh thảm thương, con mồ côi. Năm Dần, Ngọ, Tuất thì phát khốc đau buồn. Nếu thấy thủy ở cung Khôn xung thì trong quan tài đầy mối kiến đục gặm.
    57-Đinh Hợi khí ở chính Kiền long thì đại phát phú quý, được nhiều sự cát khánh, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn; chỉ sợ Tốn thủy phương xung thì quan tài đầy bùn nước mục nát,tối hung.
    58-Tân Hợi khí ở chính Hợi long, thì Đinh tài đều phát, lâu bền thịnh vượng. Nếu thấy Ngọ, Đinh thủy xung thì bùn vào quan tài mục nát, đại hung, tối kỵ.
    59-Kỷ Hợi khí, 5 phân Kiền, 5 phân Hợi là phạm hắc long hỏa khanh, sinh ra hung bại, đến những năm Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất người ly tán tha phương, đa sinh kỳ quái. Nếu thấy Canh, Dậu thủy xung, thì rễ cây xuyên đâm vào quan tài thì hung bại.
    60-Quý Hợi khí, 7 phân Hợi, 3 phân Nhâm, được làm quan, phát mọi sự, phong hanh, người của được thịnh vượng, sẽ ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn có nhiều cảnh vui đẹp. Nếu thấy Thìn thủy xung thì trong quan tài không sạch sẽ.
    3. NHỊ THẬP TỨ SƠN
    HỎA KHANH THÂN ĐOÁN
    Mậu Tý, Giáp Ngọ khí nan đương (khí ác khó chịu)
    Âm dương sai thác, thị (là) không vong
    Hốt thính sư nhân chân khẩu quyết (tức là phép truyền khẩu)
    Lập trạch (nhà) an phận (mả) kiên Tốn thương
    Thân, Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất (ứng vào 6 năm này)
    Tật bịnh quang tai (thưa kiện) tổn nhị phòng (con thứ 2)
    Quan tặc khiên liên (kéo dài) phòng phòng chiêm (cả các con)
    Nê thủy nhập mộ (mộ) bất phi thường (độc lắm).
    ******
    Kỷ Sửu, Ất Mùi, khí hung bạo (dữ tợn)
    Kỳ trung hỏa khanh, tối bất lương
    Tị, Dậu, Sửu niên, Hợi, Mão, Mùi (ứng vào 6 năm)
    Tật bịnh quang tai, thoái điền trang
    Bạch nghĩ (môi trắng) biện tòng đế hạ (dưới đáy) nhập
    Tổn thê, khắc tử, tại tam phòng (con thứ 3)
    Thử phân (mộ này) nhược hoàn (nên còn) bất cải dĩ
    Tử tôn tháp tự (giống như) ngõa thượng sương (tuyết)
    Canh Dần, Bính Thân, khí bất lương
    Lập trạch, an phân, tổn trưởng phòng
    Thân, Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất
    Tổn thê, khắc tử tối nan đường
    Tật bịnh quang tai, phòng phòng chiếm (lẫn cả cho con)
    Thủy, hỏa, khiên liên tổn ấu phòng (con trẻ nhỏ)
    Bạch nghĩ tiên tòng, để hạ nhập
    Điền trang thoái bại, thủ không phòng (nghĩa là kiến, mối,… dưới đáy quan mà
    vào khoét, thì ruộng nương tan hết, giữa buồng rỗng tuếch)
    Tân Mão, Đinh Dậu bãi vi cường (chẳng phải mạnh)
    Lập trạch, an phân, tổn nhị phòng
    Hợi, Mão, Mùi niên, Tị, Dậu, Sửu
    Tật bịnh, quang tai, tổn tam phòng
    Thủy, hỏa Khôn liên, đa hoành sự
    Nhân Thân liên lụy, phòng phòng đương (cả các con)
    Nhâm Thìn, Quý Tị khí như thương (mũi nhọn)
    Lập trạch, an phân tổn tam phòng
    Thân. Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất
    Tật bịnh, quang tai, tổn tiểu phòng (con út)
    Hậu đại nhi tôn, đa tăng đạo
    Tổn thê, khắc tử, bất an khang.
    ******
    Mậu Tuất, Kỷ Hợi thị không vong
    Lập trạch, an phân tổn trưởng phòng
    Tị, Dậu, Sửu niên, Hợi, Mão, Mùi
    Tật bịnh, quan tai, tổn tiểu phòng
    Thủy, hỏa khiên liên, xuất ngoại tử (chết)
    Điên địa, nhân tài, như tuyết sương
    Bạch nghĩ tiên tòng, để hạ nhập
    Nhi tôn ngỗ nghịch, tẩu tha hương.
    Tiên Thánh nói: ở dưới chỗ huyệt ngồi mà không được là chân khí mạch, thì dầu có muôn tầng núi trùng Trùng, điệp điệp ở trước mặt cũng coi như là không có gì cả.
    Chỗ đặt mộ mà được long mạch tốt đẹp hoàn toàn, thì dù có ít sơn sa, cũng có thể phát phú quý được, chính là bảo vệ lý khí ở bài trên đây.
    Bính Tý, Canh Tý 2 vòng này là châu bảo, đó là “Tầng thừa sinh khí” là được cái linh khí của núi sông. Vậy lấy là cái tốt hàng đầu của 36 vòng La kinh.
     
    #8
  9. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    THẤU ĐỊA LỤC THẬP LONG THỨC .
    [​IMG]
    Bên dưới mỗi chữ về thấu địa có ghi rõ chữ số tam (3), thất (7), ngũ (5), và chữ chính,
    làm 1 vòng đến chữ thiên chính, đã bày ở tầng thứ 14.
    Đặt táng vào hỏa khanh, thì huyệt sẽ có mối, kiến, rễ cây và bùn nước chiếm ngâm nát
    hài cốt, đất trên mả khô khan, cây cỏ héo hon như phân trâu, bò, con cháu sinh dâm loạn, yểu vong, cô quả, sinh ra người ngỗ nghịch, điên cuồng, người hết, của hao, tai họa, kiện cáo liên miên v.v…
    Đặt táng vào huyệt châu bảo, mở xem hẳn là thấy có sinh khí ôn nhuận, đất có ngũ sắc vân như hồng hoàng, sáng sủa, lại có tơ hồng, dây tía phủ quấn quan tài, hài cốt. Đất trên mộ thì có khí mát, ẩm dịu, cây cỏ xanh tươi tốt. Vậy sinh ra phú quý không sai.
    4/ TẦNG THỨ 14: THẤU ĐỊA KỲ MÔN ?
    TỬ PHỤ, TÀI QUAN, LỘC MÃ QUÝ NHÂN
    BÀI CA NGŨ NGÔN: TIÊN NGÔN XUYÊN SƠN HỔ
    Phương hành thấu địa long
    Hỗn thiên khai bảo chiếu
    Kim thủy nhật, nguyệt phùng
    Nghĩa là: Trước hết nói xuyên sơn hổ, rồi đi đến thấu địa long, tự nhiên trời mở sáng như bảo kính soi, thì kim, thủy, nhật, nguyệt gặp nhau. “Xuyên sơn hổ” là tiếp mạch của 72 long, “tiên thức” là xét cái lai mạch trước để biết nhập thủ là long gì ? Không nói là long mà nói là hổ, đó là ý nghĩa của phép dùng “ngũ hổ” làm nguyên độn để ứng khí hậu, “phương hành” là đã biết long nhập thủ rồi, thì sau mới có thể làm việc thừa khí, tọa huyệt được, “thấu địa” tức là 60 long của tọa huyệt, với 72 long là cái bên trong, cái ở ngoài, nên bảo là “tương biểu lý”, thâu: là như dùng cái ống thổi khói, để khí thông vào huyệt, “xuyên” là như dùng sợi chỉ để xỏ vào lỗ kim, để được suốt tới; “hỗn thiên” là cái hỗn thiên lục Giáp dùng làm độn khởi, để tìm cái sa thủy của tứ cát, tam kỳ, “bảo chiếu” là như cái gương sáng, soi vào vật đó, có thể thấy đủ cả tứ cát tinh của hỗn thiên di chuyển “kim, thủy; nhật, nguyệt” là 4 cấm tinh này hội hợp 1 chỗ, lấy đó làm tác dụng, để thu sa, thủy, lai long của bản ở tọa huyệt hợp với tầng thứ 5 của la bàn, cùng luật lệ; trước hết theo thời tiết của 6 Giáp, định ra 3 thời hậu: thượng, trung, hạ, sau khi đã chia ra 9 cung dùng để độn Giáp, xem khởi Giáp Tý ở cung nào, sau đó mới đặt ra quẻ độn, biết quẻ đầu ở đâu, bản long tới chỗ nào, tử, phụ, tài, quan nhân đó mà suy đoán. Nhật, nguyệt, kim, thủy theo đó mà hội. Tam kỳ bát môn theo đó mà suy ra, thì biết hết sự của tinh độ nội quái.
    DƯƠNG ĐỘN KHỞI TIẾT CA
    Đông chí, kinh chập, nhất thất tứ
    Tiểu hàn, nhị bát ngũ vi thứ
    Đại hàn, xuân phân, tam cửu lục
    Lập xuân, bát ngũ nhị tương trục
    Thanh minh lập hạ, tứ nhất thất
    Ngũ thủy, cửu lục tam vô thất
    Tiểu mãn, cốc vũ ngũ nhị bát
    Nang chủng, lục tam cửu số chi
    Nghĩa là: Thuộc về tiết đông chí và kinh chập thì khởi ở số 1, 7, 4. Tiết tiểu hàn thì khởi ở số 2, 8, 5. Tiết đại hàn và xuân phân thì khởi ở số 3, 9, 6. Tiết lập xuân thì khởi ở số 8, 5, 2. Tiết thanh minh và lập hạ thì khởi ở số 4, 1, 7. Tiết ngũ quỷ thì khởi số 9, 6, 3. Tiết tiểu mãn và cọc vũ thì khởi ở số 5, 2, 8. Tiết mang chủng thì khởi ở số 6, 3, 9.
    ÂM ĐỘN KHỞI TIẾT CA
    Hạ chí, bạch lộ, cửu tam lục
    Đại tuyệt, tứ thất, nhất cung trú
    Đại thử, thu phân, thất nhất thứ
    Tiểu thử bát nhị ngũ trung xuy
    Lập đông, hàn lộ, lục tam cửu
    Lập cung, nhị ngũ, bát cung tham
    Tiểu hàn sương giáng, ngũ bát nhị.
    Sứ thử nhất tứ thất nội hàm

    Nghĩa là: Tiết hạ chí, bạch lộ ở số 9, 6, 3. Tiết đại hàn ở số 7, 1, 4. Tiết đại tuyết bạch lộ ở số 4, 7, 1. Tiết tiểu thử ở số 8, 2, 5. Tiết lập đông hàn lộ ở số 6, 3, 9. Tiết lập thu ở số 2, 5, 8. Tiết tiểu hàn sương giáng ở số 5, 8, 2. Tiết sử thử ở số 1, 4, 7.
    [​IMG]
     
    #9
  10. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    5. XÁC ĐỊNH TRUNG TUYẾN CỦA ÂM TRẠCH.
    Có hai cách để xác định trung tuyến của âm trạch :
    1. Là đường thẳng nối hai điểm chính giữa của quan tài hay tiểu ( quách nếu có ) làm trung tuyến gọi là nội phân kim .
    2. Căn cứ theo tọa , hướng của tấm bia cắm trước mộ phần để xác định trung tuyến gọi là ngoại phân kim.
    dienbatn thường sử dụng theo cách 1 thấy chính xác hơn vì nhiều khi các thày cần giấu hướng mộ nên đặt bia xoay đi một góc nhất định khác với hướng của quan tài hay tiểu làm cho những kẻ xấu muốn phá cũng không biết đâu mà lần.
    [​IMG]
    [​IMG]

    6. KHẨU QUYẾT KHI SỬ DỤNG LA KINH.
    Khi mới mua và mỗi khi sử dụng La king, các Thày Phong thủy thường có phương pháp khai quang La kinh và niệm chú để các vị Thần linh trợ giúp việc quan sát và sử dụng luận đóa cát hung được thuận lợi và chính xác . Cách làm như sau : Phong thủy sư phải thật thành tâm hương, đăng, trà quả , tay nâng La kinh lên ngang ngực đọa khẩu quyết : " Thiên hữu Tam kỳ - Địa hữu Lục nghi - Tinh linh kỳ quái - Cố khí phục thi - Hoàng sa xích thổ - Ngõa lạc phần mộ - Phương quảng bách trượng - Tùy châm kiến chi " . Sau đó đặt La kinh xuống đất 3-7 lần . Khi đặt La kinh xuống đất phải quan sát các hiện tượng dao động của kim theo kinh nghiệm " Kỳ châm bát pháp " :
    Kỳ Châm Bát Pháp
    La bàn , có nhiều vòng khác nhau , có vòng thì phối bát quái , âm dương , ngũ hành , đối với khí trường thì cảm ứng chỉ bắc đối nam rất nhạy , Thánh Hiền xưa chiếu theo thiên trì mà làm việc , lấy đó mà suy luận sự phát sinh biến hóa của khí trường , tức là Kỳ Châm Bát Pháp .
    1.Đường Châm:
    Khi kim cứ lay động không yên , không quy về trung tuyến . Đoán rằng nơi đó có quái thạch sâu bên dưới , ở đó tất có họa , nếu kim tại Tốn Tỵ Bính vị mà bồng bềnh , thì rất dễ phía dưới 9 thước có vật dụng xưa , ở đó dễ xuất người nam nữ tửu sắc , thầy bà , cô quả bần hàn .
    2.Đoái Châm :
    Đầu châm bỗng ngóc lên , cũng gọi là phù châm , đó là vì âm khí giới nhập , nếu chẳng phải tổ tiên nhà đó cũng là , phúc thần hộ pháp .
    3.Trầm Châm :
    Đầu châm bỗng hạ xuống , . Đó là do âm khí giới nhập , đó là âm mà không ác âm , cũng là oan hồn uổng tử , hoặc chết không bình thường , là do họ cảm mà ra như vậy
    4.Chuyển Châm :
    Chỉ châm chuyển mà không dừng . Ác âm giới nhập , đó là khí oán hận liên tục không dừng , ở đó tất gặp tai họa .
    5.Đầu Châm :
    Chỉ châm nửa nổi nửa chìm , hoặc nửa nổi mà không đến đỉnh , chìm cũng không đến đáy . Dưới đất có mộ phần , ở đó tất hay khóc nhiều , nên đề phòng quan tư khẩu thiệt .
    6.Nghịch Châm :
    Châm quy trung tuyến nhưng không thuận , hoặc châm tà phi . Đất đó tất xuất hiện người ngỗ nghịch , bại cả người lẫn tiền bạc , phong thủy nói không được .
    7.Trắc Châm :
    Châm mà dừng yên tĩnh , nhưng không quy về trung tuyến . Đất đó vốn là Thần Đàn Cổ Tháp , nhà ở không được .
    8.Chính Châm :
    Không dị dạng , không nghiêng không lệch , đất đó là đất chính thường , đất đó có thể đắn đo châm chước mà dùng .
    Kỳ Châm Bát Pháp là giải thích rõ ràng các lực khí quái dị , nên Phong Thủy Địa Sư khi thăm khám đất không thể không biết .
    7. TIÊU THỦY VÀ VONG THỦY .
    Tiêu thủy và Vong thủy là các cách đánh giá tương quan của hai đường nước đến và đường nước đi . Tại mộ phần mà có tình trạng Tiêu Thủy và Vong Thủy là gặp những chuyện xấu về tài lộc , nhân đinh cho dòng họ của vong nhân.
    a/ Tiêu Thủy : Thiên tiên lai thủy ( nước đến ) , hậu thiên khứ thủy ( nước đi ) : Dùng để luận đoán cát hung của âm trạch .Mối quan hệ Thiên tiên lai thủy ( nước đến ) , hậu thiên khứ thủy ( nước đi ) như sau :
    * Càn thủy lưu Cấn .
    * Khôn thủy lưu Tốn.
    * Ly thủy lưu Càn.
    * Khảm thủy lưu Khôn.
    * Đoài thủy lưu Khảm.
    * Chấn thủy lưu Ly.
    * Tốn thủy lưu Đoài.
    * Cấn thủy lưu Chấn.
    [​IMG]
    b/ Vong thủy : Hậu Thiên lai thủy - Tiên Thiên khứ thủy .
    Vong thủy chủ yếu dùng để đoán cát hung của Dương trạch . Mối quan hệ Hậu Thiên lai thủy - Tiên Thiên khứ thủy được biểu hiện như sau :
    * Càn thủy lưu Ly.
    * Khôn thủy lưu Khảm.
    * Ly thủy lưu Chấn.
    * Khảm thủy lưu Đoài .
    * Đoài thủy lưu Tốn.
    * Chấn thủy lưu Cấn.
    * Tốn thủy lưu Khôn.
    * Cấn thủy lưu Càn.
    [​IMG]
    8. MỐI QUAN HỆ GIỮA CỬU TINH VÀ BÁT QUÁI.
    [​IMG]
    [​IMG]
    PHẦN 4 : MỘT SỐ BẢNG BIỂU LẬP SẴN KHI TÍNH TOÁN THẤU ĐỊA KỲ MÔN.
    Phần bảng tính này thứ tự theo các bước lập bảng thấu địa kỳ môn đã viết ở phần đầu.
    Lưu ý là quẻ lập Thấu địa kỳ môn là lập theo Long nhập thủ của 60 thấu địa long chứ không lập theo Năm - Tháng - Ngày - Giờ như quẻ của Kỳ môn độn giáp. Khi xác định được Long nhập thủ rồi, lập quẻ Thấu địa kỳ môn dựa theo Tiết khí ta sẽ biết được cát hung của Huyệt mộ . "Thấu Địa Kỳ Môn" kết hợp Kỳ Môn Độn Giáp, Lục Hào, 28 Tú Thất Ngươn Cầm Thất Chính vào 60 Long Thấu Địa để tìm các phương vị về Tử Phụ Tài Quan Huynh, Lộc Mã Quý Nhân, Tứ Kiết (Nhật Nguyệt Kim Thủy trong Thất Chánh), Tam Kỳ Bát Môn. Dùng để luận đoán cát hung của Huyệt mộ theo tiết khí lúc đặt mộ .
    BƯỚC 1 : Trước tiên ta phải xác định Long nhập thủ của Huyệt mộ theo 60 thấu địa long.
    [​IMG]
    Đặt La kinh theo đường Trung tuyến của Huyệt mộ và quan sát theo địa hình của khu Huyệt mộ xem đâu là Thiên môn ( đường nước đến - Thủy lai ) , đâu là Địa hộ ( đường nước đi - Thủy khứ ) để xác định Long nhập thủ . Ngày nay ta có bản đồ địa hình của Google map , nên có thể đặt hình của La kinh trên bản đồ địa hình của Google map để xác định Long nhập thủ.
    Đây là một bản vẽ làm ví dụ :
    1. Địa hình khu vực : Nơi giao nhau của 2 đường thẳng là khu vực Huyệt mộ - Đường trung tuyến theo hướng chân mộ là 87 độ 5 thuộc phân kim Quý Mão - Tọa Dậu - Hướng Mão . Lưu ý hướng Đông sao Phúc đức bày bố ở cung Tỵ.
     
    #10
  11. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    [​IMG]
    2. Đặt La kinh đã xoay vòng Phúc đức ( Sao Phúc đức nằm ở Tị ), lên trùng với hướng của Huyệt vị.
    [​IMG]
    3. Xác định thủy Lai thủy Khứ . Tìm được Long nhập thủ.
    [​IMG]

    BƯỚC 2 : Tìm Tiết Khí .
    Xem năm tháng ngày giờ thuộc thời tiết nào để tính cục. Phần này trong Thấu Địa Kỳ Môn thì chỉ cần xem bản 60 phối Tiết Khí. Tiết khí này là tiết khí ngày giờ đặt mộ phần.
    [​IMG]











    [​IMG]
    BƯỚC 3 : Tính Cục
    Tính Độn Cục căn cứ vào Tiết Khí và ngày Thượng Nguyên (Giáp Kỷ gia Tý Ngọ Mão Dậu). Có 4 trường hợp, Chính Thụ, Siêu Thần, Tiếp Khí, và Nhuận. Phần tính Siêu Thần Tiếp Khí này hơi rắc rối cho nên tốt nhất là mua một quyển lịch có liệt kê các cục và tiết khí.
    May thay Thấu Địa Kỳ Môn không dụng Siêu Thần Tiết Khí bợi vì Can Chi 60 long kết hợi với Tiết Khí và Cục là không thay đổi. Chúng ta chỉ cần dùng Phù Đầu để định Cục thuộc Thượng, Trung, hay Hạ nguyên của Tiết Khí.
    [​IMG]

    [​IMG]

    BƯỚC 4 : TUẦN ĐẦU VÀ PHÙ ĐẦU.
    1. Tuần đầu :
    [​IMG]
    BẢNG 1.
    Nhìn trong bảng ngày cần tra là các ngày trong tuần - Tuần đầu là ngày chữ đỏ.
    2. Phù đầu : Từ Tuần đầu đếm tới Long nhập thủ , nếu tới Can Kỷ thì chính là Phù đầu . Nếu đếm từ Tuần đầu tới Long nhập thủ chưa tới Kỷ, thì Tuần Đầu Giáp cũng chính là Phù đầu.
    Thí dụ như Bính Tý . Ta biết Bính Tý Long thuộc tiết Đại Tuyết. Bính Tý có Tuần Đầu là Giáp Tuất, Phù Đầu cũng là Giáp Tuất .
    [​IMG]
    BẢNG 2.
    BƯỚC 5. TÌM TIẾT KHÍ.
    [​IMG]

    [​IMG]


    Nguyệt tướng :
    [​IMG]
    Dương Độn: Nghi đi thuận Kỳ đi nghịch
    Âm Độn: Nghi đi nghịch Kỳ đi thuận
    Hai câu này ý nó gì?
    Nếu ta theo thứ tự cung từ 1 đến 9, bắt đầu bày Lục Nghi: Mậu, Kỷ Canh Tân Nhâm Quý theo thứ tự (Thuận) thì Tam Kỳ, Ât Bính Đinh đi nghịch, như sau:
    1 Mậu
    2 Kỷ
    3 Canh
    4 Tân
    5 Nhâm
    6 Quý
    7 Đinh
    8 Bính
    9 Ất
    Ta thấy Ất Bính Đinh là 9, 8, 7
    Nếu Lục Nghi đi nghịch thì Tam Kỳ đi thuận như sau:
    1 Mậu
    9 Kỷ
    8 Canh
    7 Tân
    6 Nhâm
    5 Quý
    4 Đinh
    3 Bính
    2 Ất
    Ta thấy thứ tự Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý là 9,8,7,6,5, và Tam Kỳ Ất Bính Đinh là 2, 3, 4
    60 LONG NHẬP THỦ PHỐI TIẾT KHÍ .
    [​IMG]
    BẢNG 5.
    BƯỚC 6. AN ĐỊA BÀN .
    Địa bàn là bất di bất dịch .
    [​IMG]
    [​IMG]
    BẢNG 6.
    BƯỚC 7 . ĐỊNH TRỰC PHÙ - TRỰC SỬ .
    Tuần Đầu Giáp đóng tại cung nào, thì Tinh ( Sao) tại cung đó là Trực Phù, và Môn ( Bát môn ) tại cung đó là Trực Sử .
     
    #11
  12. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    Lập bảng Kỳ Môn Độn Giáp cho Long nhập thủ Bính Tý .
    1) Tìm Tiết Khí
    Theo bản 60 phối Tiết Khí và Cục ta có
    Khãm 1
    ----------------------------------------------- Th, Tr, Hạ

    Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý:**** Đại Tuyết:*** 4 – 7 – 1
    2) Tính Cục
    Như vậy ta biết Bính Tý Long thuộc tiết Đại Tuyết. Bính Tý có Tuần Đầu là Giáp Tuất, Phù Đầu củng là Giáp Tuất. Giáp (hoặc Kỷ) gia Thìn Tuất Sửu Mùi là Hạ Nguyên, như vậy:
    Bính Tý thuộc Hạ Nguyên tiết Đại Tuyết Âm Độn 1 Cục.
    Tiết Khí từ Đông Chí đến trước Hạ Chí đều là Dương Cục. Tiết Khí từ Hạ Chí đến trước Đông Chí đều là Âm Cục.
    3) Bày Kỳ Nghi Địa Bàn
    Ta biết Tuần Đầu của Bính Tý là Giáp Tuất. Mấy bài trước ta củng đã biết qua 6 con Giáp ẩn tại Lục Nghi
    Giáp Tý ẩn tại nghi (Can) Mậu
    Giáp Tuất ẩn tại nghi Kỷ
    Giáp Thân ẩn tại nghi Canh
    Giáp Ngọ ẩn tại nghi Tân
    Giáp Thìn ẩn tại nghi Nhâm
    Giáp Dần ẩn tại nghi Quý
    (Chúng ta nên ghi nhớ Giáp nào ẩn tại Nghi nào để tiện cho việc bày quẻ)
    Cục nào thì ta khởi Mậu (Giáp Tý) tại cung đó như 1 cục thì khởi tại cung Khãm, 2 thì Khôn, vv…, tức Lạc Số phối Hậu Thiên Bát Quái, Khãm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, Trung 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.
    Sau Mậu thì tới Kỷ, Canh, vv… rồi Đinh Bính Ất (6 Lục Tam Kỳ), dương độn thì bay thuận, âm độn thì bày nghịch.
    Số Lạc phối Hậu Thiên Bát Quái
    [Tốn 4-][Ly 9---][Khôn 2]
    [Chấn 3][Trung 5][Đoài 7]
    [Cấn 8-][Khãm 1-][Càn 6-]
    Bính Tý thuộc Hạ Nguyên tiết Đại Tuyết Âm Độn 1 Cục, ta có bản Địa Bàn Kỳ Nghi như sau:
    [Đinh][Kỷ-][Ất--]
    [Bính][Quý][Tân-]
    [Canh][Mậu][Nhâm]
    4) Định Trực Phù Trực Sử
    Ta biết Bính Tý thuộc Tuần Đầu Giáp Tuất. Giáp Tuất ẩn Can Kỷ.
    Theo bản Địa Bàn Kỳ Nghi thì Kỷ ở cung Ly 9, Cung Ly 9 có Tinh là Thiên Anh, Môn là Cảnh.
    Tuần Đầu Giáp đóng tại cung nào, thì Tinh tại cung đó là Trực Phù, và Môn tại cung đó là Trực Sử
    Như vậy Trực Phù là Thiên Anh.
    Trực Sử là Cảnh Môn.
    Giáp Tuất Kỷ còn được gọi là Trực Phù (tức gọi Giáp Tuất là Trực Phù), can Kỷ củng được gọi là Trực Phù Can.
    5) Lập Thiên Bàn Kỳ Nghi và Tinh
    Lập Thiên Bàn Kỳ Nghi thì ta lấy Trực Phù gia Thời Can.
    Thời ở đây là Bính Tý, Thời Can là Bính vậy.
    Ta có Can Kỷ là Trực Phù, vậy ta đêm Can Kỷ đến cung có Can Bính (tứ cung Chấn 3), và xoay chuyển toàn bàn.
    [Ất--][Tân-][Nhâm]
    [Kỷ--][Quý-][Mậu-]
    [Đinh][Bính][Canh]
    Như vậy kết hợp hai bàn lại với nhau ta có Thiên Địa bàn như sau (Can Thiên trước, Can Địa sau):
    [Ất Đinh--][Tân Kỷ--][Nhâm Ất--]
    [Kỷ Bính--][Quý-----][Mậu Tân--]
    [Đinh Canh][Bính Mậu][Canh Nhâm]
    Ta biết răng Trực Phù là Thiên Anh (đi theo Giáp Tuất Kỷ), nay Kỷ gia Bính tại Chấn, vậy Thiên Anh củng theo Kỷ đi đến Chấn cung. Thứ tự 9 tinh theo nguyên đán bàn là (bỏ chử Thiên cho đơn giản):
    [Phụ-][Anh-][Nhuế]
    [Xung][Cầm-][Trụ-]
    [Nhậm][Bồng][Tâm-]
    Tức thứ tự từ Khãm đi thuận theo chiều kim đồng hồ là Bồng Nhậm Xung Phụ Anh Nhuế Trụ Tâm. Theo Thấu Địa Kỳ Môn thì Dương Độn Thiên Cầm ký cung Khôn, Âm Độn ký cung Cấn.
    Như vậy ta chỉ cần xoay chuyển vòng 9 tinh này khởi đầu là Anh tại Chấn cung,
    [Nhuế-----][Trụ-][Tâm-]
    [Anh------][Cầm-][Bồng]
    [Phụ (Cầm)][Xung][Nhậm]
    (Cầm ký tại cung Cấn vi Bính Tý thuộc Âm Độn)
    Kết hợp với Thiên Địa Bàn Kỳ Nghi thì ta có
    [Ất Đinh, Nhuế------][Tân Kỷ, Trụ---][Nhâm Ất, Tâm---]
    [Kỷ Bính, Anh-------][Quý, Cầm------][Mậu Tân, Bồng--]
    [Đinh Canh, Phụ(Cầm)][Bính Mậu, Xung][Canh Nhâm, Nhậm]
    6) Lập Thiên Bàn 8 Môn
    Ta biết Trực Sử là Cảnh Môn, tức tại Ly 9 cung.
    Bính Tý thuộc Tuần Giáp Tuất, Hạ Nguyên tiết Đại Tuyết Âm Độn 1 Cục.
    Giáp Tý Mậu tại 1
    Giáp Tuất Kỷ tại 9
    Từ Giáp Tuất (Kỷ tại Ly 9) ta đếm nghịch đến Chi Tý của Bính Tý
    Giáp Tuất 9
    Ất Hợi 8
    Bính Tý 7
    Như vậy Bính Tý cư tại cung Đoài 7.
    Tìm thiên bàn 8 Môn, thì ta lấy Trực Sử (Môn) gia Thời Chi (tức Tý của Bính Tý)
    Ta lấy Cảnh Môn gia lên Đoài 7, cùng lúc xoay chuyển vòng 8 Môn Địa Bàn để cho Cảnh môn đến Đoài 7.
    Cách đơn giản hơn là ta đếm theo thứ tự 8 Môn của Địa Bàn (Thuận hành): Hưu Sinh Thương Đổ Cảnh Tử Kinh Khai, như vậy theo vòng tròn ta đếm như sau:
    Cảnh Đoài 7
    Tử Càn 6
    Kinh Khãm 1
    Khai Cấn 8
    Hưu Chấn 3
    Sinh Tốn 4
    Thương Ly 9
    Đổ Khôn 2
    Vậy ta có thiên bàn 8 cửa như sau:
    [Sinh][Thương][Đổ--]
    [Hưu-][------][Cảnh]
    [Khai][Kinh--][Tử--]
    Kết hợp với Thiên Địa Bàn Kỳ Nghi và 8 Môn thì ta có
    [Ất Đinh, Nhuế, Sinh-][Tân Kỷ, Trụ, Thương-][Nhâm Ất, Tâm, Đổ---]
    [Kỷ Bính, Anh, Hưu---][Quý, Cầm------------][Mậu Tân, Bồng, Cảnh]
    [Đinh Canh, Phụ, Khai][Bính Mậu, Xung, Kinh][Canh Nhâm, Nhậm, Tử]
    7 – An Bát Thần
    Thấu Địa Kỳ Môn không dùng Bát Thần, nhưng tiểu sinh củng xin trình bày cách an Bát Thần để hoàn tất một quẻ Kỳ Môn vậy.
    Bát Thần trong Kỳ Môn là
    Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trận (Bạch Hổ), Chu Tước (Huyền Vũ), Cửu Địa, Cửu Thiên.
    Vòng 8 Thần này có hai cách an, một là theo Thiên Bàn, hai là theo Địa Bàn.
    Đa số thì dùng Thiên Bàn.
    Khởi thần Trực Phù tại cung có Trực Phù trên Thiên Bàn (tức cung mà Trực Phù gia Thời Can), theo thứ tự trên, dương độn bày thuận, âm độn bày nghịch. Câu Trận và Chu Tước là dùng cho Dương Cục (Dương Độn), Bạch Hổ và Huyền Vũ cho Âm Cục (Âm Độn). Nhưng có sách thì dùng Câu Trận và Chu Tước cho cả Dương lẫn Âm Độn.
    Trong phần 5 - Lập Thiên Bàn Kỳ Nghi và Tinh , ta lấy Trực Phù Kỷ gia địa bàn Bính Can tại Chấn 3 cung, vậy Chấn 3 cung chính là cung có Trực Phù Thiên Bàn, ta khởi thần Trực Phù , nghịch hành theo thứ tự các thần như sau:
    [Thiên][Địa-][Vũ-]
    [Phù--][----][Hổ-]
    [Xà---][Âm--][Hợp]
    Kết hợp với Thiên Địa Bàn Tinh Môn Kỳ Nghi, thì ta có quẻ Kỳ Môn cho Bính Tý như sau:
    [Ất Đinh, Nhuế, Sinh, Thiên][Tân Kỷ, Trụ, Thương, Địa][Nhâm Ất, Tâm, Đổ, Vũ----]
    [Kỷ Bính, Anh, Hưu, Phù----][Quý, Cầm ---------------][Mậu Tân, Bồng, Cảnh, Hổ-]
    [Đinh Canh, Phụ, Khai, Xà--][Bính Mậu, Xung, Kinh, Âm][Canh Nhâm, Nhậm, Tử, Hợp]
    Như vậy ta đã hoàn tất một quẻ Kỳ Môn Độn Giáp

    VÍ DỤ 2 :
    Từ phần này, dienbatn đang biên tập lại.
     
    #12
  13. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    [​IMG]
    Trong 7 bài trước, dienbatn đã trình bày về phương pháp lập một bảng Thấu địa kỳ môn tính theo 60 Long nhập thủ và Tiết khí . Môn "Thấu Địa Kỳ Môn" này kết hợp Kỳ Môn Độn Giáp, Lục Hào, 28 Tú Thất Ngươn Cầm Thất Chính vào 60 Long Thấu Địa để tìm các phương vị về Tử Phụ Tài Quan Huynh, Lộc Mã Quý Nhân, Tứ Kiết (Nhật Nguyệt Kim Thủy trong Thất Chánh), Tam Kỳ Bát Môn. Thấu Địa Kỳ Môn không dùng Siêu Thần Tiết Khí bợi vì Can Chi 60 Long kết hợp với Tiết Khí và Cục là không thay đổi. Chúng ta chỉ cần dùng Phù Đầu để định Cục thuộc Thượng, Trung, hay Hạ nguyên của Tiết Khí.
    Phần này khác với kiến thức của Kỳ môn Độn Giáp một chút là Kỳ môn độn giáp : Ứng dụng năm tháng ngày giờ thì là lập quẻ Kỳ Môn Độn Giáp.(Còn được gọi là Thời Gia Kỳ Môn).Thời Gia Kỳ Môn thì lại dùng Tiết Khí, tính Siêu Thần, Tiếp Khí để định cục khởi từ Phù Đầu nào.
    Trong các phần trước ta thấy việc lập một bảng Thấu địa kỳ môn là khá phức tạp. Tuy nhiên nếu chúng ta dựa vào những bảng tính sẵn , hoặc tốt hơn hết là chế tạo một cái tựa như La kinh, trên đó có các vòng Địa bàn, Thiên bàn với Tam kỳ - Lục nghi, các sao, các cửa ... xoay theo một vòng tròn ( Các tầng của La kinh này xoay độc lập với nhau ) thì lúc đó nếu nắm vững quy luật vận động của các vòng đó, ta nhanh chóng có được một bảng THẤU ĐỊA KỲ MÔN. Sau này , nếu có thời gian , dienbatn sẽ hướng dẫn các bạn lập một cái La Kinh THẤU ĐỊA KỲ MÔN như vậy , sử dụng khá thuận tiện và nhanh chóng.
    Tại Trung Quốc hiện nay cũng có những phần mềm an bảng Kỳ môn độn giáp : Các bạn có thể tham khảo tại địa chỉ :
    http://www.destinyasia.com.sg/qi-men-dun-jia-calculator-limited-to-daily-use-only/
    [​IMG]
    [​IMG]

    Nếu bạn nào không rành tiếng Trung có thể sử dụng phần mềm dịch của Từ điển Thiều Chỉu hay chương trình dịch online :
    http://www.hanviet.org/
    Tất cả những phần việc ở các bài trên, chung quy cũng chỉ đạt được mục đích lập được một bảng THẤU ĐỊA KỲ MÔN mà thôi. Việc chính của loạt bài này dienbatn muốn trao đổi với các bạn là ứng dụng nó vào việc xây cất mộ phần. Đây mới là mục đích chính của loạt bài này.
    Sau khi lập được bảng THẤU ĐỊA KỲ MÔN, theo ví dụ trước ta có một bảng như sau :
    [​IMG]
    Ta nhận thấy rằng :
    Trên Địa bàn :
    * Các cung KHẢM 1 - CẤN 8 - CHẤN 3- TỐN 4 -LY 9- KHÔN 2 - ĐOÀI 7 - CÀN 6 thuộc Địa bàn là không thay đổi dùng để định vị phương hướng.
    Trên Thiên bàn :
    * Các sao BỒNG - NHẬM - XUNG - PHỤ - ANH - NHUẾ - TRỤ - TÂM - CẦM sẽ di chuyển xoay vòng khác lúc ban đầu.
    * Các cửa ( Môn ) : HƯU - SINH - THƯƠNG - ĐỖ - CẢNH - TỬ - KINH - KHAI sẽ di chuyển xoay vòng khác lúc ban đầu.
    * Tam Kỳ : ẤT - BÍNH ĐINH và lục nghi : MẬU- KỶ - CANH - TÂN - NHÂM - QUÝ sẽ di chuyển xoay vòng khác lúc ban đầu.
    Dựa theo vị trí mới của các Sao,Cửa, Tam kỳ , Lục nghi so sánh với Âm - Dương, Ngũ hành và sự sinh khắc ta có thể luận bàn cát hung của từng trường hợp.
    1. TÍNH CHẤT CỦA CÁC SAO.
    1/ THIÊN BỒNG.
    [​IMG]
    Sao Thiên Bồng .
    Tụng đình tranh ngạnh gặp Bồng trời.
    Trận được tên vang muôn dặm khơi.
    Xuân với Hè dụng hay quá quá (rất hay)
    Thu và Đông dụng xấu hơi hơi (nửa xấu)
    Đi xa, dựng gả đều không lợi.
    Chôn cất dựng xây cũng hỏng toi.
    Ví được Sinh môn và Bính Ất.
    Trăm ngàn công việc hẳn hơn người.
    Phù Thiên Bồng .
    [​IMG]
    Chú thiên bồng
    Thiên Bồng! Thiên Bồng! Thiên Bồng! Thiên Bồng!
    Chín nguyên giết đồng (trẻ nhỏ) Cửu nguyên sát đồng.
    Năm Đinh tám quán Ngũ Đinh đô tư.
    Súc cao Bắc Ong Cao lục Bắc ong
    Tám linh, bảy chính Thất chính, Bát linh.
    Thái thượng tỏ hung Thái thượng hiệu hung
    Sọ dài trán lớn Trường lâu cụ ngạch
    Tay cắp đế chung (chuông đế) Thủ bảo dĩ chung
    Chua bêu ba thần Vị khiêu tam thần
    Gia nghiêm biến rồng Nghiêm gia biến Long
    Chém tà không vết Trảm tà diệt tích
    Khí tía đầy trời Tử khí thừa thiên
    Ráng đỏ hách xung Đan hà hách xung
    Nuốt mà, ăn Quỷ Thôn mà, thục Quỷ
    Sà thân chín gió: Hoành thân cửu phong
    Lưỡi xanh, răng lục Thượng thiệt, lục xỉ
    Bốn mắt lão ông Tứ mục lão ông
    Đinh trời lực sĩ Thiên Đinh lực sĩ
    Oai Nam chống hung Uy Nam ngụ hung
    Trời vội khích lệ Thiên đậu khích lệ
    Oai Bắc ngậm phong Uy Bắc hàm phong
    Ba mươi vạn binh Tam thập vạn binh.
    Che ta chín vòng Vệ ngã Cửu trùng
    Thây đầy ngàn dặm Tích thi thiên lý
    Loại bỏ chẳng lành Khu phước bất tường
    Dám có tiểu Quỷ Cảm hữu tiểu quỷ
    Rụt rè thấy hình Thứ lai kiến hình
    Rợn trời búa lớn Quắc thiên đại phủ
    Chém quỷ năm hình Trảm quỷ ngũ hình
    Viêm đế đỏ máu Viêm đế lịch huyết
    Bắc đẩu nêu cao Bắc đẩu nhiên cao
    Bốn minh hài phá Tứ minh phá hài
    Mẹo trời hết số Thiên du diệt số
    Kiếm thần phạt xuống Thần kiếm nhất hạ
    Muôn quỷ tự tiêu Vạn quỷ tự tiêu
    Kíp kíp như luật lệnh Cấp cấp như luật lệnh
    Thiên Bồng:
    Thiên bồng mọi việc lợi Thu Đông
    Kiện cáo, yên bờ, Xuân hạ công.
    Dựng gả không hay, thay đổi dở,
    Vào quan lối hiểm, cửa nhà hung.
    Bán buôn, chôn cất, làm đều bỉ,
    Có được Kỳ Môn mới tạm thông.
     
    #13
  14. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    2/ SAO THIÊN NHẬM.
    [​IMG]
    Sao Thiên Nhậm ( Gánh trời)
    Thiên Nhậm sao cát việc đều thông,
    Tế tự, cầu quan, giá thú đồng.
    Chém rắn, yêu, ma, rời chôn: tốt.
    Bán buôn, chôn cất, dựng xây: mừng.
    Phù sao Thiên Nhậm.
    [​IMG]
    Thiên Nhậm:
    Kìa sao Thiên nhậm thấy uy nghi,
    Trăm việc cầu mưu lợi bốn thì.
    Tạo táng, vào quan và thỉnh yết,
    Đi buôn, dựng gả với rời đi.
    Ngoài biên cũng tốt khí thần vượng,
    Lai phát cơ duyên, Khách gặp nguy.
    3/ SAO THIÊN XUNG.
    [​IMG]
    Sao Thiên Xung (xông Trời)
    Dựng gả yên doanh, gái đẻ hờn
    Ra đi, rời chốn, họa theo luôn,
    Cất chôn, xây dựng đều không lợi,
    Mọi việc khôn long cũng bị trờn.
    Phù sao Thiên Xung.
    [​IMG]
    Thiên Xung:
    Thiên xung báo oán, sân xuân phong,
    Muôn dặm oai phong, đởm khí hung.
    Không lợi Thu Đông, Xuân Hạ thắng,
    Vào quan, buôn bán việc long đong.
    Hôn nhân, chôn cất, xây, sinh khó,
    Chờ đợi Xuân về, muôn việc thông.
    4/ SAO THIÊN PHỤ.
    [​IMG]

    Sao Thiên Phụ (Đỡ Trời)
    Thiên Phụ đi xa gặp tốt lành.
    Xây dựng chôn cất, phúc dày thành.
    Lên quan, rời chốn, đều lành tốt.
    Mừng của Người thêm, trăm việc hanh.
    Phù sao Thiên Phụ.
    [​IMG]
    Thiên Phụ:
    Thiên Phụ tu thân, lợi tạo doanh,
    Xuân hè chinh phạt nước non bình.
    Tội hình cũng được trời tha bổng,
    Tiễn xuất vào quan, công việc thành.
    Giá thú đông con, buôn lắm lợi,
    Đổi rời, yết kiến thì vô tình.
    5/ SAO THIÊN ANH.
    [​IMG]
    Sao Thiên Ương (Ương trời) - THIÊN ANH.
    Thiên ương dựng gả xấu nào tầy.
    Rời chôn, đi xa cũng chẳng hay.
    Buôn bán, thăng quan, phòng chết chóc.
    Cầu tiến, xây dựng trắng hai tay.
    Tại sao Thiên ương lại xấu vậy
    Ăn chơi, cùng trác táng thì lại hay.
    Phù sao Thiên Anh.
    [​IMG]

    Thiên Anh:
    Thiên Anh sao ấy thực loanh quanh,
    Yến tiệc, đi xa, thú vị trù.
    Chôn cất, vào tu, hôn thú tốt,
    Xây nhà dựng cửa lại không chu.
    Chủ nên cẩn thận, dừng nên Khách,
    Khách ví chưa công, nguy có cơ.
    6/ SAO THIÊN NHUẾ.
    [​IMG]
    Sao Thiên Nhuế (Ong Trời)
    Thiên nhuế học đạo kết giao hay,
    Lỡ gặp nơi nào thực chẳng may,
    Dừng việc ra đi, lùi đỡ bận,
    Yên doanh, xây dựng họa đâu đây,
    Kinh hoàng, trộm cắp, lo con trẻ,
    Nên các việc quan bị quở lây,
    Ví được Kỳ môn vào chốn đó,
    Mặn nồng mong muốn cũng bằng hay.
    Phù Thiên Nhuế.
    [​IMG]
    Thiên nhuế:
    Nhuế tinh vào đạo kết giao nên,
    Giờ việc, đi chinh chớ tự quyền.
    Trộm cắp, sợ lo, thương trẻ nhỏ,
    Tai hình, tù ngục, việc quan liền.
    Xuân Hè hung lắm, Thu Đông cát,
    Ví được Kỳ môn cũng chẳng hơn.
    7/ SAO THIÊN TRỤ.
    [​IMG]
    Sao Thiên Trụ (Cột trời)
    Thiên Trụ lánh mình giữ chẳng nên,
    Ra đi, dựng trại hẳn không yên.
    Bán buôn mọi việc đều không lợi,
    Giở việc bày ra nguy thấy liền.
    Phù sao Thiên Trụ.
    [​IMG]
    Thiên Trụ:
    Thiên Trụ trên non, xây cất lành,
    Tế thần, giá thú, việc thông hanh.
    Giấu hình, giữ cẩn là hơn cả,
    Rời đổi, đi chinh phải thụ hình.
    Các việc doanh mưu đều xấu cả,
    Cưỡng làm, Chủ hẳn bị thương kích.
    8/ SAO THIÊN TÂM.
    [​IMG]
    Sao Thiên Tâm (Lòng trời)
    Thiên Tâm luyện thuốc với cầu tiên
    Buôn bán, đi xa, tốt lộc tiến,
    Chôn cất, rời ngôi, lành tốt cả.
    Muôn công ngàn việc, gặp đều nên.
    Phù sao Thiên Tâm.
    [​IMG]
    Thiên Tâm:
    Thiên tâm mầu nhiệm đạo thần tiên,
    Luyện thuốc, cầu trên, mọi việc nên.
    Giá thú, vào quan, cùng đổi chuyển,
    Đi chinh, chôn cất, tế cầu yên.
    Thu đông thì cát, Xuân Hè xấu,
    Quân tử thì hay, dở tiểu nhân.
    9/ SAO THIÊN CẦM.
    [​IMG]
    Sao Thiên Cầm (chim Trời)
    Thiên Cầm rời chốn với đi xa
    Ngồi bán, đi buôn ý đậm đà,
    Cầu quý, dâng thơ, lòng hỷ hả,
    Cất chôn, xây dựng cỏ lên hoa.
    Phù sao Thiên Cầm.
    [​IMG]
    Thiên Cầm:
    Thiên Cầm đóng giữa bốn trời thông,
    Nói lớn ăn to, có đại công.
    Hoạt động nên dung mưu trả phục,
    Tế thần cảm ứng việc quan xong.
    Hôn nhân buôn bán và xây cất,
    Thêm có Kỳ Môn phúc đỏ hồng.
    Ngoài ra khi làm mộ địa còn có thêm 2 sao : HỮU DỰC và TẢ DỰC.
    * Phù HỮU DỰC.
    [​IMG]
    * Phù TẢ DỰC.
    [​IMG]
     
    #14
  15. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    XEM CHÔN CẤT
    Chín tinh
    Bồng : hình thủy, ngay ngắn, nhọn. Nhâm : hình thổ, cong nhọn.
    Xung : hình mộc, dài vẹo. Phụ : hình mộc, đẹp đẽ.
    Ương : hình hỏa, nhọn, hư. Nhuế : hình Thổ, lệch bên.
    Cầm : hình Thổ, vuông vắn. Trụ : hình kim, lõm ngửa.
    Tâm : hình kim, cửa oa.


    [​IMG]
    2/ TRỰC PHÙ - TRỰC SỬ.
    Luận Trực phù
    Trực phù ngôi ấy Đại tướng quân,
    Bản cung truyền cát lập công huân.
    Ba cung kiểm điểm không hung ngại
    Xông xáo Tây Đông chẳng ngại ngần.
    Lại đem Niên Mệnh mà tham bác,
    Không gặp Hình Xung, không họa xâm,
    Thiên, Địa, Đằng, Âm, Chu, Cửu Lục,
    Kẻ địch là ai, ai kẻ thân.
    Cửu Địa Thiên hình phòng đến cướp,
    Cửu Thiên hại cách chớ xua quân,
    Trực phù chớ để ngày giờ hại,
    Phương vị nên sinh Đại tướng quân (Tức Trực phù).
    [​IMG]

    XEM CHÔN CẤT
    Trực phù
    Phù : mồ mả, long thần kết tụ, hình thế khởi phục hướng về.
    Xà : đường đi, gò đống, đôi ngạn dẫn mạch.
    Âm : huyệt thuận khởi gió, bên hữu cánh cung cong vào.
    Hợp : hướng sa đường có cây cao, tả hữu có cánh cung.
    Câu, bạch : thế trong có hộ sa củng đối, thế ngoài có hữu sa.
    Chu, huyền : minh đường có nước từ xa đến, chủ sơn là lai long.
    Địa : huyệt oa, có tĩnh rút xuống.
    Thiên : hướng về phương có thế trướng che.
    Luận trực phù
    Trực phù xem mất, Hỏa thế hình,
    Mộc Hỏa Kim Thổ Thủy loại tình.
    Vượng Tướng Hưu Tù Cô Hư gặp,
    Lấy cung mà xét định cho rành.
    Thái âm huyệt tình, Cửu địa huyệt,
    Minh đường ắt trước, Chu Xà trình.
    Hướng che bình chướng, Cửu thiên hỏi,
    Chủ Sơn sa tìm, Huyền Bạch thành.
    Dụng thần không phạm Hình Cô khắc,
    Được Hợp Sinh, chôn thế đại hanh
    Luận Trực sử
    Trực sử được thời dễ tiến lên,
    Địa Môn mà cát chia chính biên,
    Xét xem Chủ Phó Niên và Mệnh,
    Môn cát thấy trong đắc thắng liền,
    Ví gặp Cương La và phản phục,
    Thái công ngầm trợ cũng vô duyên.
    XEM CHÔN CẤT
    Trực sử
    Hưu : Nhâm Tý Quý, Hoàng tuyền tại Thìn, kỵ ngày giờ Mậu Thìn
    Sinh : Sửu Cấn Dần, Hoàng tuyền tại Dần, kỵ ngày giờ Bính Dần
    Thương : Giáp mão Ất, Hoàng tuyền tại Thân,.............................Canh Thân.
    Đỗ : Thìn Tốn Tỵ, ......................................Dậu.... ............................Tân Dậu.
    Cảnh : Bính Ngọ Đinh....................................Hợi, ............................Kỷ Hợi.
    Tử : Mùi Khôn Thân...................................Mão................................Ất Mão.
    Kinh : Canh Dậu Tân....................................Tỵ....................................Đinh Tỵ.
    Khai : Tuất Kiền Hợi ....................................Ngọ.................................Bính Ngọ.
    Luận trực sử
    Trực sử chia xem Sơn với Hướng,
    Ở trong chuyển triết nhiều tình huống.
    Hưu Tù, Phi Vượng cũng nên chôn,
    Vượng bay Hưu Phế đúng động thương.
    Lại đem Phi Phục xét xem tường,
    Đây đó không thương, Sơn Hướng chuộng.
    Đáng kỵ Nhật Thời, Sát diệu phùng,
    Đoan đích bên trong có thứ trạng (trạng thái này).
    Đừng để cho Sử gặp cung này,
    Không gấp đổi rời, tai nạn vướng.
    3/ CÁC CỬA ( BÁT MÔN ).
    HƯU - SINH - THƯƠNG - ĐỖ - CẢNH - TỬ - KINH - KHAI sẽ di chuyển xoay vòng khác lúc ban đầu.
    Xem mồ mả.
    Đất mồ mả là nơi người chết ở, lành thì được phúc, hung thì có họa. Bởi vì linh hồn tổ tiên ở nơi Suối vàng mà yên thì con cháu hưng vượng, không yên thì con cháu bại vong.
    Nếu chưa táng mà xem trước thì phép này chuyên trách cứ vào cửa Tử và sao ở 2 bàn Thiên Địa mà quyết.
    Lấy Sao Địa bàn ở cung cửa Tử là người chết, Sao thiên bàn ở cung cửa Tử là người sống. Cung cửa tử có ba kỳ cùng với sao Địa bàn sinh nhau, hòa nhau, không khắc chế nhau thì người chết yên. Sao Địa bàn sinh sao Thiên bàn, sao Thiên bàn được Ba kỳ thì người còn người mất đều yên lành, sau rồi hưng vượng.
    Ví cung cửa Tử cùng với sao Địa bàn cung khắc nhau thì người sống, người chết đều không yên. Sao Địa bàn khắc sao Thiên bàn, không có Kỳ môn hộ trì thì người sống người chết đều hung, cửa Tử phản ngâm thì rời đi nơi khác sẽ cát. Cửa Tử gặp Không vong thì đất không có khí, sơ nhà báu người chết.
    Lại lấy Can gì, thần gì, cách gì mà suy. Được sao cát, can cát, sinh vượng thì cát. Thần hung, cách hung, can khắc chế thì hung.(Đây là nói sao Thiên bàn. Đáng ngờ là nói sao của 2 bàn trên dưới. Vậy nên đợi gặp bậc cao minh mà hỏi).
    1/ CỬA HƯU.
    Cửa Hưu (Cửa lành) khắc ứng
    Cửa Hưu rất thích tụ tiền nong,
    Trâu ngựa heo dê tự đến đông,
    Dựng gả phương Nam nơi xứng ý.
    Thăng quan tiến chức ngự đài cung.
    Lại thêm sản nghiệp người âm Vũ.
    Yên ổn trong nhà tai họa không.
    Hỏi rằng: Cửa Hưu thuộc Thuỷ, không vật gì không bị giết, nơi sương tuyết lạnh lẽo, chỉ toàn khí âm, là tinh của Huyền Vũ, ba sáng không chiếu tới, là cung quỷ tà náu hình, thì còn lấy gì làm cát?
    Cù Tiên đáp rằng: Nước cửa Hưu là nơi âm cùng, thực tại là cung Bình Báu. Vạn vật lấy nước làm nước sinh sát để phát khí dương ra ngoài, lấy nước làm khí chết, để thu gom về gốc mà dấu tinh ở trong. Tý là nơi 1 dương vừa trở lại, cỏ cây gặp đó mà nẩy mầm, là cửa lật gốc về nguồn nên lấy đó làm cát.
    Cửa Hưu hợp với Kỳ Đinh, dưới có Thái Âm là Nhân độn, được tinh hoa của sao che chở, trăm việc đều cát. Vượng ở cung chấn. Tướng ở cung Khảm, sinh ở Kiền Đoài đều cát cả. Ở cung Khôn, Cấn và giữa, bị Thổ khắc chế. Ở Tốn là vào Mộ, ở Ly là phản ngâm, đều không lợi. Nếu vào yết cửa quý, lấy hoà hợp thì trăm việc đều tốt. Ra đi 50 dặm gặp rắn chuột, vật đen trong nước làm ứng.
    Cửa Hưu:
    Cửa Hưu chín chín khí đầy nhà,
    Con cháu giầu sang đất cát đa.
    Tế lễ, kinh doanh, nhà đến ở,
    Phó quan, rời đổi tốt đều hòa.
    Đẻ lành, lánh kín, người hưng thịnh,
    Bắc vượng ngày Đông, sáu một qua.
    Nam Bắc hôn nhân, quen thuộc cả,
    Lại qua sáu súc (giống nuôi), trật quan gia.
    Cửa Hưu, Thần Thủy, Tham lang.
    Công cán cầu mong có cửa Hưu
    Cầu tài, xin yết quý nhân chiều
    Muốn mau cần có sao theo cát,
    Đã thấy Hưu môn, ăn uống có
    Giá thú, ra vào, năm Phúc trao
    Vào ra, rong ruổi, mạnh mau sao
    Lợi lộc, may mừng, hả biết bao
    Hưu môn cần được soi vào cửa
    2/ CỬA SINH.
    Cửa Sinh ( Cửa sống) khắc ứng
    Cửa Sinh xem được tốt tươi lành.
    Người của cùng tăng, mọi vật hanh.
    Tý Sửu năm nay, ba bảy tháng (tháng 3, tháng 7)
    Trâu, dê, lừa, ngựa chật môn đình.
    Lúa, tằm, vải vóc, đều dư dật.
    Áo tái, con trai, chốn đế kinh.
    Thêm ruộng phương Nam Thương khách (người âm Thương) tiến.
    Cháu con hưởng lộc vị công khanh.
    Hỏi rằng:
    Cửa Sinh ở Cấn Thổ là phương Thiếu Dương, lấy gì bảo cát?
    Cù Tiên đáp rằng: Cấn là Dần vị. Trời mở ở Tý, Đất giải ở Sửu, người sinh ở Dần. Khi Trời đến đó, ba Dương đều đủ, mở Thai. Do đó mà vạn vật đều sinh. Dương hồi khí chuyển, tình trời đất muốn sinh, rộng đến muôn vật mà đạo nhân sinh ra vậy, vì thế mà là cửa rất cát.
    Cửa Sinh với Kỳ Ất, dưới là cung Cửu Địa, là Địa độn, là tinh Nhật che chở, cát. Hợp với Kỳ Bính là tinh Nguyệt che chở và là Thiên độn. Hợp với Kỳ Đinh là được tinh Sao che chở và là Nhân độn, trăm việc đều cát.
    Được cửa Sinh, nên thăng quan, xây dựng, giá thú, cầu tài, chăn nuôi đều rất cát. Đi ra ngoài, 60 dặm gặp quý nhân xe ngựa, rất cát. Đến 2 cung Kiền Đoài là vượng. Đến cung giữa là tướng. Đến Khảm là Bách. Đến Chấn bị Mộc khắc chế. Đến Tốn là vào Mộ, đều không lợi. Sinh ở cung Ly, cát.
    Cửa Sinh:
    Cửa Sinh tám tám, khí đây sao,
    Hung sát đều hàng, Thổ đắp cao.
    Đợi gái mang tiền, người gửi vật,
    Từ nay phú quý, cháu con trào.
    Ba năm, định có sinh con quý,
    Đi lại ngoài châu, tiền của vào.
    Giá thú, gieo mầm và dựng đổi,
    Tiêu tai, phát phúc lạ lùng sao.
    Cửa Sinh, Thần Thổ, Tả Phù
    (Cửa này, những việc tranh tài, vào quan, giấy tờ, giá thú, lánh chạy, đi 20 dặm tất thấy chim bay lại đón thì đại cát)
    Vào ra mà gặp được môn Sinh
    Sao cát lâm thêm vạn sự thành
    Ví có hung thần cùng cách vắng
    Cầu tài sẽ được xứng tâm tình
    Cửa Sinh đã thấy kinh doanh lợi.
    3/ CỬA THƯƠNG.
    Cửa Thương khắc ứng
    Cửa Thương thôi khỏi nói, Trời chôn người chết uổng. Chồng vợ gặp tai ương. Năm ròng tháng bệnh vương. Nhọt sảy đi không được. Tin đợi chờ không có. Chân què gẫy máu loang. Ngoài ra xấu đủ đường.
    Hỏi rằng: Cửa Thương thuộc Mộc, chính gặp thời Xuân Phân, mầm non chồi ra, nên nói là cát mà lại bảo là hung, xin nói lại cho rõ.
    Cù Tiên đáp rằng: Mộc cửa Thương gặp đúng khí Xuân Phân, tinh dịch từ trong mà ra, phát dương ra ngoài, đến nỗi gốc rễ tiết ra quá nhiều. Đó gọi là ngoài Hoa, mà trong Hư, không thắng nổi khó khăn. Huống chi tháng 2, mầm non không đương nổi sương lạnh, do đó mà gọi là Thương, mà là hung.
    Cửa Thương được Kỳ thì chỉ có các việc đuổi bắt kẻ chạy trốn, trộm cắp, đi săn, đánh cá, đòi nợ, cờ bạc, vui đùa là cát. Nếu lên quan, ra đi, hôn nhân, buôn bán, xây dựng, chôn cất, đều không lợi. Rất hung.
    Cửa Thương:
    Cửa Thương khí đoản, số ba ba,
    Dần Mão vượng phương, âm Dốc pha.
    Săn lưới, đi chinh, đòi lấy nợ,
    Còn hay cờ bạc đuổi người qua.
    Quant ư, cãi cọ, tang chồng chất,
    Sáu súc toi luôn, trộm cắp sà.
    Chồng vợ choảng nhau, còn mắt bệnh,
    Ba tuần đẻ nạn, họa đào pha.
    Tuổi tên chết mất và phong chứng,
    Hổ rắn thương người, ở khó qua.
    Cửa Thương, Thần Mộc, Lộc Tồn
    (Gặp cửa này, khi ra đi tất thấy Quái lạ kinh hoảng, đổ máu)
    Xuất nhập, cầu tài, gặp cửa Thương
    Đà thêm sao cát cũng nan đương
    Trước thì bệnh tật cùng tai họa
    Thân phải phòng lo có tật ương
    Thương chiếu, luôn luôn tai tiếng mắc
    Thì ra ngoài cửa họa tai vương
    Chỉ duy vây bắt là vừa ý
    Ngoại giả sơ lo khó thể lường
    Trăm việc lưu thông, dạ hởi hanh
    Sinh hiện, ra vào hoan hỷ có
    Kinh doanh tốt nhất, khí mừng sinh.
    4/ CỬA ĐỖ.
    Cửa Đỗ nguyên là gỗ, động vào, họa tiếp liền. Tháng năm Hợi Mão Mùi, gặp phải, ngục tù kề bên. Sống chết tan rời đó. Giống nuôi chết dịch ôn. Sai xương, đòn vấy máu. Hại đếncả đàn con.
    Hỏi rằng: Cửa Đỗ là tượng Mộc, đến Hạ Đông là thời phồn thịnh, vốn là khí vượng, lấy gì mà bảo là hung?
    Cù tiên đáp rằng: Cửa Đỗ dương Mộc, gặp Hạ Đông phát sinh ra ngoài, tân dịch tiết đi, khí dương can cực, một âm đang đến. Tính Mộc đến đó thì sức chùn lại, muốn thu gom thì không đủ sức thu gom, muốn sinh vượng thì lực đã cạn, lại không tiết được sức để nuôi cháu con ( dĩ thực= kỳ tử tôn), mà phải nấp giấu con ở nơi rắn chắc (kiên mật chi xứ) sợ rằng con có thể bị thương, cho nên gọi là cửa Đỗ (cửa đóng). Có hung nhỏ.
    Cửa Đỗ là phương tàng hình, chỉ nên là nơi lánh tai nạn, lấp huyệt, đuổi bắt là cát. Các việc khác đều không lợi.
    Cửa Đỗ:
    Đỗ môn bốn bốn, ấy sao hung,
    Tính mộc, phương nghiêng Dần Mão đông.
    Đóng, dắt, ngăn dòng, nhiều lấp liếm,
    Đuổi tà, đinh trộm, móc câu tròng.
    Đi vong, trốn khó, thôi mong muốn,
    Ẩn nấp, che thân, kín đáo vùng.
    Đuổi mạnh, đi xa, thì lẽ đúng,
    Riêng tư có thể giữ lâu cùng.
    Những khi động dụng phòng quân trộm,
    Tài tán, quan tư, ôn dịch xông.
    Sét đánh, rắn thương, người ghẻ lở,
    Nhà siêu, kho cháy, lại người vong.
    Cửa Đỗ, Thần Mộc, Văn Khúc
    (Gặp cửa này, nên xuất hành, xin yết Quý, cầu tài thì hay, nhưng gặp khắc lánh thì không hay).
    Xét công cửa Đỗ mỗi khi dùng
    Mà thấy môn trung thần cát cùng
    Chè rượu tự nhiên lưu khách lại
    Hân hoan, trăm việc có vui mừng
    Đỗ môn từng thấy kinh doanh tốt
    Xuất nhập xưa nay chửa giải lòng
    Ẩn giấu nơi đây nên phải biết
    Không nhờ cây gỗ chẳng sao xong.
    5/ CỬA CẢNH.
    Cửa Cảnh (Cửa Lớn) Khắc ứng
    Cửa Cảnh nơi vương máu. Họa sinh nhiều lắm lắm. Ngoài hung và chết ác. Sống ly cùng chết biệt. Vào quan bán ruộng vườn. Con cháu khó tai ương. Giống nuôi thấy chịu thương. Xem được phải phòng phương.
    Hỏi rằng: Cửa Cảnh thuộc Hoả, phương Nam, lệnh mùa Hạ, gặp đúng vực Ly minh, lấy gì làm hung?
    Cù Tiên đáp rằng: Cửa Cảnh ở khí lệnh mùa Hạ, muôn vật lớn khoẻ, là thời sắp trở về già, gần cửa cung Khôn rồi. Lại là số thịnh của Dương, khí Trời Đất đến đó sắp có tình giết chóc. Tuy là phương trên sáng dưới cang, cũng không cát cả được (diệc bất toàn cát). Duy có lợi về việc văn thư, nhân đó mà bảo là hơi cát (thứ cát).
    Dùng cửa Cảnh chỉ nên dâng thơ, hiến kế sách, tâu đối, tuyển đưa tướng sĩ là cát. Ngoài ra thì không lợi.
    Tới Khôn, Cấn, Trung thì cát. Cung 3, 4 thì lành. Cung 1 phản ngâm. Cung 6, 7 bị bách, đại hung. Nếu được 3 Kỳ, nên đặt mưu lừa, phá trận, công lửa, ra hiệu lệnh, phong công thưởng tước, các việc như thế thì cát.
    Cửa Cảnh:
    Cảnh môn bẩy bẩy tía hồng quân,
    Tị Ngọ vượng Nam, kết Tuất Dần.
    Sai sử, đưa thư, nguy giải ách,
    Cầu mưu, tu tạo, yết cầu thân.
    Cất chôn, dựng gả, lành trong việc,
    Cấp thưởng dùng người như cánh chân.
    Hiến kế, cầu danh, gần bệ ngọc,
    Kén tài, khoa cử, nổi danh văn.
    Cửa Cảnh, Thần Hỏa, Liêm Trinh
    (Cửa này ra đi, yết kiến Quý nhân.Cờ bạc, vui chơi, tranh đuổi, lưới bắt, đi xa 40 dặm tất thấy tiếng nhạc vui).
    Đi xa, xuất nhập, Cảnh môn trung
    Không khắc, không sinh nửa cát hung
    Ví gặp sao Thần, Phương vị ác
    Cố tâm, việc cũng chẳng sao thông
    Ra vào cửa Cảnh nên lành tốt
    Trong giỡn, thưởng đùa là nhất công
    Lưới cá, đi săn đều được ít
    Không mừng, không sợ thấy an lòng
    6/ CỬA TỬ.
    Cửa Tử ( Cửa chết khắc ứng)
    Cửa tử nơi đây thật rất hung
    Mạng người gặp phải hoạ sau lưng
    Xoàng ra phải mất tiền hao của
    Còn phải phòng tang tóc chập chùng.
    Hỏi rằng: Cửa Tử thuộc Thổ, lại là phương của phần đêm sao hắc, khí Thu Đông, trời Đất tàn sát nặng nề. Từ đó mà đi, cửa hung. Sao hung, nên bỏ đi không dùng. Chả biết cửa này có còn dùng được việc gì không?
    Cù Tiên đáp rằng: Cái hung của Cửa Tử là lúc Trời Đất mặc lòng ra oai tàn sát, cỏ mất màu sắc, cây trút rụng lá, cho nên là tượng hung. Nếu được Kỳ đến trợ thì những việc như đánh tội chết, bắt bớ, săn bắn cũng được tốt, đó là thuận theo lẽ trời là thế không bỏ được.
    Cửa Tử:
    Cửa Tử hai hai, tinh ngược ác,
    Cấn Khôn Mậu Kỷ là phương được.
    Lưới săn, giết chóc, phương này nên,
    Tống táng, viếng tang thì cũng thích.
    Xây dựng lo trên với kẻ bằng,
    Tang trùng kẻ chết nhiều ngang ngược.
    Cầu mong không lợi, chẳng nên cầu,
    Động, thấy thua toi, quan mất chức.
    Cửa Tử, Thần Thổ, Cự môn
    (Cửa này nên đi săn, vây bắt, sát sinh ngàn chết, một sống. Đi 20 dặm bên Đi yết, cầu mưu vào cửa Tử đường tất thấy người tử thương là ứng)
    Đi yết, cầu mưu vào cửa Tử
    Cát thần thưa thót, Khôn bàn đủ
    Tự mình ví chẳng chịu làm ngang (tác hoành sự)
    Thì tất rồi ra thương vết đó
    Cửa Tử, Đông Tây chẳng dám đi
    Đọc tên đủ thấy không nên sự
    Tử thương, ai oán được gì đâu
    (Cửa này không nên ra cửa, lên quan,
    Bậc thành không truyền lời dối trá
     
    #15
  16. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    7/ CỬA KINH.
    Cửa Kinh khắc ứng
    Cửa Kinh chủ tranh kiện. Người chết bệnh dịch ôn. Năm Thìn, tháng Hỏa tới, thân mình hoạ đến bên. Duy giấy tờ tranh kiện, bắt bớ, cờ bạc: nên. Ngoài ra thì hung cả. Gặp Kinh là phải kiêng.
    Hỏi rằng: Cửa Kinh thuộc Kim, gặp tháng 8 lệnh Thu, muôn vật đều già, Trời Đất ra oai tàn sát muôn vật, cũng nên đó chăng?
    Cù tiên đáp rằng: Cửa Kinh, khí tàn sát, vật loại già cỗi, vốn không khí sống cho nên hung. Nhưng mà trời đất còn long ưa sống (hiền sinh chi tâm), không muốn giết hết mầm tỏi, mầm lúa đông, cũng chẳng đã mà giết. Cửa này tuy hung, mà những việc như trình thơ, dâng kế lừa, bắt bớ, đặt nghi, phục binh đều cát, cũng chẳng nên bỏ.
    Cửa Kinh:
    Cửa Kinh không hóa khí là ngược,
    Vượng ở Canh Tân Thân Dậu cước.
    Vó lưới chăng cao, tụng ngục chờ,
    Cửa công, hình kích, đều theo bước.
    Trốn đi, lừa bắt, đều có công,
    Bán chợ, tu doanh, thua lỗ trước.
    Kiện tụng, kinh hoàng, tật dịch hưng,
    Bại tù, quân giặc, chó dê chết.
    Cửa Kinh, Thần Kim, Phá Quân
    (Cửa này không nên ra cửa, lên quan,không cát, mọi việc đi 6-7 dặm tất thấy vật to lớn quái sợ là nghiệm)
    Cầu tìm, chạy mất gặp Kinh môn
    Người trốn, của tiền vẫn hãy còn
    Lại được cát tinh không khắc chế
    Thì người trốn lánh sợ bay hồn
    Kinh môn nhất định là kinh sợ
    Mọi việc ra vào tất phải sờn
    Việc tốt thôi đi đứng nói đến
    Ngồi nhà đừng động việc là hơn
    8/ CỬA KHAI.
    Cửa khai (cửa mở) khắc ứng
    Cửa Khai muốn biết chiêm làm sao?
    Đầy tớ, trâu, dê, trăm buổi vào.
    Đất cát, hôn nhân,tài lợi lắm.
    Cửa nhà rộng rãi, của đầy kho.
    Có thêm sản nghiệp người thường tiến.
    Tị-Dậu-Sửu năm thêm miệng chào:
    Con cháu ơn vua nhiều tập ấm
    Đai vàng áo tía gội ơn cao
    Hỏi rằng: Cửa Khai thuộc Kim, là lúc khí trời khô héo,là thời muôn vật tận cùng lấy gì bảo là cát?
    Cù tiên đáp rằng: Cửa Khai là kim, là lúc muôn vật héo hết. Sao không biết muôn vật héo hết mà có sống lại. Cửa Khai thuộc Kiền, trong Kiền có Hợi. Kiền nạp Giáp Nhâm (thu mầm ở Nhâm). Kim động thì thủy sinh, sinh mà sinh muôn vật, cho nên giúp sống cho muôn vật lúc mới đầu. Lại là Thiên Môn ( cửa Trời), cho nên cát. Nếu gặp được kỳ Ất (gọi là Thiên Độn = ẩn Trời) là được tinh Nhật che chở. Hợp với kỳ Bính, là được tinh nguyệt che chở. Hợp với kỳ Đinh là được Thái Âm ( âm cả) che chở, mọi việc mưu đều nên, danh chính ngôn thuận. Dùng việc công 100 cái thì được 100 thái. Dùng việc tư tất bị người khác làm tiết lộ thì lại gặp hung cừu. Ưa tới Kiền Đoài là được khí tướng (khí khá). Vào cung Khảm thủy, Kiền thủy sinh nhau như mẹ ngoảnh lại con. Vậy nên là cát. Ra đi 4 dặm hoặc 40 dặm, thấy lợn chuột các loài ấy, 60 dặm gặp qu‎ý nhân đi xe ngựa, có rượu thịt. Vào cung cấn là vào Mộ. Vào cung Chấn là Bách (bức bách), lại là 4 khí. Vào cung Tốn là phản ngâm. Vào cung Ly thì Kim bị Hỏa khắc, không lợi.
    Ra cửa Khai, 30 dặm, gặp quý nhân, cát. 40 dặm gặp lợn ngựa, có rượu thịt, cát.
    Có kỳ Ất tới thì thấy Qu‎‎‎ý nhân mặc áo hồng.
    Có kỳ Bính tới, thấy ông già chống gậy.
    Có kỳ Đinh tới, thấy người mang vật bằng tre gỗ thì ứng cát.
    Cửa Khai:
    Cửa Khai sáu sáu khí đầy phè,
    Yết kiến, cầu mưu, lợi lộc ghê.
    Dựng cửa, xây nhà, quan chức tiến,
    Ngoài về tiền lụa ngựa trâu dê.
    Mật ong hầm chứa, hoạch phát tài,
    Con cháu giàu sang, danh lợi đề.
    Thân Dậu Canh Tân, Thu nguyệt vượng,
    Bán buôn, sản xuất lợi Thu về.
    Cửa Khai, Thần Kim, Vũ Khúc
    (Gặp cửa này, nên lên quan, gặp bậc Quý,ra vào, cầu tài, rút lui, 30 dặm thấy đàn bà hoặc người mặc áo đẹp là ứng).
    Cửa Khai xuất nhập rất là hay
    Muôn việc hanh thông, tốt đẹp thay
    Xuất nhập, cầu tài, mừng rỡ thấy
    Tám phương cán sự mạnh nào tày
    Cầu tài, xuất nhập mà Khai thấy
    Tự có hân hoan, việc chẳng chầy
    Lại được cát tinh soi chiếu đến
    Gặp ngay rượu thịt, cười vui vầy.
    QUAN HỆ .
    1/Quyết đoán Tám môn
    Muốn cầu giá chợ đến Sinh phương,
    Vây bắt nên tìm Tử lộ cường.
    Muốn hỏi đi xa, Khai mở đó,
    Cửa Hưu lợi buổi yết quân vương.
    Cửa Thương đòi nợ đều vừa ý,
    Cửa Đỗ còn khi lợi án tàng.
    Kiện tụng, bắt vây, Kinh sẵn đó,
    Rượu chè hiến kế Cảnh chân hương.
    Yết Quý cầu quan dùng cửa Khai
    Cầu tài, kiếm lợi cửa Hưu lai.
    Lánh nạn, cầu quan Sinh đến đó,
    Cửa Thương đòi nợ được như lời.
    Tìm người kiếm bạn nên dung Cảnh,
    Săn bắn lưới chài Tử đó rồi.
    Bắt giặc lùng gian, kinh dùng được,
    Đỗ môn chạy mất khó mong hồi.
    2/ Tổng ca 8 cửa (bát môn tổng ca)
    Kỳ đến cửa Khai, lợi xuất hành,
    Cửa Hưu, kiện cáo, tiến thư nhanh.
    Cửa Sinh, nhập trạch và hôn thú,
    Thương mà đòi nợ, có công lênh.
    Đỗ nơi ẩn trốn và hang lấp,
    Cửa Cảnh thịt xôi chè chén nhanh.
    Cửa Tử đi săn và xuất trận,
    Cửa Kinh, phục chúng, cầu mưu thành.
    3/NÊN TRONG 8 MÔN.
    Cửa Khai nên xuất, quý nhân lưu
    Cửa Đỗ giấu thân được khỏi ưu
    Cửa Cảnh cầu tài nhiều được lắm
    Cửa thương đòi nợ được xong xuôi
    Cửa Sinh giá thú, đi xa cát
    Cửa Kinh gặp hỷ dù cũng khó trôi
    Tử đuổi bắt người và lưới cá
    Khai thì thuận lợi, chín châu ngôi.
    4/ LỆ ĐOÁN 8 MÔN GẶP CHÍN SAO
    Cửa Hưu, ví gặp được Thanh long Cửa Sinh: rất thích gặp Thanh long
    Mọi việc mưu làm, hết thấy thông Yết quý, mưu làm, trăm việc thông
    Tìm lợi cầu tài, hưng vạn bội Buôn bán kinh doanh muôn lợi bội
    Ra quân, bày trận, tất thành công Vào ra không ngại, nở nhan dung
    Cửa Hưu, Thái ất, việc trăm hung Cửa Sinh Thái ất, phúc thâm đa
    Chiến đấu, tương tranh, binh vượng hùng Xứng ý mong cầu, bủa lưới ra
    Dựng trại, nhổ doanh, đều tất thắng Kiếm lợi cầu tài hay vạn bội
    Lên quan, yết quý, bội vui mừng Hành quân, xuất nhập, vướng đều qua
    Cửu Hưu, Thiên ất gặp nhau hung Cửa Sinh ví gặp Thiên ất tinh
    Xuất nhập, cầu tài, đại cát trung Xuất nhập đều không gặp cạnh tranh
    Người quý gặp luôn, nhiều mến chuộng Bố trận bài binh đều đắc thắng
    Đón đưa rượu thịt, người trọng cùng Trăm công vừa ý, tâm xuống tình
    Cửa Khai, ví lại có Thanh long Cửa Khai, Thiên ất hội nhau cùng
    Kiến lợi trùng thu, được tục phong Xuất trận hành quân được thỏa lòng
    Yết quý, lên quan, nhiều mến chuộng Cầu thánh, kinh doanh nhiều lợi lộc
    Cầu mưu, xuất nhập, việc đều xong Thăng quan còn được của người sang
    Cửa Khai, Thái ất hội cùng nhau Tám môn hung cát tùy sự làm
    Cướp trại đoạt doanh như ý cầu Không những Khai Hưu Sinh Phá kham
    Xuất chiến, hành binh, không chẳng thắng Bầy đến 10 can, 10 tiết khí
    Cửa Khai dùng đến chẳng lo âu Đem tâm tường cứu rõ ràng tham
    5/ Phép Năm Giả
    Cửa Cảnh, hợp Ba Kỳ: Ất, Bính, Đinh, dưới địa bàn là cung Cửu Thiên gọi là Thiên giả (Trời làm giả). Ất là Thiên Đức. Bính là Thiên Uy. Đinh là Thái Âm. Phàm gặp linh của Ba Kỳ, nên bầy tỏ công việc tiện lợi, tiến lên yết kiến cầu việc, đều rất cát.
    Cửa Đỗ, hợp Đinh, Kỷ, Quý, dưới địa bàn là cung Cửu Địa, gọi là Địa giả (Đất giả), nên ẩn giấu, mai phục. Ba giờ này nên giấu tích, ẩn hình.
    Cửa Thương hợp Đinh, Kỷ, Quý, dưới địa bàn là cung Thái Âm, cũng gọi là Địa Giả, nên sai người làm gián điệp, mưu thám việc tư.
    Lại như là cung Lục Hợp, cũng gọi là Địa Giả, nên trốn chạy, tránh lánh nạn.
    Cửa Kinh, hợp Đinh, Kỷ, Quý, dưới địa bàn là cung Cửu Địa, gọi là Thần Giả , lợi việc chôn cất, ẩn nấp người không biết được.
    Cửa Kinh, hợp với Lục Hợp, còn nói hợp với Sáu Nhâm, dưới địa bàn là cung Cửu Thiên, gọi là Nhân Giả, lợi việc bắt bớ, chạy trốn. Nếu là cách Thái Bạch Nhập Huỳnh Hoặc thì dưới đó tất bắt được.
    Cửa Tử, hợp Đinh, Kỷ, Quý, dưới địa bàn là cung Cửu Địa, gọi là Quỷ Giả, lợi việc vượt chết, tiến độ. Còn nói tới cung Ba ẩn vượt, tức ba cửa cát ở địa bàn.
    Trên đây là 5 phép Giả, tuỳ nghi việc mà dùng.
    6/ Phép Ba Trá
    Phàm việc nên được ba cửa cát: Khai, Hưu, Sinh, tức không được Ba Kỳ: Ất, Bính, Đinh cũng cát, lại lấy thần âm tương trợ gọi là Ba Trá. Có địa bàn Cửu Địa, Thái Âm,Lục Hợp, ba thần trợ kỳ gọi là cửa Dương được trợ (dương môn đắc trợ), lại được cửa cát ở địa bàn tương trợ thì toàn cát.
    Ví 3 cửa cát Khai, Sinh, Hưu hợp với Ba kỳ Ất, Bính, Đinh, không được Thái Âm, Cửu Địa, Lục Hợp ở địa bàn, gọi là có cửa không Dương, có Kỳ không Âm, mọi việc gặp thì cát 7/10.
    Ba cửa Khai, Sinh, Hưu hợp với Ba Kỳ, dưới địa bàn là cung Thái Âm, lại được cửa cát, cửa cát này cần có sao cát tương trợ, gọi là Chân Trá (Dối đúng), lợi việc thi ân, ẩn trốn, tế, cầu đảo Tiên thì cát.
    Khai, Hưu, Sinh hợp Ba Kỳ, dưới địa bàn là cung Lục Hợp, lại được cửa cát tương trợ, gọi là Hưu Trá (Dối Lành), nên luyện thuốc, cầu đảo, tế thần, cầu giải tai nạn, đều rất cát.
    Cửa Khai, Sinh, Hưu hợp với Ba Kỳ, dưới địa bàn là cung Cửu Địa, lại được cửa cát tương trợ, gọi là Trọng Trá (Dối nặng), nên thu hàng binh, thêm miệng ăn, nạp tài, tập tước (con cháu kế thừa tước của ông cha), bái thụ (lạy nhậm chức tước), thì đều cát.
    Trên đây là cửa Trá, các việc như đi xa, buôn bán, hôn nhân, mọi việc đều rất cát.
    7/ Phép 9 độn biến hoá.
    1/ Ba cửa cát Khai, Hưu, Sinh, trên thiên bàn Kỳ Bính, dưới Địa bàn là Kỳ Đinh, đều gọi là Thiên Độn (Độn trời), được tinh Nguyệt che chở, hoặc dưới địa bàn là Cửu Địa, Thái Âm, cũng gọi là Thiên Độn, có thể giấu vết ẩn hình. Nếu lại có Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Xá, Nhật Lộc, Hỷ thần thì trăm việc đều cát. Có Chu Tước lợi việc văn thư, tâu đối. Có Đằng Xà thì chủ nghi hoặc. Có Thanh Long thì sinh tài hỷ. Ví có bạch Hổ, Huyền Vũ thì chủ tật bệnh, mất mát, việc nhỏ không được toàn cát. Nếu luyện tế Đinh Giáp, gọi gió, thay mưa (hô phong hoán vũ), các việc như thế mà dùng Thiên Độn thì có thể toàn cát.
    2/ Ba cửa Khai, Sinh, Hưu hợp kỳ Ất, dưới địa bàn là Cửu Địa, Thái Âm, Lục Hợp cung, đều gọi là Địa Độn (Độn Đất), được tinh Nhật che chở, có thể đặt phục, mưu làm, trăm việc đều cát. Nếu có Chu tước, nên đặt giấy tờ, làm màu lúa. Có mừng về tiền. Nếu có Bạch Hổ Được khóa cát Địa độn, nên xây dựng, khởi công, chôn cất, giấu diếm, các việc như thế đều rất cát.
    3/ Khai, Hưu, Sinh, hợp với Ba kỳ, dưới địa bàn là Lục Hợp, gọi là Nhân Độn (Độn Người), cửa Sinh với Ba kỳ tới cung Thái Âm, và cửa Sinh, Kỳ Ất tới cung Cửu Địa, cũng gọi là Nhân Độn. Có Lộc ngày, Hỷ Thần, và Quý Thần, thì chủ có mừng về tiền, các việc hòa hợp. Có Chu Tước chủ kiện cáo được lý. Có Đằng Xà chủ các việc mộng ác, quỷ mỵ. Có Bạch Hổ kỵ đi thuyền. Có Huyền Vũ chủ có trộm cắp. Nếu có sao Thiên trụ, Thiên Phụ thì chủ mưa. Thiên Xung chủ có sấm. Thiên Ương chủ có chớp. Xem tật bệnh thì chủ nguy cấp.
    4/ Khai, Hưu, Sinh hợp Kỳ Ất, dưới địa bàn là Sáu Tân mà rơi vào cung Tốn gọi là Phong độn (Độn Gió). Có 2 sao Thiên Xung, Thiên Phụ thì phương ấy có thể tế phong, nhưng không lợi cho việc đi thuyền, tin tức đến. Hành binh thì lợi đánh Hỏa công, thắng lớn.
    5/ Khai, Hưu, Sinh hợp Kỳ Ất, dưới là cung Sáu Tân gọi là Vân Độn (Độn mây); cửa Sinh hợp Thiên Nhuế, Nhậm, tới cung Khôn; Ba cửa cát hợp Sáu Tân, tới cung địa bàn, Sáu Ất; hoặc Thiên Nhuế hợp cửa Sinh, dưới địa bàn là Cửu Địa ở cung Khôn; cũng có thể gọi là Vân Độn. Tháng Đông nên cầu mây, tháng Hạ nên cầu mưa. Nếu có Bạch Hổ thì chủ có mưa đá, mưa băng. Nếu có Đằng Xà, Chu Tước chủ nắng hạn, câu cưỡng thì chiêu lấy tai hoạ. Hành binh nên đi cướp doanh, kẻ kia không biết trước được.
    6/ Khai, Hưu, Sinh hợp sao Thiên Tâm, Giáp Nhâm, Lục Hợp ở cung Khảm là Long Độn (Độn Rồng); hoặc cửa Hưu, Kỳ Ất trên Khôn; hoặc cửa Khai Lục Mậu trên Cửu Địa ở địa bàn; với cửa Hưu, Kỳ Đinh, dưới địa bàn là Cửu Địa ở cung Khảm; đều gọi là Long Độn. Phương này cầu mưa tất ứng, đánh thuỷ tất thắng. Lại được các Thần Thanh Long, Huyền Vũ, Thần Hậu, thì chủ mưa dầm, phải phòng kẻ gian tế trộm cắp.
    7/ Cửa Khai, Giáp Thân Canh, dưới địa bàn là cung Đoài, là Hổ Độn (Độn Hổ); hoặc cửa Hưu, Kỳ Ất, dưới địa bàn là Sáu Tân ở cung Cấn, cũng đều gọi là Hổ Độn. Phương ấy nên tế phong, trấn tà, đuổi quỷ, yên nhà, đều cát. Nên đi thuyền, chiêu an, đánh hiểm, siết sào huyệt, lợi khách. Nếu yên doanh, phục binh, không dám nhìn thẳng.
    8/ Cửa Khai, hợp Kỳ Ất, hợp sao Thiên Tâm, hoặc sao Thiên Cầm, dưới địa bàn là Cửu Thiên ở cung Kiền, gọi là Thần Độn (Độn Thần); hoặc cửa Sinh, Kỳ Bính hợp hai sao Cầm, Tâm, dưới địa bàn là cung Cửu Thiên, cũng gọi là Thần Độn. Phương này nên khu thần, sai tướng, thi kế, thần tất trợ ngầm. Hành binh nên làm thần tướng đắp trong ba quân, thần tất lên. Lại nên tế lễ, thần tất về nương. Nếu có Bạch Hổ, Lôi Sát, Kiếp Sát thì chủ sét đánh thương.
    9/ Cửa Hưu, Thiên Phụ, Sáu Tân, dưới địa bàn là Kỳ Đinh, ở cung Cấn, gọi là Quỷ Độn (Độn Quỷ); cửa Sinh, Thái Âm, dưới địa bàn là Kỳ Đinh; hoặc cửa Sinh, Cửu Địa, dưới địa bàn là Kỳ Đinh, cũng đều gọi là Quỷ độn, nên dò đường, xét xứ giặc, thực hành mưu gian, tung tin đồn, kẻ kia không xét nổi mà lòng quân đâm nghi hoặc. Trong nhà có quỷ, nên thư phù mà trấn thì cát. Các việc khác không lợi.
     
    #16
  17. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP TOÀN THƯ và cuốn KIM HÀM NGỌC KÍNH. )
    [​IMG]
    4. TAM KỲ - LỤC NGHI.
    TAM KỲ - LỤC NGHI
    Giáp Tí: Mậu. Giáp Ngọ: Tân Nhật kỳ: Ất
    Giáp Tuất: Kỷ. Giáp Thìn: Nhâm Nguyệt kỳ: Bính
    Giáp Thân: Canh Giáp Dần: Quý Tinh kỳ: Đinh
    Giáp Kỷ năm nay tháng Bính Dần, Ất Canh năm ấy Mậu theo chân, Bính Tân mở cửa Canh Dần ngự, ví hỏi Nhâm Đinh vẫn tháng Nhâm. Mậu Quý tháng giêng ai đó nhỉ ? Giáp Dần đầu tháng tính lần lần.
    Bài ca kỳ môn ngày
    Giáp Mậu, Nhâm Tý, khởi Khảm
    Đinh, Tân, Ất Mão, Khôn hưu.
    Canh, Giáp, Mậu Ngọ, Chấn cầu,
    Quý Đinh, Tân Dậu, Tốn mau.
    Canh, Bính Tý, nhìn Kiền phương,
    Kỷ Quý Mão, chạy Đoài lâu.
    Nhâm, Bính Ngọ, Cấn đầu núi,
    Ất, Kỷ Dậu, Ly chín chầu.
    Phép này mỗi quái quản ba ngày. Như 3 ngày Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần từ cung Khảm khởi Hưu môn.
    Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị, 3 ngày từ cung Khôn khởi Hưu môn. Y thứ tự 3 cung, 3 ngày một đổi cục.
    Trung 5 không dung. Đợi Hưu môn định xong thì theo 8 quái mà định phương vị.
    1/ ẤT KỲ. ( Nhật kỳ ).
    [​IMG]
    Thần chú kỳ Ất
    " Thiên đế uy thần, Tru duyệt quỷ tặc, Lục ất tương phù. Thiêndddaoj tán đức. Ngô lệnh sở hành. Vô công bất khắc. Cấp cấp như Huyền nữ luật lệnh "
    ( Thần uy Thiên đế, giết sạch quỷ tặc,
    Sáu ất cùng phù, Đạo trời giúp sức.
    Lệnh ta phải theo. Không công chớ chống,
    Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.)

    2/ BÍNH KỲ ( Nguyệt kỳ ).
    [​IMG]

    Thần chú kỳ Bính
    " Ngô đức Thiên trợ - Tiền hậu giá la – Thanh long bạch hổ - Tả hữu khu ma. Chu tước tiền đạo – Sử ngô hội tha – Thiên uy trợ ngã – Lúc Bính trừ kha. Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh "
    ( Đức ta Trời trợ, trước sau đón xét,
    Rồng xanh Hổ trắng, Tả Hữu đuổi ma.
    Chu tước đi trước. Hội với người ta,
    Uy trời trợ ta, Sáu Bính trừ bệnh
    Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.)

    3/ ĐINH KỲ ( Tinh kỳ ).
    [​IMG]
    Thần chú Kỳ Đinh
    Khi có việc ra đi, đem tên Ngọc Nữ bản tuần, như Tuần Giáp Tý, âm ở Đinh Mão, mà chú rằng:
    "Đinh Mão Ngọc Nữ, Hộ ngã hựu ngã, vô linh thương ngã, thị ngã giả cổ, thính ngã giả phản thụ kỳ ương "
    ( Đinh Mão ngọc Nữ, giúp ta, đỡ ta, đừng để làm thương ta. Nhìn ta thì mù, nghe lắng ta thì chịu tai ương ).
    Chú xong, thì đi, đừng ngoảnh lại, Thần ấy theo đỡ, theo được phúc lớn.
    Như trong Tuần Giáp Tuất thì hô Thần Đinh Sửu, chu như trên. Ngoài ra phỏng thế.
    Chú ca Ba Kỳ Môn cát
    Kinh nói:
    Ra cửa Sáu Ất, bước Vũ, ba chú rằng: "Bạch hổ ! Bạch hổ! Trừ đạo lộ. Dương tiến tôn lộ. Vật ngộ hữu đức chí sĩ, lai tương trợ. Xuất u nhập minh giao tương trợ. Cấp Cấp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh "
    “Hổ trắng! Hổ trắng! lối ta đi, trước nên tôn trọng.
    Chớ lầm nhận kẻ sĩ có đức, lại cùng trợ.
    Ra mờ vào tối cùng giao trợ. Kíp Kíp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh”.
    Ra cửa Sáu bính, Bước vũ, 3 chú rằng:
    "Tiên hữu Thiên cương dương uy võ. Dương tong Thanh long dữ bạch hổ hành. Tru Thiên tặc cập thiên ma. Cảm hữu bất tòng phục, thiên phú. Cấp cấp như Cửu Thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh "
    “Trước có Thiên cương dương oai võ,
    Phải đi theo Thanh long và Bạch hổ.
    Giết sạch giặc trời và ma trời,
    Dám không phục tòng, búa trời bổ.
    Kíp kíp như Cửu Thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh.
    Ra cửa Sáu Bính, bước Vũ, 3 chú rằng:
    " Ngọc nữ ! ngọc nữ! danh thần mẫu hô nhi vân chi. Đạo ngộ sở thường tong đẩu thược, nhập đẩu lý. Thanh lánh chi uyên đa thần. Chiết thảo dĩ tự chướng, vật kinh ngộ. Cấp cấp như cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh "
    “Nàng Ngọc ! nàng ngọc!
    Tên thần mẹ hô lên mà hỏi,
    Đạo ta vẫn thường từ chuôi Đẩu vào bọng Đẩu.
    Vực trong lạnh thẳm có nhiều thần.
    Bế cỏ để tự che, chớ kinh ngộ.
    Kíp kíp như Cửu thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh.
    Kinh nói:
    Ra ba kỳ môn cát, hoặc có việc gấp không kịp chú, cũng có thể cứ đi, nhưng cần chí tâm tin theo tất nghiệm. Cần là chớ có ngoảnh lại.
    Khi niệm chú, nên bước vũ, tay hữu vạch 4 dọc 5 ngang mà đọc:
    " Tứ tung ngũ hoành. Lục Giáp Lục Đinh. Huyền Vũ tải đạo. Suy vưu tị binh. Tả huyền nam đẩu. hữu bội thất tinh. Yêu ma duyệt tích. Quỷ tý tiềm hình. Can bất cảm phạm. Chi bất cảm xâm. Thái thượng hữu sắc. Ngô lệnh chỉ hành. Nhập thủy bất nịch. Nhập hỏa bất phân. Nghịch ngô giả tử. Thuận ngô giả sinh. Đương ngô giả quyệt. Thị ngô giả manh. Cấp cấp như Thái Thượng đạo tổ Thiết sư Thượng Đế luật lệnh "
    “Bốn dọc năm ngang, Sáu Giáp Sáu Đinh,
    Huyền vũ chở đạo. Suy vưu lánh binh.
    Tả khoái Nam Đẩu, Hữu theo 7 tinh,
    Tà ma mất tích, quỷ quái lặn hình.
    Can không dám phạm. Chi chẳng dám xâm.
    Thái thượng có sắc. Lệnh ta chỉ làm.
    Vào nước không đắm, vào lửa không bùng,
    Nghịch ta thì chết. Thuận ta thì sống.
    Đương ta thì diệt. Ngó ta mắt mù.
    Kíp kíp như Thái thượng đạo tổ Thiết sư thượng đế luật lệnh”
    Niệm xong thì niệm các thần chú trước, hoặc Ất, Hoặc Bính, hoặc Đinh, Ba Kỳ, tùy niệm tùy hành, cẩn thận chớ có quay đầu lại.
    Ngày đơn thì 5 ngang Đông tây. 4 dọc Nam Bắc.
    Ngày kép thì 5 ngang Nam Bắc, 4 dọc Đông Tây.
    Chú rằng:
    " Vũ vương giảm đạo. Ngô kim xuất hành. Tứ tung Ngũ hành. Suy Vưu bị binh. Chàng ngô giả tử. Tị ngô giả sinh. Ngô du thiên hạ, hoàn quy cố hương. Kinh thỉnh nam đẩu lục lang, bắc đẩu thất tinh. Ngô phụng Thái thượng lão quân. Cấp cấp chủ luật lệnh "
    “Vua vũ rút đường. Ta nay ra đi,
    Bốn dọc năm ngang. Suy vưu đủ binh.
    Chạm ta thì tử. Lánh ta thì sinh,
    Ta đi dưới Trời. Trở về cố hương.
    Kinh mời Nam Đẩu sáu chàng, Bắc đẩu bảy tinh.
    Ta vâng Thái thượng lão quân. Kíp kíp như luật lệnh”
    Tay trái bấm chữ bản nhật (thần chi của ngày này), dở tay phải, vân ngón tay vạch ngang.
    Hai chú trên, đại đồng tiểu dị, tùy ý mà dùng.
    4/ TÍNH CHẤT.
    1/Tìm giờ can giờ Tý
    Giáp Kỷ hôm nay giờ Giáp Tí
    Ất Canh tìm Bính đầu giờ chỉ.
    Bính Tân tầm Mậu Tí.
    Đinh Nhâm Canh tý cư.
    Mậu Quý khởi từ Nhâm
    2/ Nạp Giáp, Mộ
    - Kiền nạp Giáp, Nhâm. Khôn nạp Ất, Quý. Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ. Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân. Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh.
    - Giáp Thân mộ ở Kiền; Mậu mộ ở Khảm.
    3/ Tuần không
    Giáp Tý tuần này Tuất Hợi không. Gặp tuần Giáp Tuất Thân, Dậu thêm trông.
    Giáp Thân: Ngọ, Mùi không hai chốn. Giáp Ngọ tìm không: Thìn Tỵ dòng.
    Ví hỏi Giáp Thìn: Dần Mão trống. Giáp Dần: Tý, Sửu khoảng không mong.
    4/ Phương Hỷ thần
    Giáp Kỷ tìm Cấn; Ất Canh: Kiền. Bính Tân: Khôn hỏi hẳn bằng yên.
    Đinh Nhâm Ly tiếng cười ha hả. Mậu Quý Khảm say sưa rượu tốn mèn.
    5/ Lộc ngày
    Giáp: Lộc ở Dần. Ất Lộc ở Mão. Bính Mậu Lộc ở Tỵ. Đinh Kỷ Lộc ở Ngọ
    Canh: Lộc ở Thân. Tân Lộc ở Dậu. Nhâm Lộc ở Hợi. Quý Lộc ở Tý.
    6/ Hợp hóa
    Giáp - Kỷ hóa Thổ; Ất - Canh hóa Kim; Bính - Tân hóa Thủy; Đinh - Nhâm hóa Mộc.
    Mậu - Qu‎‎‎ý hóa Hỏa; Tý - Sửu hóa Thổ; Dần - Hợi hóa Mộc; Mão - Tuất hóa Kim;
    Thìn - Dậu hóa Hỏa; Tỵ - Thân hóa Thủy; Ngọ - Mùi có hợp không hóa.
    7/ Phương Quý nhân
    Ngày Mậu Canh : Sửu dương QUÝ Mùi âm QUÝ
    - Ất : Thân - TÝ -
    - Bính : D ậu - Hợi -
    - Đinh : Hợi - Dậu -
    - Nhâm : Mão - Tỵ -
    - QUÝ: Tỵ - Mão -
    - Tân : Dần - Ngọ -
    - Giáp : Mùi - Sửu -
     
    #17
  18. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    8/Tam Kỳ đắc Sử : là Ất gặp Tuất Ngọ, Bính gặp Tý Thân, Đinh gặp Dần Thìn.
    Còn có:
    Ngày Giáp Kỷ gặp Ất. Ngày Ất Canh gặp Đinh.
    Ngày Bính Tân Gặp Bính. Ngày Đinh Nhâm gặp Ất.
    Ngày Mậu Quý gặp Đinh.
    9/ Tam Kỳ du Lục Nghi là cách Ngọc Nữ thủ môn ( Người Ngọc tựa cửa) và là:
    Giáp Kỷ gặp Bính. Ất Canh gặp Tân. Bính Tân gặp Ất
    Đinh Nhâm gặp Kỷ. Mậu Quý gặp Nhâm
    10/ Quyết 10 can khắc ứng.
    1. Sáu Giáp với Sáu Mậu là một (Can giáp ẩn ở 6 mậu).
    - Mậu thiên bàn trên Mậu địa bàn gọi là Phục ngâm. Mọi việc đều bế tắc. Giữ tĩnh thì cát.
    - Mậu trên Ất gọi là Thanh Long hợp linh ( Rồng xanh hợp thiêng). Được Môn cát thì việc cát, Môn hung thì việc hung.
    - Trên Bính gọi là Thanh Long Phản thủ (Rồng xanh ngoái cổ). Mọi việc làm đều rất lợi. Môn gặp Bách, Mộ, Kích, Hình: việc cát thành hung.
    - Trên Đinh là Thanh Long diệu minh (Rồng xanh lóe sang, các việc vào cửa Quí, cầu danh đều cát lợi. Nếu gặp Mộ, Bách thì mang tiếng không hay (thị phi).
    - Trên Kỷ là Quí nhân nhập ngục (người sang sa ngục) các việc công tư đều không lợi.
    - Trên Canh là Trực Phù phi cung (Cung trực Phù bay thì việc cát không được cát, việc hung càng thêm hung.
    - Trên Tân là Thanh Long triết túc (Rồng xanh gẫy cẳng). Được Môn cát thì còn có thể mưu làm. Nếu phải Môn hung thì chiêu tai họa, mất tiền tài, mắc tật ở chân.
    - Trên Nhâm là Thanh Long nhập Thiên lao (Rồng xanh vào Lao Trời) phàm âm dương đều không cát lợi.
    - Trên Quí là Thanh Long Hoa Cái cát cách (Cách cát Rồng xanh che lọng hoa). Được cách cát thì tốt, được phúc, gặp môn hung thì gặp nhiều sai suyễn.
    2. Sáu Ất trên Sáu Mậu là lợi âm hại dương. Môn gặp hung bách thì cửa phá người thương.
    - Trên Ất là Nhật kỳ phục ngâm, không nên vào người quý, cầu danh, chỉ nên yên phận giữ thường.
    - Trên Bính là Kỳ Nghi thuận toại, gặp cát tinh thì thăng quan tiến chức, gặp hung tinh thì vợ chồng ly biệt.
    - Trên Đinh là Kỳ Nghi tương tả (giúp đỡ nhau), việc văn thư thì cát. Trăm việc đều làm được.
    - Trên Kỷ là Nhật kỳ nhập vụ bị Thổ ám muội (Kỳ Nhật vào sương mù, bị đất làm tối tăm). Gặp Môn hung tất là hung. (được Môn 2 cát là Địa độn).
    - Trên Canh là Nhật kỳ bị hình (Kỳ Nhật bị đâm), có kiện cáo nhau tài sản, vợ chồng ý riêng nghi.
    - Trên Tân là Thanh Long đào tẩu (Rồng xanh trốn chạy), đầy tớ lừa chủ, sáu giống nuôi bị đau ốm.
    - Trên Nhâm là Nhật kỳ nhập địa ( Kỳ Nhật lặn đất), thứ bậc trái loạn, kiện cáo, việc qua, tai tiếng.
    - Trên Quý là Hoa cái Bồng tinh cung ( Lọng hoa che cung sao Bồng), giấu tích, tu đạo, ẩn lánh, tàng hình, lánh tai, xa nạn thì tốt.
    3. Sáu Bính trên Sáu Mậu gọi là Phi điểu điệt huyệt (chim bay về tổ, mưu làm mọi việc đều chu tất tốt lành.
    - Trên Ất là Nhật Nguyệt tinh hành (Nhật Nguyệt sóng nhau đi) việc công việc tư đều cát.
    - Trên Bính là Nguyệt kỳ bột soái ( Kỳ nguyệt xoè chổi) thì văn thư bức bách, phá hao, mất mát.
    - Trên Đinh là tân Kỳ Chu tước (Kỳ tân sẻ son), người quý thì văn thư cát lợi, người thường thì bình tĩnh (được ba môn cát là Thiên độn…?).
    - Trên Kỷ là Thái Bột nhập hình ( Sao chổi bị hình), tu thì bị hình trượng, văn thư không xuôi. Được Môn cát thì cát, Môn hung thì chuyển hung.
    - Trên Canh là Huỳnh nhập Thái Bạch (Huỳnh hoặc vào Thái bạch), cửa nhà phá nát, trộm cắp hao tổn.
    - Trên Tân là mưu sự tựu thành (cầu việc được thành, người bệnh không hung).
    - Trên Nhâm là Hoả nhập Thiên La ( Lửa vào vó trời), là khách không lợi, tai tiếng cũng khá nhiều.
    - Trên Quý là Hoa cái bột soái ( Lọng hoa xoè chổi), người âm thì hại, tai hoạ sinh dần.
    4. Sáu Đinh trên Sáu Mậu là Thanh Long chuyển quang ( Rồng xanh chuyển sáng), người làm quan thì lên chức, người thường thì may mắn.
    - Trên Ất là Nhân độn cách cát. Người quý thì lên quan thêm tước, người thường thì có mừng về hôn nhân, tiền tài.
    - Trên Bính là Tinh tùy Nguyệt chuyển ( Sao theo trăng chuyển), người quý thì vượt cấp thăng cao, người thường thì trong vui sinh buồn.
    - Trên Đinh là Kỳ nhập Thái Âm ( kỳ vào Thái Âm) thì có văn thư đến, việc mừng vừa lòng.
    - Trên Kỷ là Hoả nhập Câu trận (Lửa vào móc câu) thì vì nữ nhân mà sinh gian tư thù oán.
    - Trên Canh là cách Niên Nguyệt Nhật thời, thì văn thư trở cách, người đi xa tất về.
    - Trên Tân là Chu Tước nhập ngục (Sẻ son vào tù) thì người tội được tha tù, người làm quan mất ngôi.
    - Trên Nhâm là Ngũ thần hổ hợp (Năm thần hợp nhau) thì người quý được ơn trời, kiện tụng tù ngục được công bình.
    - Trên Quý là Chu Tước đầu giang (Sẻ son lao sóng) thì văn thư khẩu thiệt đều tiêu, tin tức tắt ngủm.
    5. Sáu Kỷ trên Sáu Mậu gọi là Khuyển ngộ Thanh long (Chó gặp Rồng xanh) được Môn cát thì mưu vọng vừa lòng, người trên thấy thì vui mừng. Môn hung thì uổng tâm cơ khó nhọc.
    - Trên Ất là Mộ thần bất minh. Địa hộ Bồng tinh (Thần mộ không minh, Ngõ đất sao Bồng) nên giấu tích ẩn hình thì lợi lắm.
    - Trên Bính gọi là Hoả Bột địa hộ ( Lửa sao chổi soi Ngõ đất) người dương oán oán hại nhau, người âm dâm ô.
    - Trên Đinh gọi là Chu tước nhập mộ (Sẻ son vào mộ) tờ văn tờ trạng, giấy tờ kiện cáo, trước cong queo sau thẳng.
    - Trên Kỷ gọi là Địa hộ phùng quỷ (Ngõ đất gặp quỷ) xem bệnh chết, trăm sự đều không vừa ý.
    - Trên Canh là cách Lợi cách phản danh (cách lợi lật lai danh), kiện cáo mà động trước thì không lợi, gặp sao âm thì có tính mưu hại.
    - Trên Tân gọi là Du hồn nhập pháp (hồn chơi vào mộ), người lớn thì quỷ mị ám, người nhỏ thì hồn gia tiên quấy nhiễu.
    - Trên Nhâm là Địa cương cao trương (Lưới đất trương cao) thì trẻ láu cá, gái dâm dật, người gái gian tình giết thương.
    - Trên Quý là Địa hình Huyền vũ (Đất đầu Rùa xám) thì Nam Nữ tật bệnh sắp nguy, kiện cáo có tai họa tù ngục.
    6. Sáu Canh trên Sáu Mậu gọi là Thái Bạch Thiên Ất Phục cung (Thái Bạch Thiên Ất nép trong cung) hung lắm, trăm sự đều không thể mưu làm.
    - Trên Ất gọi là Thái bạch Bồng tinh (Thái bạch sao Bồng) lui thì cát, tiến thì hung.
    - Trên Bính gọi là Thái bạch nhập huỳnh (Thái Bạch vào Huỳnh hoặc) xem giặc thì tất đến. Là khách thì có lợi, là chủ thì phá tiền tài.
    - Trên Đinh là cách Đình Đình (đứng sừng sững) vì quen thân mà sinh việc quan tư. Được Môn cát thì có cứu.
    - Trên Kỷ gọi là cách hình (Đâm) việc quan bị trọng hình.
    - Trên Canh gọi Thái Bạch đồng cung( Thái Bạch cùng cung) họa quan nha ngáng trở, anh em hầm hè nhau.
    - Trên Tân gọi là Bạch Hổ can cách (cách can Bạch Hổ), đi xa thì xe gẫy, ngựa chết.
    - Trên Nhâm là Viễn hành thất mê đạo lộ (đi xa mất đường mê muội), trai gái tin tức sai lạc.
    - Trên Quý là cách Đại (Lớn), người đi xa về đến, việc quan tư chỉ, sinh sản mẹ con đều hung.
    7. Sáu Tân trên Sáu Mậu gọi là Khôn long bị thương (Rồng khôn bị thương) mắc việc quan tư phá tán, cúi ngửa giữ phận, vọng động thì mắc tai họa.
    - Trên Ất là Bạch Hổ xương cuồng (Hổ trắng gào rống), người chết, nhà bại, đi xa gặp tai nạn. Người tôn trưởng không ưa, xe thuyền đều thương.
    - Trên Bính gọi Can hợp bột soái. Huỳnh hoặc xuất hiện (Can hợp sao chổi, sao huỳnh hoặc hiện mọc), xem mưa thì không mưa, xem tạnh thì nắng hạn, xem việc thì vì tiền tài mà kiện nhau.
    - Trên Đinh gọi Ngục thân đắc kỳ (Thân ngục được lạ). Kinh thương thì được bội, người tù thì được tha.
    - Trên Kỷ gọi Nhập ngục tự hình (vào tù tự đâm) đầy tớ bội chủ. Kiện tố không giải bày được.
    - Trên Canh gọi bạch Hổ xuất lực (Hổ trắng ra sức), dao nhọn tiến nhau, chủ khách can hại nhau. Nhịn nhường lui gót thì còn có che cưỡng, tiến thì máu đào ướt áo.
    - Trên Tân là Phục ngâm, tại sân trời, công thì bỏ, tư thì làm, kiện tụng tù ngục, tự chuốc thêm tội.
    - Trên Nhâm gọi Hung xà nhập ngục (Rắn dữ vào tù), hai trai tranh một gái, kiện tụng không dứt, động trước thì mất lý.
    - Trên Quý gọi Thiên Lao Hoa cái (Lao trời Long hoa), trời trăng mất sáng, lâm vào lưới, động chủ sai suyển.
    8. Sáu Nhâm trên Sáu Mậu gọi là Tiểu xà hoá Long (Rắn nhỏ hoá Rồng), trai thì phát đạt, gái sinh con sáng.
    - Trên Ất gọi là cách danh tiểu xà (đổi tên rắn nhỏ) gái thì hiền ngoan, trai thì than thở. Xem thai; sinh trai, ngưu lộc rực rỡ (Lộc mã quang hoa).
    - Trên Bính gọi thuỷ xà nhập hoả (Rắn nước vào lửa), việc quan, tai nạn liên miên không dứt.
    - Trên Đinh gọi Can hợp xà hình (Can hợp rắn đâm) văn thư dây dưa không dứt, người quý thì . Nam tốt nữ xấu.
    - Trên Kỷ gọi Hung xà nhập ngục (Rắn dữ vào tù) họa lớn đang đến, liệu chiều thì lành, kiện cáo đuối lý.
    - Trên Canh gọi Thái Bạch cầm xà (Thái Bạch bắt rắn), hình ngục công bình, phanh phui tà chính.
    - Trên Tân là Đằng xà tương chiến (Rắn bay quần nhau), ví được môn cát cũng không yên; nếu có mong muốn, bị người lừa dối.
    - Trên Nhâm gọi xà nhập địa la (Rắn vào vó đất), người ngoài lôi cuốn, việc trong lẩn quẩn. Được Môn cát, sao cát thì đỡ sai suyễn.
    - Trên Quý gọi là Ấu nữ gian dâm ( gái nhỏ dâm bậy), nhà có tiếng xấu. Môn cát sao hung (lật họa thành phúc).
    9. Sáu Quý trên Sáu Mậu gọi là Thiên Ất hội hợp cát cách, có mừng về tiền của, hôn nhân tốt lành có người giúp đỡ thành hợp.Ví phải Môn hung, bách chế thì trái lại có họa, có quan phi.
    - Trên Ất gọi là Hoa cái Bồng tinh (Lọng hoa sao Bồng), người quý ở ngôi Lộc, người thường thì bình yên.
    - Trên Bính gọi là Hoa cái Bột soái (Lọng hoa xoè chổi), kẻ quý người tiện gặp nhau, người trên thấy thì mừng.
    - Trên Đinh gọi Đằng xà yêu kiều (Rắn bay uốn éo) văn thư quan tư lửa đốt không lối chạy.
    - Trên Kỷ gọi là Hoa cái Địa hộ (Lọng hoa ngõ đất), nam nữ mà xem tin tức đều trở ngại. Trốn tai lánh họa thì hay.
    - Trên Canh gọi là Thái Bạch nhập võng (Thái Bạch vào lưới), lấy sức tranh kiện tụng hoà.
    - Trên Tân gọi cương cái Thiên Lao (Lưới lọng Lao trời), xem kiện tội khôn tránh, xem bệnh chết.
    - Trên Nhâm gọi Phục kiến Đằng xà (Lại thấy rắn bay) xem giá thú thì trùng hôn, gả chồng sau thì không con, không giữ được tuổi sống.
    - Trên Quý gọi Thiên cương tứ trương (Vó trời bốn bức), người đi mất lối, bệnh kiện đều thương.
    11/ Xuất hành, hô tên thần 10 can trong 12 giờ
    Giáp là Thần Thiên Phúc - Vương Văn Khanh.
    Ất là thần Thiên Đức - Long Văn Khanh.
    Bính là thần Thiên Uy - Đỗ Đường Trọng Khanh.
    Đinh là thần Thiên Ngọc - Nữ Lý Du Điền.
    Mậu là thần Thiên Vũ - Tư Mã Dương.
    Kỷ là thần Minh Đường – Kỷ Du Khanh.
    Canh là thần Thiên Hình – Châu Du Dương, Quách Dương Chi.
    Tân là thần Thiên Đình – Cao Tử Cường.
    Nhâm là thần Thiên Lao – Vương Lộc Khanh.
    Quý là thần Thiên Ngục – Viên Cường, Viên Tử Quang.
    12/ ĐỘN.
    Thiên độn
    Kỳ Bính, cửa Sinh, dưới hợp sáu Đinh, không phạm Kỳ gặp Mộ Hình là được Tinh Nguyệt che trở, trong ứng vào Tâm, ngoài chủ vào Thân. Khí ấy thăng lên trên đẩu, chất ấy chú vào Tâm, tên gọi Nguyên châu. Có thể nghe mà làm việc. Lên trời, lúc có việc, gọi thần Ngọc nữ tên là Đinh Mão thì Thần Mão ấy phù hộ.
    Chú rằng: “Hỡi thần Đinh Mão Ngọc nữ, giúp ta, đỡ ta, không để cho Quỷ thương ta. Ngó ta thì mù, ác với ta phải chịu tai ương”.
    (Đinh Mão Ngọc nữ, hộ ngã hựu ngã, vô linh hữu quỷ thương ngã. Thị ngã giả cổ, ác ngã giả phản thụ kỳ ương).
    Chú xong đi thẳng, chớ có ngoái cổ lại.
    Phương này có thể sánh với quyền vị bậc vương hầu, lợi cho triều đình. Quân vương tạ trời. Lễ cầu phúc và lợi cho chính chiến, khiến địch tự phục. Dâng thư hiến kế sách, cầu quan, tiến chức. Tu thân, ẩn tích, phạt ác trừ hung. Mua bán xuất hành, trăm việc đều cát. Hôn nhân, đến ở, đi lại phương này đại cát.
    Địa độn
    Kỳ Ất, cửa Khai, dưới là sáu Kỷ, được tinh Nhật che chở. Khí ấy vàng. Trong ứng với Tỳ. Ngoài ứng vào hình. Gặp việc gọi lên ứng dụng. Còn tên là Hoàng bà Kim công. Có thể làm được là ở các tiên Nam cung. Khi có việc thì hô Ngọc nữ bản cục, y phép trên mà chú, liền được giúp đỡ. Ra nơi Tử đình, che Kỷ làm Địa hộ. Được tinh Nhật che. Phương ấy có thể giấu binh, nép tướng, đóng trại yên doanh. Dựng phủ làm lâm, đắp vây xây tường, yên mộ khai mỏ, tu tạo cầu tiên. Trốn lẩn, biệt kích, xuất trận công thành, toàn quân thắng lớn. Trăm việc đều cát.
    Nhân độn
    Kỳ Đinh hợp cửa Hưu, dưới là vị Thái âm, là được tinh sao che trở. Khí này xanh đen. Trong ứng với Thận, ngoài ứng với tai mắt, tên gọi Hoàn Dương Đan. Làm ra thì lưu đời dài năm. Có việc ra ngoài, hô thần Ngọc nữ của bản tuần, như phép trên mà chú.
    Phương ấy có thể cầu người hiền, chọn tướng mãnh, thuyết địch, hòa cừu, ba năm đều cát. Lại nên mưu kết, hôn nhân thêm người, hòa hợp giao dịch, lợi chợ gấp mười. Nếu phục binh, hiến kế sách, dâng thư, đều đại cát.
    Thần độn
    Kỳ Bính, cửa Sinh, dưới là vị của Cửu thiên, là được thần linh che trở.
    Phương ấy nên tế thần minh, dùng thuật thánh, vạch đất đặt trù, bước giẫm cương, tạo đàn tràng, chạm khắc quỷ thần, thu quỷ mỵ, tự có uy phục. Lại lợi công hư, giấu của, âm mưu, kế mật, rất là huyền diệu. Mở đường lấp sông, tu sửa thần tượng, bồi đắp nét thần để đợi thần ứng.
    Quỷ độn
    Kỳ Đinh, cửa Hưu, dưới là vị của Cửu địa, là được Quỷ thần che chở.
    Phương ấy có thể thám thính cơ mưu, cướp doanh trại, đặt phục công hư, nhòm mật động tĩnh, trá ngụy văn thư, đẩy cô quả, để đợi quỷ ứng.
    Phong độn
    Kỳ Bính, cửa Khai, dưới là cung Tốn, không phạm Mộ Bách là được linh kỳ, thuận buồm xuôi gió tiện lợi.
    Lại nghi Tâm hợp cửa Sinh, cửa Hưu, dưới là sáu Ất. Phương ấy có thể lặng lẽ hớp khí gió mây, phun lên cờ phướn nhiều lần hoặc gọi Thác dị độn, khiến quân sĩ lặng lẽ nghe âm.
    Lại kỳ bính, cửa Khai, trên cung Khôn, nên cầu đảo Phong bá vũ sư, cùng với lũy dịch dụng cờ phướn, để đợi gió ứng.
    Vân độn
    Kỳ Ất, cửa Khai, ở trên cung Khôn, không phạm Mộ Bách, là được Mây che chở.
    Lại Kỳ Ất, cửa Khai, dưới là sáu Tân. Phương ấy có thể lặng lẽ hớp gió mây phun lên giáp mạo, mây xanh nhiều lần, hoặc gọi tên Thác tạ điêu. Khiến quân sĩ ngửa mặt nhìn xem. Lại nên cầu mưa hòa để lợi việc cấy cầy. Dựng doanh trại, làm quân khí để đợi gió mây ứng.
    Long độn
    Kỳ Ất, cửa Hưu, dưới là sáu Quý, hoặc cung Khảm là được Rồng che chở.
    Phương ấy có thể tế Long thần, cầu mưa thuận, thủy chiến, diễn kế địch. Lường mặt sông, giữ việc qua sông, đánh thủy chiến, mật vận cơ mưu, rời thuyền chuyển hướng, thả thuyền, khơi sông, đóng bồn nước, tà đảo quỷ thần, đắp đê, ngăn sông, làm cầu, đào giếng để đợi phong ứng.
    Sách Vũ bị chí lại viết là: cửa Hưu với Kỳ Ất tới cung sáu Giáp ở cung Khảm là Long.
    Hổ độn
    Kỳ Ất, cửa Sinh, trên sáu Tân là được thần Hổ che chở. Còn nói sáu Tân hợp cửa Sinh trên cung Cấn.
    Phương này có thể chiêu an đảng nghịch, đặt phục, gọi chiêu, dò nơi yếu hại, tựa nơi hiểm ngăn giữ. Dựng sơn trại, đặt quan ải, phòng hiểm, làm, đào để đợi phong ứng.
    13/ Ba kỳ đến cung đoán
    - Sáu Ất đến Kiền gọi là Ngọc thỏ nhập Thiên môn (thỏ ngọc vào cửa trời), cát. Thiên Xung, thiên Phụ trên cung 6, vào ngày cuối hạ hay tháng Thu, hoặc ngày Canh Tân Thân Dậu, có khí mây trắng lại trợ thì Chủ thắng. Một tên gọi Ngọc thỏ nhập lâm (Thỏ ngọc vào rừng).
    -Sáu Bính tới Kiền gọi là Thiên thành thiên quyền (tự nhiên thành quyền trời), hung. Có khí mây trắng từ Tây Bắc hoặc Chính Tây đến trợ, chủ thắng. Thiên Anh trên cung 6, vào tháng hạ, có khí mây sắc đỏ đến trợ thì khách thắng. Một tên là Quang minh bất toàn (sáng sửa không vẹn).
    -Sáu Đinh tới Kiền, gọi là Hỏa đáo Thiên môn (lửa tới cửa trời), cát. Ngày Bính Đinh Tị Ngọ có khí mây đỏ từ chính Nam lại trợ thì khách thắng. Một tên là ngọc nữ du thiên môn (nàng ngọc chơi ở cửa trời). Còn tên là Hỏa chiếu Thiên môn (Lửa chiếu cửa trời).
    -Sáu Ất tới Khảm gọi là Ngọc thỏ đầu tuyền (Thỏ ngọc xuống suối), cát. Thiên Anh trên cung 1vào tháng Thu Đông hoặc ngày Nhâm Quý Hợi Tý, có khí mây đen từ phương Bắc lại trợ thì chủ thắng. Một tên là Ngọc thỏ âm tuyền (ngọc thỏ uống suối).
    -Sáu Bính trên Khảm gọi là Bính hỏa thiêu Nhâm (lửa bính đốt nhâm) cát. Thiên Nhậm, Thiên Cầm, Thiên nhuế trên cung 1, vào 4 tháng Quý hoặc ngày Thìn Tuất Sửu Mùi. Một tên là Hỏa đầu Thủy trì (lửa ném ao nước).
    -Sáu Đinh trên Khảm gọi là Chu tước đầu giang (sẻ non lao sông), trung cát. Có khí mây sắc vàng từ Đông Bắc hoặc Tây Nam đến trợ thì khách thắng.
    -Sáu Ất tới Cấn gọi là Ngọc thỏ bộ trách(Thỏ ngọc bước phải), cát. Thiên Bồng tới cung 8, vào 4 tháng Quý, hoặc ngày Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi có khí mây vàng đến trợ thì Chủ thắng.
    -Sáu Bính tới Cấn gọi là Phượng nhập đan sơn (phượng vào núi son), cát. Có khí mây vàng từ Đông Bắc hoặc Tây Nam lại trợ, Chủ thắng. Thiên Xung Thiên Phụ tới cung 8, vào tháng Đông Xuân….
    -Sáu Đinh tới Cấn gọi là Ngọc nữ thừa vân (nàng ngọc cưỡi mây), cát. Ngày Giáp Ất Dần Mão, có khí mây xanh từ chính Đông hoặc Đông Nam lại trợ thì Khách thắng. Một tên gọi là Ngọc nữ du Quỷ môn (nàng ngọc chơi cửa Quỷ).
    -Sáu Ất tới Chấn gọi là Nhật xuất phù tang (nhật mọc trong đám cây thần), cát. Thiên Nhậm, Thiên Cầm, Thiên nhuế trên cung 3, vào tháng Đông Hạ hoặc ngày Giáp Ất Dần Mão có mây xanh lại trợ thì Chủ thắng. Tức Quý nhân thăng Ất Mão chính điện.
    -Sáu Bính tới Chấn gọi là Nguyệt nhập lôi môn (Nguyệt vào cửa sấm), cát. Có khí mây xanh từ Chính Đông hay Đông nam lại trợ, chủ thắng. Thiên Phụ, Thiên Nhậm trên cung 3, vào tháng cuối thu, Thiên trụ dễ bị mê hoặc.
    -Sáu Đinh tới Chấn gọi là Tối Minh (rất sáng), cát. Ngày Canh Tân Thân Dậu có khí mây trắng từ chính tây hoặc tây bắc lại trợ thì Khách thắng.
    -Sáu Ất tới Tốn gọi là Ngọc thỏ thừa phong (Thỏ ngọc cưỡi gió), cát. Thiê Nhậm Thiên Cầm Thiên Nhuế trên cung 4, vào tháng Đông, Xuân hoặc ngày Giáp Ất Dần Mão, có khí mây sắc xanh lại trợ thì Chủ thắng.
    -Sáu Bính tới Tốn gọi là Hỏa hành phong khởi (lửa cháy gió thổi), lại là Long thần trợ uy (Thần rồng trợ uy), cát. Thần phương Đông nam vượng thì Chủ thắng. Thiên Tâm Thiên Trụ trên cung 4, vào tháng cuối hạ, Thu….
    -Sáu Đinh tới Tốn gọi là Mỹ nữ lưu thần (Người đẹp giữ thần), cát. Ngày Canh Tân Thân Dậu, có khí mây trắng từ chính Tây hoặc Tây bắc lại trợ, Khách thắng.
    -Sáu Ất tới Ly gọi là Ngọc Thỏ Dương Dương, cát. Thiên Trụ Thiên Tâm trên cung 9, vào tháng Xuân Hạ hoặc ngày Bính Đinh Tị Ngọ có khí mây đỏ lại trợ, Chủ thắng.
    -Sáu Bính tới Ly gọi là Nguyệt chiếu Đoan môn (Trăng soi cửa thành), cát. Có khí mây đỏ từ phương Nam lại trợ, Chủ thắng. Thiên Bồng trên cung 9 vào tháng Thu hoặc ngày Nhâm Quý là Quý nhân thăng Bính Ngọ chính điện.
    -Sáu Đinh tới Ly gọi là thừa long vạn lý (cưỡi rồng muôn dặm). Ngày Nhâm Quý Hợi Tý có mây đen từ chính Bắc lại trợ thì Khách thắng.
    -Sáu Ất tới Khôn gọi là Ngọc thỏ nhập Khôn trung ( Thỏ ngọc vào giữa long đất), cát. Thiên Bồng đến cung 2, vào 4 tháng tứ Quý, hoặc ngày mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi, có khí mây vàng từ phương Bắc lại trợ, Chủ thắng. Còn một tên gọi khác là Ngọc thỏ ám nhật (ngọ thỏ che mặt trời).
    -Sáu Bính tới Khôn, gọi là Tử cư mẫu xá (con ở nhà mẹ), cát. Khí mây từ nam lại trợ thì Chủ thắng. Thiên phụ Thiên xung trên cung 2, vào tháng Đông, Xuân hoặc ngày Giáp thì cát.
    -Sáu Đinh trên Khôn, gọi là Ngọc nữ du Địa hộ (nàng Ngọc chơi ở cửa đất), cát. Ngày Giáp Ất Dần Mão có khí mây xanh từ Chính Đông hay Đông Nam lại trợ, Khách thắng, đại cát.
    -Sáu Ất tới Đoài, ngọc nữ thụ chế (nàng Ngọc chịu bó), bình bình. Thiên xung Thiên Phụ trên cung 7, vào tháng cuối Hạ, tháng Thu, hoặc ngày Canh Tân Thân Dậu, có khí mây trắng lại trợ thì Chủ thắng. Một tên gọi khác là Ngọc thỏ du quan (Thỏ trắng bơi quan), cát.
    -Sáu Bính trên Đoài, gọi là phượng hoàng chiết xí (phượng hoàng gẫy cánh), hung. Có mây trắng từ chính Tây hoặc Tây Bắc lại trợ, Chủ thắng. Thiên Anh trên cung 7, vào tháng Xuân Hạ và ngày bính thì Khách thắng.
    -Sáu Đinh tới Đoài, thì bình thường. Ngày Bính Đinh Tị Ngọ, có khí mây đỏ từ phương Nam lại trợ, Khách thắng. Còn nói Đinh thấy Đoài là Thiên ất Quý nhân, tức Quý thăng Đinh Dậu chính điện, đại cát.
    14/Ba kỳ hội ba môn cát ứng nghiệm
    Ất là Nhật kỳ:
    Hội cửa Sinh, nên ra làm quan, nhậm chức, ứng cử, giá thú, đào đất, làm tờ khoán, chôn cất.
    Thấy 2 chuột hoặc người con mặc hiếu, có trăm chim, gió mây mưa lâm thâm, xe ngựa lại làm ứng, thì chủ con cháu phú quý.
    Hội Hưu môn, thấy Trâu ngựa, hoặc người chặt cây lại làm ứng.
    Hội Khai môn, gặp người công chức ở vùng khác mặc áo đỏ đến.
    -Bính là Nguyệt Kỳ:
    Hội cửa Sinh, thấy người mắt có tật, hoặc việc tranh đấu làm ứng.
    Hội cửa Hưu, nên ra làm quan, nhậm chức, ứng cử, giá thú, đào đất, làm tờ khoán, dựng cột, làm nhà. Trong ngoài 50 dặm, nghe tiếng nhạc tiếng trống, hoặc quân khí, nhạc khí, chim đén, hạc trắng đến ứng, chủ con cháu phú quý.
    Hội cửa Khai, chủ thấy ông già chống gậy, hoặc nghe tiếng khóc làm ứng.
    -Sinh là Tinh Kỳ:
    Hội cửa Sinh, gặp người đi săn hoặc chim nhạn, con chó làm ứng.
    Hội cửa Hưu, 20 dặm gặp Hổ trắng, người áo đen hoặc phụ nữ làm ứng.
    Hội cửa Khai, nên ra làm quan, nhậm chức, giá thú, dựng cột, làm nhà, chuyển đồ. Thấy xe lớn xe nhỏ, mây trắng che phủ hoặc trẻ nhỏ, tay cầm roi, cầm gậy thì ứng con cháu sẽ phú quý.
    15/Tam kỳ hợp cách đoán
    Kỳ Ất gặp Thanh long phản thủ,
    Kỳ Bính, mặt Đông Nam là Điệt huyệt,
    Kỳ Đinh, Tây, ngưới quý đăng đàn,
    Hổi thủ vui mừng, mọi trao đổi vừa ý,
    Điệt huyệt biểu dương, việc thành tưu,
    Long đào, thân gặp mọi hung,
    Hổ cuồng, tài vật hư hao,
    Yêu kiều: trộm cắp việc cửa công.Loạt bài này dienbatn đang biên tập lại . dienbatn sẽ viết tiếp khi có dịp.
     
    #18
  19. catbuicuocdoi

    catbuicuocdoi Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    21 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    306
    Đã được cảm ơn:
    24
    Trích Nguồn và bản quyền của :
    - Ngô Thế Quyền
    - Bác Hùng
    - Zakayu
    - Anh Vinh
    Mọi sao chép xin trích lại nguồn.
     
    #19

Chia sẻ trang này