Đức Huỳnh Giáo Chủ - Phật Giáo Hòa Hảo

Thảo luận trong 'CÔNG ĐỒNG TỨ PHỦ VÀ THẦN TIÊN' bắt đầu bởi Bian.tu, 17 Tháng hai 2013.

  1. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    1.- Đức Huỳnh Giáo-Chủ
    [​IMG]

    Phật-giáo Hòa-Hảo

    I.- Đức Huỳnh Giáo-Chủ
    Như mọi người đều biết ở Nam-Việt có hai đạo-giáo mạnh nhứt là Cao-Đài-giáo ở miền Đông và Phật-giáo Hòa-Hảo ở miền Tây.
    Đức Huỳnh Giáo-chủ ra mở đạo nhầm năm Kỷ-mão (1939), cho đến nay, trong vòng mười bốn năm, một thời-gian rất ngắn đối với các đạo-giáo khác, thế mà hấp dẫn một số tín-đồ không thể tưởng tượng. Hầu hết các tỉnh miền Tây, đa số dân-chúng đều qui-ngưỡng theo đạo Phật-giáo Hòa-Hảo.
    Riêng hai tỉnh Chấu-đốc và Long-xuyên, tỷ số-tín-đồ Phật-giáo Hòa-Hảo chiếm từ 80 đến 90 phần trăm trong toàn số dân-chúng. Như thế Đức Huỳnh Giáo-chủ phải có sức mầu-nhiệm gì mới có thể thức-tỉnh một số chúng-sanh to-tác dường ấy.
    Theo sự nghiên-cứu, chúng tôi nhận thấy có nhiều nguyên-nhân mà chúng tôi xin tóm lược như dưới đây :
    1o Bản thân của Đức Huỳnh Giáo-chủ - Ngài vốn xuất thân là người ít học. Cứ như được biết là Ngài học đâu đến lớp ba trường làng, vì mãi đau ốmmà không theo đuổi nữa được. Bỗng một hôm Ngài được sáng tỏ phi-thường, đến các hàng cụ Nho ở trong thôn, các nhà Tây học ở khắp nơi, một khi đến hầu chuyện với Ngài đều phải ngạc-nhiên trước sự thông-minh phi-thường của Ngài.
    Nhiều ông cụ nho đem thơ đến thử đều được Ngài hoạ lạingay khi ấy, không cần phải bóp trán suy nghĩ. Thế mà bài thơ nào của Ngài làm ra cũng đều siêu-nhiên thoát-tục, ai đọc cũng tưởng là của một đấng siêu phàm nào giáng-cơ. Chẳng những thế, Ngài còn có tài hùng-biện, ứng-khẩu thành thi, diễn giảng thao thao bất tuyệt.
    Nhứt là những người làu thông kinh điển nhưng còn thắc-mắc một vài nghi-vấn nào đều được Ngài làm thỏa-mãn bằng những giải-thích cao siêu. Đứng trước một người không học mà thông-minh lỗi-lạc dường ấy, thử hỏi ai chẳng ngạc nhiên hay cảm phục ? Chính vì đó mà một phần lớn trong hàng cụ Nho và Tây học người có căn lành đều sớm tỉnh-ngộ quay về Phật-pháp dưới sự phổ-hóa của Ngài.
    2o Cách chữa trị diệu kỳ của Ngài. Giáo-chủ được nổi tiếng và được dân chúng ngưỡng-mộ qui-y, một phần lớn là nhờ cách chữa trị của Ngài. Đại-để chúng tôi xin kể ra một vài trường-hợp mà Ngài thâu-phục tín-đồ bằng phương-pháp mầu-nhiệm. Có nhiều bịnh điên từ lâu không phương cứu chữa, hung dữ một cách lạ thường khi đem đến, Ngài chỉ lấy dây chuối cột đâu ngồi đó, rối bắt niệm Phật và uống nước lã, thế mà hết bịnh.
    Còn nhiều bịnh ngặt nghèo khác, các thầy thuốc Tây thuốc Nam đều chạy, đến Ngài cho uống lá xoài, lá ổi, lá mít, bông trang…mà hết bịnh mới kỳ. Điều kỳ diệu nhứt là nhiều người ghiền á-phiện đã uống nhiều thuốc caimà không bỏ được, đến Ngài chỉ cho uống nước lã, là bỏ hút cái một, không hành phạt chi cả. Với sự cứu bịnh bằng phép huyền-diệu ấy, còn ai chẳng hồi tâm hướng thiện. Thế là Đức Huỳnh Giáo-chủ bằng phương phápTiên-thuật, hoá-độ, một phần lớn chúng-sanh.
    3o Những lời tiên-tri cảnh tỉnh. Ngài sáng-tác Sấm-giảng văn thơ rất nhiều, trong đó Ngài tiên-tri nhiều điều, hoặc thực hiện nhãn tiền hay lần lượt được thời-gian xác-nhận. Một điều làm cho người ta kinh-ngạc là Ngài nói ngay ý tưởng của người đời.
    Đây là một thí dụ: một hôm có một ông lão cụ-nho đến tính thử Ngài, có làm sẵn hai bài thi, nặn nọt suốt đêm.
    Khi lão nhà nho ấy vừa bước đến, chưa kịp trình thơ ấy ra thì Ngài đã ra đón trước, vỗ vai ông lão mà rằng: Ý ông muốn làm thơ lắm phải không ? Được, thôi thì vào đây làm thơ với tôi chơi. Nói rồi, Ngài mời ông lão vào nhà, liền lấy viết làm hai bài thơ trao cho ông lão ấy. Một điều làm cho ông lão kinh hồn là hai bài thơ ấy đã họa nguyên vận hai bài thơ còn trong túi của ông. Chính nhờ có tha-tâm-thông và những lời tiên-tri linh-ứng mà Đức Huỳnh Giáo-chủđã cảnh-tỉnh một phần lớn người đời.
    4o Những pháp-môn hành-đạo. Mặc dầu đạo Phật đã mở ra khắp trong nước, những kẻ sùng-ngưỡng lại rất ít. Một phần là do các nhà sư tu theo Thần-Tú, bày ra bao nhiêu điều mị dối làm cho Phật-pháp một ngày một suy đồi. Dân-chúng một ngày một xa cửa thiền, một phần lớn cũng vì chán ghét cách tu giả dối ấy. Đức Huỳnh Giáo-chủ ra đời nêu lên một pháp-môn vô-vi đúng chơn truyền của Đức Thế-Tôn, cực lực bài xích những điều mị dối của phái tu theo Thần-Tú. Những người có căn lành nhận thấy pháp môn của Ngài rất thích-hợp nên quây về với pháp vô-vi của Phật.
    Ngoài số người tu theo pháp vô-vi, còn những tín-đồ của Đức Phật-Thầy Tây-an trước kia cũng quay về với Đức Huỳnh Giáo-chủ.
    Ai cũng nhận thấy ở miền Tây nhứt là tỉnh Châu-đốc và Long-xuyên, đa số dân-chúng đều tu theo phái của Đức-Phật Tây-An.
    Nay Đức Huỳnh Giáo-chủ ra đời nêu lên một giáo-pháp mà những tín-đồ phái Phật-Thầy nhận thấy không có chỗ nào khác với những điều Đức Phật-Trùm, Đức Phật-Thầy Tây-An, Ông Sư-Vãi Bán Khoai đã dạy, nhứt là Đức Phật-Thầy Tây-An. Chẳng hạn như Đức Huỳnh Giáo-chủ giải về Tứ Ân 1o Ân tổ-tiên cha mẹ; 2 o Ân đất nước ; 3o Ân Tam-bảo ; 4o Ân đồng-bào nhơn loại, thì không có chỗ nào khác Đức Phật-Thầy Tây-An cả.
    Thứ nhứt là khi đọc Sấm-giảng của Đức Huỳnh Giáo-chủ, những người tu theo Đức Phật-Thầy-Tây-An ông Sư-Vãi Bán-Khoai…, thấy sao, cả vừa tư-tưởng lẫn câu văn, nó như do một người sáng tác. Về những nhận xét này, rồi đây chúng tôi sẽ đem đối-chiếu nhiều đoạn văn của Đức Huỳnh Giáo-chủ với những đoạn văn của ông Sư-Vãi Bán-Khoai, sẽ thấy rõ chỗ giống nhau ấy.
    Đứng trước sự trùng ngôn trùng ý như thế, các tín-đồ của phái Phật-Thầy không còn ngần-ngại gì nữa mà chẳng qui y theo Đức Huỳnh Giáo-chủ, vì họ đã biết biết Ngài là ai rồi. Do đó mà đa số tín-đồ Đức Phật-Thầy ngày trước, nay đã trở thành tín-đồ Phật-giáo Hoà-Hảo.
    Nhưng sứ-mạng của Ngài ra sao ? Tưởng không có gì bằng trích ra đây bài lịch-sử của đời Ngài, do đó Ngài viết ra từ năm 1942.
     
    #1
  2. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    Lịch sử Đức Huỳnh Giáo Chủ

    Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, vì thời-cơ đã đến, lý Thiên-Ðình hoạch-định, cuộc nguy-cơ thảm-họa sắp tràn lan. Ta đây tuy không thể đem phép huệ-linh mà cứu an tai-họa chiến-tranh tàn khốc do loài người tàn-bạo gây nên, nhưng mà thử nghĩ: Sinh trong vòng đất Việt-Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa-cầu lăn-lộn mấy phen, tùy cơ pháp chuyển kiếp luân-hồi ở nơi hải-ngoại để thu-thập những điều đạo-học kinh-nghiệm huyền-thâm, lòng mê-si đã diệt, sự vị-kỷ đã tan mà kể lại nguồn gốc phát sinh, trải bao đời giúp nước vùa dân cũng đều mãi sinh-cư nơi đất Việt. Những tiền-kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt, dầu thác, cũng quỷ thần đất Việt chớ bao lìa. Những kiếp gần đây, may-mắn gặp minh-sư, cơ truyền Phật-Pháp, gội nhuần ân-đức Phật, lòng đà quảng-đại từ-bi,hiềmvì nổi cảnh quốc phá, gia vong, máy huyền-cơ đã định, lòng thương trăm họ vướng cảnh, đồ lao, chi xiết xót thương chúng sanh vạn khổ.
    Nghĩ lúc còn làm người trong biển tục, lăn-lộn chốn mê đồ, mà chẳng quản thân giúp thế cứu dân, vong thân vị quốc, huống chi nay cơ mầu đà thấu tỏ, sớm chiều hầu chơn Phật nghe kinh, ngao du tứ-hải, dạo khắp Tiên-bang, cảnh an-nhàn của người liễu-đạo, muôn ngày vô sự, lóng sạch phàm tâm, sao chẳng ngồi nơi ngôi vị hưởng quả bồ-đề trường thọ mà còn len-lỏi xuống chốn hồng-trần, đặng chịu cảnh chê khen? Vì lòng từ-ái chứa-chan, thương bách-tính tới hồi tai-họa. Phật-Vương đà chỉ rõ máy diệu huyền chuyển lập hội Long-Hoa, chọn những đấng tu hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện-căn để giáo truyền Ðại-Ðạo, định ngôi phân thứ gây cuộc Hòa-Bình cho vạn quốc chư bang.
    Thiên-Tào đà xét định, khắp chúng sanh trong thế-giới trong cái buổi Hạ-Nguơn nầy, say mê vật-dục, chìm đắm trong biển lợi-danh, gây nên nghiệp-quả, luật trời đà trị tội, xét kẻ thiện-căn thì ít, người tội-ác quá nhiều, chư Phật mới nhủ lòng từ-bi cùng các vị chơn-Tiên lâm phàm độ thế, trước ra công cứu khổ, sau chỉ rõ cơ-huyền, khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà quy chánh thì mới mong Thiên Ðình ân xá bớt tội căn để kíp đến Long-Hoa chầu Phật, trước biết rõ luật Trời thưởng phạt, cùng hữu duyên nghe Phật pháp nhiệm mầu, kiến diện bậc Chơn-Sư, tu hành mau đắc quả, sau làm dân Phật quốc hưởng sự thái-bình, bởi đời nầy pháp-môn bế mạc, Thánh đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma-Vương khuấy rối. Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Ðạo nơi quốc-độ nào thì cũng phải trở về quốc-độ ấy mà trợ tế nhân dân; vì thể lòng từ-bi bác-ái cùng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh. Tuy là nhơn-dân mới rõ pháp mà tưởng rằng Ta thượng xác cỡi đồng chớ có dè đâu chuyển kiếp đã từ lâu chờ đến ngày ra trợ thế. Nên phương pháp của Ta tùy trình-độ cơ cảm của Tín-nữ Thiện-nam, trên thì nói Phật-pháp cho kẻ có lòng mộ Ðạo qui căn, gây gốc thiện-duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền-diệu của Tiên-gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ-bi của Chư Vị với Trăm Quan, thảm-thiết lê dân lầm than thống-thiết, mà lời lành nghe tựa hồ như nhớ như quên, nên kẻ xa xuôi từ-văn chẳng tới, người láng-diềng tiếng kệ nhàm tai. Ðến trung tuần tháng Tám, Ta cùng Ðức-Thầy mới tá hiệu Khùng Ðiên, mượn bút mực tiết lộ lấy Thiên-cơ, truyền cho kẻ xa gần đều rõ biết hầu ăn-năn cải quá làm lành, còn kẻ chẳng tỉnh tâm sau đền tội cũng chẳng trách Phật Tiên không chỉ bảo.
    Vẫn biết đời Lang-sa thống trị, phép nước nghiêm-hình, dân chúng nếu yêu thương sẽ lắm điều hiềm khích; nhưng mà Ta nghĩ nhiều tiền kiếp Ta cũng hy-sinh vì Ðạo, nào quản xác thân. Kiếp chót nầy đây há lại tiếc chi thân phàm tục, song vì tình cốt-nhục tương thân, cũng ủng-hộ, chở che cho xác phàm bớt nỗi cực hình.

    Bạc-Liêu, ngày 18-5 Nhâm-Ngũ (1942).
    2-Đối Chiếu Tư Tưởng
    Để nhận thấy chỗ liên-hệ giữa Đức Phật-Thầy Tây-An, ông Sư-Vãi Bán-Khoai với Đức Huỳnh Giáo-chủ, tưởng cũng nên đem đối-chiếu những tư-tưởng đồng nhứt giữa ba Ngài.
    Trước hết ta nhận thấy rằng: Trong phái Phật-Thầy, các Ngài một khi lâm phàm cứu thế điều xưng Khùng xưng Điên, ý chừng đối lại người đời xưng khôn xưng lanh, thường khinh khi Phật, Tiên, Thần, Thánh.
    Mặc dầu xưng Khùng, xưng Điên nhưng đối với những người có thiện-căn, các Ngài không hẹp lượng mà chẳng cho biết rằng: Khùng điên là của Phật, của Thầy chớ không phải của người lãng trí. Đây là đoạn văn ông Sư-Vãi Bán-Khoai xưng Khùng, xưng điên :
    Điên này Điên Phật, Điên Thầy,
    Chẳng sợ ai rầy nên nói cù nhây.
    Ta hãy xem một đoạn văn dưới đây của Đức Huỳnh Giáo-chủ thì sẽ thấy chỗ đồng-nhứt tư-tưởng ấy :
    Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,
    Chớ không phải của người lãng trí.
    Bởi Khùng điên của Phật của Thầy, cho nên rõ thiên-cơ, đoán biết âm-dương kết liễu. Đây ta hãy đọc ông Sư-Vãi-Bán Khoai :
    Khùng sao mà biết thiên-cơ,
    Cũng là Phật khiến cho Khùng dại điên.
    Cũng đồng một tư-tưởng này, Đức Huỳnh Giáo-chủ đã viết:
    Khùng đoán biết âm-dương kết-liễu,
    Khùng huyền-cơ, Khùng đạo Thích-Ca.
    Ngoài sự xưng hô giống nhau, chúng ta còn thấy cả sự nhận-định thời-cơ cũng giống nhau nữa. Ông Sư-Vãi Bán-Khoai viết:
    Hết đây đến nước dị-kỳ,
    Dỗ dành thiên-hạ vậy thì chẳng an.
    Đến Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng thế:
    Hết đây đến nước dị-kỳ,
    Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết-tha.
    Xưa nay, sự trùng ngôn trùng ý vẫn là điều thường thấy xảy ra luôn, nhưng chúng tôi dám chắc chẳng bao giờ có một sự đồng nhứt tư-tưởng như thế này. Trong quyển Sấm giảng người đời, ông Sư-Vãi Bán-Khoai trong cuộc đi phổ-độchúng-sanh thường nói là một Thầy ba tớ. Đây là lời ông Sư-Vãi Bán-Khoai tự-thuật :
    Chừng nào nước chảy đông nguồn,
    Một Thầy ba tớ hết đường lao-đao.
    Ông thường nhắc đến luôn :
    Nào khi nắng bụi bay tuôn,
    Một Thầy ba tớ chẳng buồn lại vui.
    Đến Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng thế, trong Sấm-giảng, Ngài nhắc lại cuộc châu-du độ thế, cũng cho biết là một Thầy ba tớ :
    Khùng thời ba tớ một Thầy,
    Giảng dạy dẫy đầy rõ việc thiên cơ.
    Chẳng những cho biết là một Thầy ba tớ mà ông Sư-Vãi Bán-Khoai còn cho biết cả danh hiệu nữa. Đây là danh-hiệu mà ông Sư-Vãi Bán-Khoai thường xưng :
    Huệ-Lựu ký tả một bài,
    Viễn bang châu quận hậu lai khán tường.
    Hoặc giả :
    Huệ-Lựu bút ký tả rồi,
    Đặng cho thiên hạ dấu soi để đời.
    Các danh-hiệu này được Đức Huỳnh Giáo-chủ lặp lại trong Sấm Giảng của Ngài :
    Đừng thấy ngu dại mà khi,
    Thầy thì Huệ-Lựu tớ thì Huệ-Tâm.
    Khi đọc đến đoạn này thử hỏi còn tín-đồ nào của ông Sư-Vãi Bán-Khoai không nhận thấy chỗ xuất xứ của Đức Huỳnh Giáo-chủ. Họ không còn ngần ngại gì nữa mà chẳng nhận Đức Huỳnh Giáo-chủ là chuyển kiếp của ông Sư-Vãi Bán-Khoai.
    Thật thế chúng ta đã đọc đoạn văn nầy của ông Sư-Vãi Bán-Khoai :
    Tôi đâu mà có an thân,
    Bây giờ Phật biểu tôi sang nước Tần.
    Mến mà mến nghĩa Hoàng-Lân,
    Thương là thương lấy vạn dân mắc nàn.
    Rồi đọc đoạn văn nầy của Đức Huỳnh Giáo-chủ, chúng ta sẽ thấy chỗ nhận-định của tín-đồ của Sư-Vãi Bán-Khoai là đúng:
    Dạy đạo chánh vì thương Nam-Việt,
    Ở Cao-miên vì mến Tần-Hoàng;
    Trở về Nam đặng có sửa sang,
    Cho thiện-tín được rành chơn-lý.
    Như thế thì rõ lắm rồi. Nhưng cũng còn chưa rõ bằng đoạn văn sau đây :
    Đừng ham nói nọ nói này,
    Lặng yên coi thử điên này là ai?
    Cám thương Ông lão bán-Khoai.
    Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.
    Thế là bức màn huyền-vi giữa ông Sư-Vãi Bán-Khoai và Đức Huỳnh Giáo-chủ đã hé mở. Chẳng những thế mà bức màn huyền-vi giữa Đức Phật-Thầy Tây-An và Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng được vén lên. Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết :
    Khùng này quê ngụ núi Sam,
    Còn Điên chẳng có chùa am dưới này.
    Núi Sam là chỗ Đức Phật-Thầy Tây-An đã tịch cho nên khi nói đến núi Sam là tín-đồ phái Phật-Thầy hiểu ngay là chỉ Đức Phật-Thầy Tây-An .
    Mặc dầu cho biết quê ngụ núi Sam để cho dân-chúng đừng nghi nan, nhưng Đức Huỳnh Giáo-chủ vẫn thấy người đời còn thờ ơ, cho nên không dứt lặp đi lặp lại :
    Thương lê thứ bày tường trong đục,
    Mặc ý ai nghe phải thì làm.
    Lời của người di-tịch Núi Sam,
    Chớ có phải bày điều huyễn hoặc;
    Cảnh Thiên-trước thơm tho nồng nặc,
    Chẳng ở yên còn xuống phàm trần.
    Ấy vì thương trăm họ vạn dân,
    Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.
    Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ,
    Giả bán buôn thức giấc người đời.
    Rằng ngày nay có Phật có Trời,
    Kẻo dân-chúng nhiều người kiêu ngạo.
    Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ-mão,
    Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng.
    Nếu trẻ già có biết thì dùng,
    Chẳng có ép có nài bá tánh.
    Thử hỏi, khi đọc đến đoạn này, tín-đồ nào của Đức Phật-Thầy Tây-An, chẳng nhận ra Đức Huỳnh Giáo-chủ là ai ? Chắc sao cũng có người sẽ hỏi: Đức Huỳnh Giáo-chủ lại vừa Sư-Vãi Bán-Khoai chuyển kiếp, lại vừa Đức Phật-Thầy Tây-An chuyển kiếp ? Điều này, chúng ta đã biết: giữa Đức Phật-Trùm, Đức Phật-Thầy Tây-An, ông Sư-Vãi Bán-Khoai và Đức Huỳnh Giáo-chủ vẫn không có sự sai-biệt. Chính Đức Huỳnh Giáo-chủ trong bài lịch sử về đời của Ngài, có đoạn cho biết: “Tuy là nhơn dân mới rõ pháp mà tưởng rằng Ta thượng xác cỡi đồng, chớ dè đâu chuyển kiếp đã từ lâu chờ đến ngày ra trợ thế” đủ hiển-thị chỗ nhận-định ở trên.
    Bởi do nhiều “chuyển kiếp đã từ lâu”, cho nên Đức Huỳnh Giáo-chủ diễn giải về Tận-Thế và Hội Long-Hoa không khác ông Sư-Vãi Bán-Khoai và ông Ba Thới.
     
    #2
  3. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    3-Giảng về Tận-Thế

    Như ta đã biết ông Sư-Vãi Bán-Khoai mở đầu quyển Sấm Giảng người đời, bằng câu:
    Hạ-Nguơn Giáp-Tý bằng nay,
    Cơ trời đã khiến lập đời thượng-lai.
    Thì Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng mở đầu quyển Sấm Giảng khuyên đời tu niệm của Ngài cũng bằng câu :
    Hạ-Ngưun nay đã hết rồi,
    Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.
    Ngài cũng nhận thời-kỳ này là thời-kỳ Hạ-Nguơn và danh-từ này được Ngài lặp lại nhiều lần :
    Đời Nguơn-Hạ nhiều người hung dữ,
    Nên xảy ra lắm sự tai ương.
    Hoặc là :
    Chữ-vinh hoa giờ chớ có màng,
    Bởi giả tạm của đời Nguơn-Hạ.
    Ngài cho đời này là đời giả-tạm vì rồi đây tuồng đời sắp hạ :
    Khuyên răng trần thế một khi,
    Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
    Nghĩa là nhân-loại sẽ đến ngày Tận-Thế, và ngày ấy theo Đức Huỳnh Giáo-chủ còn chẳng bao lâu nữa :
    Tận thế-gian còn có bao lâu,
    Mà chẳng chịu làm tròn nhơn-đạo.
    Người đời chưa chịu làm là vì người đời còn lần lựa, bởi thế Ngài không ngớt nhắc nhở :
    Đời Tận-Thế mà còn lần lựa,
    Chẳng chịu mau cải dự về lành.
    Và Ngài cho biết là nó mỏng-mẻo lắm rồi :
    Đời Nguơn-Hạ ngày nay mỏng-mẻo,
    Khuyên thế trần hãy rán kiêng dè.
    Vì lý-do gì tuồng đời sắp hạ, loài người sắp đến cơ tận-diệt ? Đức Huỳnh Giáo-chủ cùng một nhận xét như ông Sư-Vãi Bán-Khoai, cho rằng người đời gây ra hằng ngày biết bao tội ác. Các du-thần đem những tội ác ấy tâu lại Ngọc-Hoàng Thượng-Đế, Ngài muốn xử tiêu cho rồi :
    Lưỡng Thần ghi chép liên-miên,
    Nào tội nào phước dưới miền trần-gian.
    Tâu qua Thượng-Đế Ngọc-Hoàng,
    Dương trần hung ác đa đoan quá nhiều.
    Chúng-sanh ngang ngược làm liều,
    Ngọc-Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
    Nhưng đứng trước sự phán-quyết của Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế, Đức Minh-Vương vô cùng thương xót đến cầu Phật tổ cứu trần. Về đoạn này ông Sư-Vãi Bán-Khoai đã viết :
    Hạ-Ngươn gian ác rất nhiều,
    Thiên-đình Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
    Minh-Vương không xiết hỡi ôi !
    Lo mưu định kế cứu rày Hạ-Ngươn.
    Liền qua Tây-vức Linh-sơn,
    Cầu Phật giải cứu cõi trần Hạ-Ngươn.
    Chư Phật đến trước đơn trì,
    Tâu cùng Ngọc-Đế chớ hờn chúng-sanh.
    Để cho Phật dạy làm lành,
    Chừng nào chẳng đặng sẽ hành bịnh căn.
    Về đoạn này Đức Huỳnh Giáo-chủ ũng cho biết như thế :
    Minh-Vương khó đứng không ngồi,
    Thảm thương lê-thứ mắc hồi gian-truân.
    Trước đền mắt ngọc lụy rưng,
    Quí yêu bá-tánh biết chừng nào nguôi.
    Làm sao dạ nọ được vui,
    Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.
    Và Đức Huỳnh Giáo-chủ còn nhắc thêm rằng:
    Lời khuyên xưa cũng một lần,
    Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
    Để nhắc lại một lần nữa rằng Ngài đã khuyên một lần rồi, chớ phải không sao. Câu này ám chỉ rằng: Với chuyển-kiếp ông Sư-Vãi Bán-Khoai, Ngài đã khuyên một lần rồi.
    Chính nhờ có Phật xin cứu trần mà chư Phật chư Tiên lâm phàm. Về điều này Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng cho biết như ông Sư-Vãi Bán-Khoai rằng :
    Kề từ ngày vàng lộn với thau,
    Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.
    Hoặc giả :
    Cờ thế-giới ngày nay gần thúc,
    Nên Phật, Tiên phải xuống hồng trần.
    Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết Ngài cũng “là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu-đạo nơi quốc-độ nào thì phải trở về quốc-độ ấy mà trợ tế nhân dân”, vì thế mà Ngài lâm phàm, nhằm khi thế-gian đương gặp lúc não nồng:
    Xuống dương thế đạo trong lê thứ,
    Thấy bá gia gặp lúc não nùng.
    Ngài cho biết Ngài xuống thế mấy lần rồi mà nào ai có hay:
    Chim Ô đà dựa cầu Ngân,
    Người xưa trở gót mấy lần không hay.
    Và Ngài cho biết Ngài xuống An-giang, tức là tỉnh Châu-đốc trong miền Nam nước Việt:
    Tây-phương trở gót quá xa đàng,
    Thương xót Nam-kỳ lại An-giang.
    Đoái thấy xóm làng thêm bắt chán,
    Yêu đời mê-muội luống bầm gan.
    Và chuyển-kiếp vào một xác “thanh sắc trẻ”, họ Huỳnh ở thôn Hoà-Hảo. Chính với danh-từ này Ngài đặt cho nền đạo của Ngài hoằng-hóa là Phật-giáo Hòa-Hảo:
    Hoà thôn Hảo cảnh xứ chi ta,
    Tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà.
    Tạo xác Huỳnh danh thanh-sắc trẻ,
    Chờ thời Thiên định thiết hùng ca.
    Năm Ngài lâm phàm là năm Kỷ-mão (1939):
    Xuống mượn xác nhầm năm Kỷ-mão,
    Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng.
    Hoặc giả:
    Kỷ-mão hạ san mượn xác trần,
    Cảnh tình đồng loại lão khuyên dân.
    Thậm thâm đây có niềm liên ái.
    Hợp tác cùng nhau nối bút thần.
    Ngài xuống thế để “nối bút thần” tiếp tục công cuộc cứu-thế của Ngài, nhưng lần chuyển-kiếp này, sứ-mạng của Ngài ra sao ? Có giống mấy lần chuyển-kiếp trước không ?
     
    #3
  4. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    4-Sứ-mạng của Đức Huỳnh Giáo-chủ
    Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết lần xuống thế kỳ này là Ngài vưng lịnh của Phật Tổ:
    Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc-Tòa,
    Đền Linh-Khứu sơn trung chịu mạng.
    Ngài cho biết là Ngài xuống thế-gian mà truyền diệu pháp cho đời cải tà qui chánh :
    Ngọc-Tòa Phật-Tổ nấy sai Ta,
    Xuống cứu thế-gian nẻo vạy tà.
    Hiệp sức tớ Thầy truyền diệu-pháp,
    Cho đời thấu rõ đạo Ma-ha.
    Đã đành “ai liễu đạo nơi quốc-độ nào thì cũng phải trở về quốc-độ ấy mà trợ tế nhân-dân”, nhưng cái lý chánh là vì cõi đất Việt-Nam sau này là cõi Trung-Ương. Nên chi Ngài cho biết rằng:
    Tuy là nương dựa non Tần,
    Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.
    Câu này ám chỉ trong một chuyển-kiếp làm ông Sư-Vãi Bán-Khoai ở nước Tần, nhưng cũng về Nam vì nước Nam sẽ là cõi Trung-Ương:
    Cõi Trung-Ương luân-chuyển phương Nam,
    Mở hội Thánh chọn người trung-hiếu.
    Bởi hội Thánh sẽ mở tại Trung-Ương cho nên các vị Phật Tiên đều xuống thế ở Việt-Nam:
    Nước Việt-Nam nhằm cõi Trung-Ương,
    Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.
    Chính vì thế mà Đức Huỳnh Giáo-chủ được lịnh lâm phàm:
    Ngài vâng chỉ đáo lai trần thế,
    Cõi Trung-Ương nhằm đất nước Việt-Nam.
    Chọn một chàng tuồi trẻ tục phàm,
    Mượn tay gã, tờ hoa thần hạ bút.
    Để thi-hành sứ-mạng cao cả của Ngài trong công cuộc dắt dìu sanh-chúng đi đến Hội Long-Hoa, để cảnh tỉnh người đời như Đức Phật-Thầy Tây-An và ông Sư-Vãi Bán-Khoai trước kia, Ngài xưng Khùng xưng Điên mà người đời có ai mấy biết:
    Ra đời xưng hiệu Khùng Điên,
    Nào ai có rõ Thần, Tiên là gì !
    Mặc dầu người đời không biết, Ngài vẫn không vì đó mà không giục thúc người đời tầm Tiên lánh tục:
    Điên như ta Điên giống Tiên Rồng,
    Điên gở ách xích xiềng thế tục.
    Chuông Linh-Khứu ba hồi giục thúc,
    Đờn Lôi-Âm khởi điệu êm tai.
    Con lành duyên khá trở gót hài,
    Điên quyết chí dắt người lánh tục.
    Trong lúc đi hóa-độ, Ngài hóa hiện ra đủ hạng người, khi thì già, khi thì trẻ:
    Khi già lúc lại trẻ thơ,
    Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
    Khi thì làm người tàn tật:
    Giả người tàn tật đón xe,
    Rồi lại nói vè ròng việc thiên-cơ.
    Khi thì giả người buôn bán:
    Nói ra thêm thảm thêm thê,
    Ông-Lãnh dựa kề giả bán trầu cau.
    Khi thì giả ra người nhà quê:
    Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ,
    Giả bán buôn thức giấc người đời.
    Rằng ngày nay có Phật có Trời,
    Kẻo dân thứ nhiều người kiêu ngạo.
    Đức Huỳnh Giáo-chủ không ngại mà bày tỏ:
    Cảnh Thiên-trước thơm tho nồng nặc,
    Chẳng ở yên còn xuống phàm trần;
    Ấy vì thương trăm họ vạn dân,
    Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.
    Đức Phật-Thầy hay ông Sư-Vãi Bán-Khoai lâm phàm với sứ-mạng chỉ thức tỉnh người đời tu-hành cho kịp Hội Long-Hoa, đến như Đức Huỳnh-Giáo-chủ thì Ngài cho biết chẳng những Ngài có sứ-mạng nhắc nhở người đời mà Ngài còn đóng vai-trò quan trọng trong Hội Long-Hoa nữa:
    Muôn thu Thiên định khắp kỳ,
    Hạ-Ngươn sắc lịnh khai kỳ Long-Hoa.
    Rán vẹt phá sương mù trước mắt,
    Chớ để cho quỉ dắt linh hồn.
    Lão đây vưng lịnh Phật-Tôn,
    Lãnh cân thưởng phạt chư môn dữ lành.
    Khá chi tâm học-hành kinh sám,
    Thoát nơi miền hắc ám phong ba.
    Trở chơn cho kịp Long-Hoa,
    Long-Hoa có mặt ấy là hiền nhơn.
    Bởi thế, Hội Long-Hoa là một trường thi, lập ra để chọn người hiền đức:
    Long-Hoa Tiên Phật đáo ta-bà,
    Lừa lọc con lành diệt quỉ ma.
    Nên mãi mê mang mùi tục luỵ,
    Linh hồn chìm đắm chốn nê hà.
    Có lập Hội Long-Hoa mới biết người hiền đức còn được bao nhiêu:
    Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
    Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu ?
    Gian tà hồn xác cũng tiêu,
    Thảm thương bá tánh chín chiều quặn đau.
    Nhưng Hội Long-Hoa sẽ lập ra như thế nào ?
    Long-Hoa Hội ân cần lo lập,
    Lập cho rồi tâm-thập lục-nhơn.
    Lôi âm giục khởi tiếng đờn,
    Thất-sơn dấy loạn là cơn hiểm nghèo.
    Nơi phía trước cheo leo tiếng khóc,
    Đứng sau lưng hình vóc dãy chơn.
    Nước kia lửa nọ tưng bừng,
    Thảm cho thế sự lẫy-lừng nạn tai.
    Thời cũng tại không ai tu niệm,
    Cứ lẳng lơ ngạo biếm khoe khoang.
    Đến nay là buổi tai-nàn,
    Tam-Thiên lục bá khắp tràng hại dân.
    Đến Thân Dậu Thánh Thần náo động,
    Thảm cho trần nhà trống ruộng hoang.
    Tiếng than luỵ ngọc nhỏ tràn,
    Nạn tai dồn-dập xóm làng còn chi.
    Đại lược thảm-trạng của Hội Long-Hoa sẽ diễn ra như thế nào. Nhưng trước khi đi đến Hội Long-Hoa, cuộc thế sẽ biến chuyển ra làm sao ?
     
    #4
  5. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    5-Giảng về các tai-biến
    Cũng như ông Sư-Vãi Bán-Khoai và ông Ba Thới, Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng nhận Hội Long-Hoa là một trường thi lập ra để chọn người hiền đức. Bởi thế muốn đi đến Hội Long-Hoa, có mặt trong Hội Long-Hoa không phải là một việc dễ, vì người có mặt trong Hội Long-Hoa hẳn là người hiền mới được:
    Trở chơn cho kịp Long-Hoa,
    Long-Hoa có mặt ấy là hiền nhơn.
    Có mặt trong Hội Long-Hoa đã là một việc khó, thì Hội Long-Hoa chẳng phải lập lên trong một sớm một chiều hay lập lên trong cảnh thái-bình. Vốn là một cuộc lọc lừa để chọn con Tiên cháu Phật, cho nên được đi đến Hội Long-Hoa, con người phải trải qua bao nhiêu biến-thiên nguy khốn, trong sự chuyển xoay trái đất:
    Phải chuyển xoay trái đất một bầu,
    Đặng lừa lọc con Tiên cháu Phật.
    Và sự chuyển-biến ấy, sẽ diễn ra những cảnh thảm sầu khổ não báo hiệu rằng đời đã tới:
    Hạ-Nguơn lòng dạ đổi dời,
    Bao giờ khổ não đến đời là đây.
    Cảnh thảm khổ đã xảy ra ở ngoại quốc, rồi đây nó sẽ diễn đến nước Nam:
    Cảnh thảm khổ chiều mai sẽ đến,
    Sao dân còn triếu mến trần mê.
    Mắt nhìn ngoại quốc thảm thê,
    Nam-bang cảnh khổ cũng kề bên tai.
    Lời trên đây đã xuất hiện từ năm 1938 trong lúc nước Nam còn yên tịnh. Mặc dầu thấy yên, nhưng Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết trước:
    Ai mà biết đặng ngày mai,
    Ngày nay yên tịnh ngày mai thảm sầu.
    Từ đây gặp cảnh buồn rầu,
    Cho người tàn bạo cứng đầu khinh khi.
    Và cuộc biến chuyển sẽ đổi thay quá mau, từ giờ từ phút:
    Nhìn cuộc thế đổi thay quá gắt,
    Máy thiên-cơ mỗi phút mỗi thay.
    Ngài khuyên dân-chúng hãy nhìn xem thì thấy:
    Thôi thôi cảnh khổ hầu gần,
    Ta khuyên dân-chúng ân-cần nhìn xem.
    Như ông Sư-Vãi Bán-Khoai thì cho biết là sẽ có những điềm trời, còn Đức Huỳnh Giáo-chủ thì nhắc cho người đời để ý về mùa tiết, nay cũng đã khác xưa rồi:
    Trời giông gió sái mùa sái tiết,
    Nằng cùng mưa cũng khác xưa rồi.
    Và người đời cứ mãi ước sao đời không tới phứt cho rồi:
    Thấy trần thế ai ai cũng ước,
    Đòi sao không tới phứt cho rồi.
    Nhưng Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết là đã tới rồi mà khi đã tới người đời còn ngơ-ngẩn:
    Nay tới nơi khó đứng khôn ngồi,
    Lúc đói cơm buồn lòng ngơ-ngẩn.
    Dầu vậy cũng chưa mấy thê-thảm, rồi đây sợ khi nhìn thấy phải lạc phách bay hồn, trước cảnh máu sông xương núi:
    Khổ với thảm ngày nay có mấy,
    Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.
    Trừ tà gian còn thiện chỉ tồn,
    Cảnh sông máu núi xương tha thiết.
    Trần với thế bây giờ nào biết,
    Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.
    Thật vô cùng thảm thương cho lê-thứ:
    Thấy thiên-cơ khó nổi yên ngồi,
    Thương lê-thứ tới hồi khổ não.
    Bởi từ đây sẽ có nhiều cuộc biến đổi dị-kỳ:
    Từ đây biến đổi dị-kỳ,
    Dương thế chuyện gì cũng có chuyển xoay.
    Đức Huỳnh Giáo-chủ còn cho biết rồi đây sẽ xảy ra nào là cảnh người đời đua nhau mà chạy đất cày:
    Mai sau nhiều cuộc đất cày,
    Đua nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
    Và chừng đó khó đứng khôn ngồi vì quá thương nhà tiếc của:
    Để sau khó đứng khôn ngồi,
    Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.
    Là vì nhà cửa ấy, nó tuôn trong một giờ là sạch:
    Giàu sang như nước trên nguồn,
    Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
    Nào giặc-giã bốn phương nổi lên:
    Đến chừng đó bốn phương có giặc,
    Khắp hoàn-cầu thiết thiết tha tha.
    Nào là nạn đói khổ:
    Trong bổn đạo từ đây kim chỉ,
    Đói với nghèo sắp đến bây giờ.
    Mà một khi nạn đói xảy ra thì người đời phải điêu linh, vì nó kéo dài đến 5 năm sáu tháng:
    Bửu ngọc trường quang ẩn tịch kỳ,
    Sơn đài lộ vẻ liễu huyền vi.
    Kỳ thâm tá giả thi thành thuỷ,
    Hương vị âm thầm mộc tuý vi.
    Năm năm lục ngoạt cơ hàn thử,
    Non lịch đài mây rạng tu mi.
    Bảy niên hòa địa nhơn hiền thủ,
    Núi ngự Hoàng-san tự Đỉnh-Chi.
    Cái nạn đói này, Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết kéo dài cho đến ngày lập đời Thượng-Ngươn mới dứt:
    Ngũ niên viễn lự cơ hàn.
    Đến chừng qui phục Hớn-Đàng mới yên.
    Bởi thế Ngài hằng khuyên những người giàu có:
    Kẻ phú quí đừng vong cơm nguội,
    Sau đói lòng chẳng có mà dùng.
    Cũng như Ngài đã khuyên cả mọi người:
    Khuyên trần sớm liệu bắp khoai,
    Cháu rau đỡ dạ tháng ngày cho qua.
    Về nạn đói, chúng ta thấy Đức Huỳnh Giáo-chủ nhận định như ông Sư-Vãi Bán-Khoai về thời hạn năm năm sáu tháng. Đây là lời của ông Sư-Vãi Bán-Khoai:
    Năm năm sáu tháng long đong,
    Nhơn dân thiên-hạ mắc vòng gian nan.
    Hoặc là:
    Năm năm sáu tháng cơ hàn,
    Quỉ-vương gây loạn nào an thế trần.
    Nào là nạn Quỉ-Vương gây tai nạn cho dân-chúng như ông Sư-Vãi Bán-Khoai vừa nói trên:
    Đạo Quỉ-vương rất nhiều chi nhánh,
    Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.
    Để ngày sau đến việc thảm sầu.
    Rán nghe kỹ lời Ta mách trước.
    Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết là Trời mở cửa cho nó xuống:
    Thời-kỳ này nhiều quỉ nhiều ma,
    Trời mở cửa Quỉ-vương xuống thế.
    Nó rất tinh tường biết cả tên người mà kêu:
    Sau Quỉ-vương đi đứng nửa lừng,
    Thêm tên tuổi chúng sanh nó biết.
    Làm đủ cách xuống lên tha thiết,
    Ở ngoài đường nó biết tên mình.
    Nào là cửa nhà tan nát:
    Khắp thế-giới cửa nhà tan nát,
    Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu.
    Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắt-chiu,
    Nay tận-diệt lập đời trở lại.
    Nào là cha con, chồng vợ lạc nhau, nhà không ai ở :
    Cha nọ bồng con vợ khóc oà,
    Tan nát xóm giềng khổ dữ a !
    Nhà không người ở, ôi ! nói trước,
    Nếu chẳng tin lời gặp thiết tha.
    Ngoài những tai biến vừa kể, Đức Huỳnh Giáo-chủ còn cho biết nào là nạn ác thú kỳ-hình dị-trạng sát hại sanh-linh đúng như ông Sư-Vãi Bán-Khoai và ông Ba Thới cho biết. Chúng ta thử so sánh, đây là lời ông Sư-Vãi Bán-Khoai :
    Thú sao nhiều thứ dị-kỳ,
    Biết sao cho hết khác thì thú nay.
    Lớp bay lớp chạy lăng xăng,
    Chừng đó cầu nguyện Phật ngừa đặng đâu.
    Và đây là lời của ông Ba Thới :
    Có hổ lang ác có thú đến nhà,
    Hùm tha sấu bắt trẻ già thương ôi !
    Còn đây là lời của Đức Huỳnh Giáo-chủ :
    Mưu sâu thì họa cũng thâm,
    Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
    Hùm beo tây tượng bộn bề,
    Lại thêm ác thú mảng-xà rít to.
    Các loài thú ấy đều biết bay, đúng như ông Sư-Vãi Bán-Khoai đã viết:
    Hổ lang ác thú muôn bầy,
    Lớp bay lớp chạy sau này đa đoan.
    Ai mà ăn ở nghinh-ngang,
    Đón đường nó bắt xé tan xác hồn.
    Mặc dầu là kỳ-hình dị-tượng, nhưng loài thú ấy có tánh linh, biết phân-biệt kẻ hiền người ác. Với kẻ hiền đức thì nó cúi đầu, còn với người hung ác thì nó sát phạt:
    Sau kẻ ấy làm mồi mãnh hổ,
    Cảnh núi non nhiều thú dị-kỳ.
    Nó trọng ai hiền đức nhu-mì,
    Sát phạt kẻ bội cha phản chúa.
    Nào là nạn binhTrời mà ông Sư-Vãi Bán-Khoai và ông Ba Thới gọi là âm-binh. Đây là lời ông Sư-Vãi Bán-Khoai nói về âm-binh:
    Lại còn một mối âm-binh,
    Làm đau nhiều chứng trong mình chẳng an.
    Kẻ thời nát ruột nát gan,
    Người lại nát thịt tan xương chẳng còn.
    Và đây là lời của ông Ba Thới:
    Xuất ngôn vô độ hữu âm-binh,
    Xử phân bất chánh bất minh khổ đời.
    Còn đây là lời của Đức Huỳnh Giáo-chủ nói về nạn binh Trời:
    No chiều rồi lại đói mơi,
    Dương trần sắp vướng binh Trời từ đây.
    Nào là nạn bàn-môn tả-đạo nhiễu hại sanh-linh. Về đoạn này ông Sư-Vãi Bán-Khoai cho biết:
    Bàn-môn thả thú rất nhiều,
    Kỳ-lân sư-tử lại nhiều thú hung.
    Hay là:
    Bàn-môn diệu-thuật đa đoan,
    Hóa lửa nó đốt muôn ngàn người ta.
    Còn Đức Huỳnh Giáo-chủ thì cho biết:
    Ai mà Ta dạy chẳng gìn,
    Thì sau đừng trách mất tình yêu thương.
    Bàn-môn tài phép nào tường,
    Kêu Trời giậm đất cũng thì dạ rân.
    Nói cho trần-thế liệu-toan,
    Chớ theo tả-đạo mà tan xác hồn,
    Nó làm nhiều phép nhiều môn,
    Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng sanh.
    Thành binh sái đậu cũng rành,
    Nếu tin thì mắc tan-tành về sau.
    Nào là nạn Thiên-la địa-võng, ngăn đường đón ngỏ, kẻ hung ác không chạy đâu cho thoát:
    Đến chừng đó Thiên-la lưới bủa,
    Mới biết rằng Trời Phật công bằng.
    Nào là nạn sơn băng thủy kiệt:
    Sau đến việc sơn băng thủy kiệt,
    Khùng thảm thương bá tánh quá chừng.
    Nhìn xem trần nước mắt rưng rưng,
    Cảnh áo não kể sao cho xiết.
    Nào là nạn Đại Hồng-Thuỷ và lửa Trời cháy rực. Về đoạn này ông Sư-Vãi Bán-Khoai có viết:
    Nước đâu ngập lút gò cao,
    Lửa đâu dậy cháy lao xao khắp ngàn.
    Và đây là lời Đức Huỳnh Giáo-chủ nói về nạn Đại Hồng-Thủy:
    Ngọn thuỷ triều nô nức sụt sôi,
    Bầu trái đất một phen luân-chuyển.
    Và nói về nạn nước và lửa:
    Nước kia lửa nọ tưng bừng,
    Thảm cho thế-sự lẫy lừng nạn tai.
    Trải qua những Thiên-tai Địa-ách ấy người đời chết chẳng biết bao nhiêu mà kể cho xiết. Ông Sư-Vãi Bán-Khoai mô-tả thảm trạng ấy với câu:
    Ngồi trên đỉnh núi cheo leo,
    Thấy trong thiên-hạ như bèo trôi sông.
    Ông Ba Thời thì cho biết người ta chết đến không ai chôn:
    E thân thác chẳng đặng bó bì,
    Bây giờ quan quách cô dì chế tang.
    Về cảnh-trạng này Đức Huỳnh Giáo-chủ viết:
    Lớp đau chết kể thôi vô số,
    Thêm tà ma yêu quái chật đường.
    Hay là:
    Chinh chinh bóng xế về tây,
    Đoái nhìn trần thế xác thây ê-hề.
     
    #5
  6. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    Trong các Thiên-tai Địa-ách, riêng về hai tỉnh Long-Châu (Long-xuyên và Châu-đốc) còn chịu một tai nạn khủng-khiếp của con Long ác-nghiệt. Trong lịch sử Phật-Thầy Tây-An có đoạn nói rằng:
    Một hôm ông Đình-tây, một môn-đệ của Đức Phật-Thầy Tây-An, được lịnh Thầy đi xuống vùng Láng, gặp lúc vợ tên Xinh chuyển bụng đẻ mà không có chồng ở nhà. Ông Đình-Tây thấy vậy chạy lo làm giường và rước mụ giùm. Khi tên Xinh đi bắt rắn bắt rùa ở ngoài đồng về nghe rõ tự sự thì hết sức cảm ơn ông Đình-Tây. Ông này thấy trong giỏ của Xinh có một con sấu con, mũi đỏ có năm giò, thì rất thích bèn nài nỉ hỏi mua. Nhưng vì thọ ơn ông Đình-Tây mới vừa giúp vợ mình sinh đẻ nên Xinh vui lòng biếu con sấu ấy cho ông. Được con sấu ấy, ông Đình-Tây đem khoe với Thầy. Té ra Thầy biết đó loại sấu Thần, nên có bảo ông Đình-tây đem giết, để trừ hậu hoạn. Đã không nghe lời Thầy, ông Đình-Tây lén nuôi con sấu ấy. Được ba năm, con sấu ấy một hôm bò đi mất. Không dám giấu-giếm, ông bèn đem việc ấy bạch lại với đức Phật-Thầy thì ngài chắt lưỡi, rồi cắt nghĩa cho ông Đình Tây biết sau này con sấu ấy sẽ nhiễu hại dân-chúng không biết bao nhiêu mà kể.
    Trong Sấm-Giảng của Đức Huỳnh Giáo-chủ, chúng ta thấy Ngài không dứt nói đến tai nạn phải chịu về con sấu năm giò ấy mà dân-chúng miệt Long-xuyên và Châu-đốc kêu tôn là ông Năm Chèo, còn Đức Huỳnh Giáo-chủ thì gọi là con Long ác-nghiệt.
    Về con Long ác-nghiệt, Đức Huỳnh Giáo-chủ có chỉ vị-trí của nó và những tai nạn do nó gây ra :
    Con sông nước chảy vòng cầu,
    Ngày sau có việc thảm sầu thiết tha.
    Chừng ấy nổi dậy phong-ba,
    Có con nghiệt-thú nuốt mà người hung.
    Đến chừng thú ấy phục-tùng,
    Bá gia mới biết người Khùng là ai.
    Con thú ấy phục-tùng ai ? Đức Huỳnh Giáo-chủ không ngại mà cho biết rằng:
    Ta chịu lịnh Tây-phương thọ-ký,
    Gìn nghiệt-long đặng cứu dương-trần.
    Nên ra đời dạy dổ ân cần,
    Khuyên bá tánh vạn-dân liệu lấy.
    Và đến chừng đó khắp nơi mới mến yêu Ngài:
    Thâu cho được con Long ác-nghiệt,
    Thì khắp nơi mới biết mến yêu.
    Trong bao nhiêu tai trời ách nước mà người đời phải chịu trong thời-kỳ Hạ-Nguơn này, tuy là vô cùng khốn khổ, nhơn-loại điêu-linh, nhưng chưa khủng-khiếp bằng tiếng sấm nổ, báo hiệu thời-kỳ chuyển-biến bước qua cõi đời Thượng-Nguơn.
     
    #6
  7. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    6- Giảng về tiếng sấm nổ
    Tiếng sấm nổ sẽ gây ra nhiều hiện-tượng như: Sự thay đổi địa-hình, người đời đê-mê bất tỉnh, các vị Phật Tiên thừa vân lai thế công đồng thưởng phạt, lập lên đời Thượng-Nguơn…
    Về tiếng sấm nổ, ông Sư-Vãi Bán-Khoai có viết :
    Thương thay trần hạ hết tình,
    Sấm trời sao lại thình-lình nổ ra.
    Chừng ấy mới thấy quỉ ma,
    Ai lành ai dữ ai là Phật Tiên.
    Còn ông Ba Thới thì viết:
    Chừng nào nghe một tiếng âm thinh,
    Lạ quê lạ kiểng bình-minh lạ người.
    Lạ non núi lạ dạng nói cười,
    Mặt mày lơ láo như người cuồng phu.
    Đều cho biết những hiện-tượng vừa kể trên trong khi sấm nổ.
    Về sấm nổ Đức Huỳnh Giáo-chủ giải rất dài, vì đây là một hiện-tượng quan-trọng. Trước hết, tiềng sầm nổ ấy, làm bộc lộ kiểng Tiên :
    Vang vầy sầm nổ chuyển luân,
    Kiểng Tiên lộ vẻ vui mừng cha con.
    Sau nữa, tiếng sấm nổ làm lộ bảng vàng, các nước vì tham báu kéo qua gây chiến-tranh thảm-khốc:
    Sấm vang thì lộ bảng vàng,
    Chư nhu thế-giới khắp tràng đến thi.
    Chữ thi gần chữ sầu bi,
    Bị ham của báu ly-kỳ máu rơi.
    Tại đâu các nước kéo qua tranh báu, và báu ấy ở đâu ? Về vấn-đề này ông Sư-Vãi Bán-Khoai có viết:
    Chừng nào bảy núi thành vàng,
    Thời là mới đặng thanh-nhàn tấm thân.
    Hay là:
    Chừng nào Núi Cấm hoá lầu,
    Thời là bá tánh đâu đâu thái-bình.
    Còn ông ba Thới thì cho biết:
    Vận nghèo ai chẳng phi ơn,
    Của Trời Phật để Thất-Sơn thiếu gì.
    Đức Huỳnh Giáo-chủ thì Ngài không ngớt nhắc đi nhắc lại:
    Trên Bảy Núi còn nhiều báu lạ,
    Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời.
    Coi là coi được Phật được Trời,
    Coi phép lạ của Tiên của Thánh.
    Ngài cho biết rằng tuy nay là chốn rừng sâu u-minh nhưng mà trong đó có vàng:
    Hỡi bá-tánh rừng sâu có mạch,
    Tuy u-minh mà có đền vàng.
    Và Ngài không ngớt khuyên dân-chúng hãy rán tu để sau xem báu ngọc ấy:
    Đời cùng tu gấp kịp thì,
    Đặng xem báu ngọc ly-kỳ Năm Non.
    Ngài quả quyết trong ruột Năm Non ấy có lâu đài.
    Rừng lâm cây đá thấy ngày nay,
    Mà ruột Năm Non có các đài.
    Chờ đợi con hiền noi tục cổ,
    Tới thời Thượng-cổ điểu hoà mai.
    Và Ngài cho biết lầu đài ấy sẽ lộ nay mai:
    Lầu đài Núi Cấm lộ nay mai,
    Thức tỉnh chúng sanh sớm tỏ bày.
    Khuyên dạy dân tình minh đạo-đức.
    Tu hành được thấy cảnh Bồng-lai.
    Mà khi lâu đài lộ vẻ rồi thì chừng ấy sẽ thấy nhiều việc ly-kỳ ở Năm Non:
    Làm cho rồi phận tu-mi,
    Sau này sẽ thấy ly-kỳ Năm Non.
    Và những chuyện ly-kỳ ấy không chi khác hơn là các nước khi thấy đền đài châu báu lộ ra quá tham mà kéo đến:
    Lao xao bể Bắc non Tần,
    Quân Phiên tham báu xa gần cũng qua.
    Tranh phân cho rõ tài ba,
    Cùng nhau giành giựt mới là thây phơi.
    Bởi thế Đức Huỳnh Giáo-chủ thường khuyên:
    Khuyên bổn đạo chớ nên mê ngủ,
    Thức dậy tầm đạo chánh của Khùng.
    Đặng sau xem liệt-quốc tranh hùng,
    Đặng sanh sống nhờ ơn chín bệ.
    Hoặc là :
    Đức Diêm-chúa yêu người hiền thảo,
    Trọng những ai biết niệm Di-Đà.
    Lại được gần bệ ngọc long-xa,
    Coi chư-quốc tranh giành châu báu.
    Hay là :
    Hãy mau khuyên sớm chuyên cần,
    Đăng xem chư-quốc non Tần giành chia.
    Nhưng đến khi ấy người hiền thảo thì được dựa kề bệ ngọc các lân xem chư quốc tranh hùng, còn người hung ác thì chịu cảnh vợ xa chồng, con lạc mẹ vì cuộc chiến-tranh tàn-khốc ấy:
    Thảm cho trẻ hài-nhi lịu-điệu,
    Vợ xa chồng bận bịu thê-lương.
    Phong-trần dày-dạn gió sương.
    Chư bang ham báu hùng cường đua tranh.
    Còn một cuộc chiến tranh giành xé,
    Khắp hoàn-cầu ó ré một nơi.
    Dòm xem châu ngọc chiều mơi,
    Sao đời không sớm tách đời cõi mê.
    Tuy biết rằng vì ham báu mà các nước kéo qua tranh giành gây nên cuộc xâu xé nhau làm cho lê dân phải chịu họa lây, nhưng có đến cảnh thê-thảm ấy, người hiền đức mới thấy phép mầu của Phật Tiên Thần Thánh:
    Thất-Sơn lộ vẻ lâu đài,
    Chừng ni mới thấy nhiệm mầu của Ta.
    Bởi vì chính lúc thảm khổ ấy, lúc sanh linh chết thôi vô số kể, các đấng Tiên Phật mới hiện ra mà Đức Huỳnh Giáo-chủ đã khuyên tín-đồ lo tu sau sẽ thấy việc gì trên mây:
    Tu hành tâm trí rán tri,
    Sau này sẽ thấy việc gì trên mây.
    Hoặc là :
    Này này lời lẽ rán ghi,
    Sau đây sẽ thấy việc gì trên mây.
    Chừng đó những người hiền đức sẽ được tạn mặt nhìn thấy Phật Tiên và lâu đài quốc-vương:
    Nguyện cầu qua khỏi nạn tai,
    Đặng coi Tiên, Thánh lầu đài quốc-vương.
    Hay là :
    Chữ Nam-mô dẹp được lòng sầu,
    Sau thấy được nhà Tiên cửa Thánh.
    Chẳng những được thấy Tiên Phật mà còn được xem phép mầu của mấy Ngài nữa:
    Thương sanh chúng tỏ bày quá kỹ,
    Hỡi dương trần nên sớm quày đầu !
    Đặng sau xem Phật-pháp nhiệm mầu,
    Với báu quí đài lầu tươi tốt.
    Về những phép lạ này, Đức Huỳnh Giáo-chủ có nói đến nhiều đoạn, như:
    Sớm chiều rèn đúc kinh tinh,
    Ngày sau mới thấy phép linh của Trời.
    Những phép lạ ấy sở dĩ Phật Tiên hóa hiện ra là để trừ lũ Hung-Nô :
    Gắng công tu xem nhiều phép lạ,
    Của Thần Tiên trừ lũ Hung-Nô.
    Phải có phép Phật mới trừ nổi lũ Hung-Nô, vì chúng nó có tài phép đa đoan lắm. Về đoạn này Sư-Vãi Bán-Khoai có viết:
    Các nước vây phủ tư bề,
    Phật cùng chư vị nào hề rảnh đâu.
    Minh-Hoàng ngự tại Nam-lầu,
    Phật cùng chư-vị lo thâu phép Thần.
    Còn ông Ba Thới thì viết:
    Mãn nhứt thinh các nước đều vô,
    Đầu sơn giao chiến Nam-mô tranh tài.
    Thập bát quốc vây phủ ở ngoài,
    Thiền trung xuất trận phép tài quan Thiên.
    Đoái Ngũ-long tiền trận nữ Phiên,
    Giao chinh tam trận chư Tiên lai đầu.
    Phật thâu phép chư quốc chư hầu,
    Qui lai thiền nội ứng hầu Phật-vương.
    Và Đức Huỳnh Giáo-chủ thì viết:
    Địa Tiên tài phép đa đoan,
    Phi-đao bửu-kiếm mê mang mắt trần.
    Phật truyền thâu hết phép Thần,
    Cứu an bá tánh một lần nạn nguy.
    Phiên binh bốn phía tứ vi,
    Kể sao cho xiết chuyện ni sau này.
    Lớp thì thú ác dẫy đầy,
    Lớp thì tranh-đấu tối ngày chẳng thôi.
    Kẻ hung chừng đó làm mồi,
    Cho bầy ác thú đền bồi tội xưa.
    Nhưng khi Phật thâu hết phép rồi, Phiên binh hàng đầu bằng cách nào ?
    Ông Ba Thới cho biết Việt-Nam có một vị quân sư thượng-trí anh-hào coi mười tám nước:
    Nam triều sau có quân-sư,
    Coi mười tám nước chư châu phục tùng.
    Ngày sau nhiều kẻ anh hùng,
    Nghề văn nghiệp võ trí trung không cùng.
    Vị quân-sư ấy đóng một vai trò quan-trọng mà ông Ba Thới cho biết thêm rằng:
    Hữu quân-sư thượng trí anh-hào,
    Dạy mười tám nước chỗ nào văn thơ.
    Mười tám nước tài phép trơ trơ,
    Phật thâu trả quả ngẩn ngơ chư hầu.
    Mười tám nước lai giáng hàng đầu,
    Thường năm cống lễ ứng hầu Hớn-bang.
    Chỉ dùng thượng trí mà vị quân-sư ấy làm cho tài phép của các nước phải trơ trơ. Về đoạn này Đức Huỳnh Giáo-chủ nói rõ cho người đời thấy rằng:
    Thất-Sơn tiếng nổ,
    Qui cổ diệt kim.
    Cửu cửu y nhiên,
    Tình riêng tham báu.
    Đổ máu tuôn rơi,
    Khùng mới nói chơi,
    Chư bang hàng phục.
    Cũng đồng một ý nghĩa như ông Ba Thới rằng: Khùng mới nói chơi, chư bang hàng phục nghĩa là khắc phục Phiên-binh bằng phương-pháp bất chiến. Để bộc lộ tánh-cách bất chiến ấy, Đức Huỳnh Giáo-chủ viết thêm rằng:
    Anh hố hò khoan,
    Tình tang xự xế,
    Bỏ phế hương thôn,
    Ác đức vô môn.
    Rồng mây hội yến,
    Ra đời bất chiến,
    Nổi tiếng từ-bi,
    Lời lẽ rán ghi.
    Thành công em thắm,
    Có lắm người yêu.
    Về đoạn này nhiều người đem so sánh cho rằng giống một đoạn sấm của cụ Trạng-Trinh:
    Phân nhân lòng bắt khởi,
    Nhiểu nhiểu xuất đông chinh.
    Bảo-Sơn thiên-tử xuất,
    Bất chiến tự-nhiên thành.
    Chắc sao cũng có kẻ hỏi: tại đâu chỉ mới nói chơi mà chư bang hàng phục, chẳng chiến mà thành? Có ngươi giải-thích rằng: khi sấm nổ rồi thì súng chai, các võ-khí không còn hiệu lực nữa. Trong lúc ấy chỉ còn đấu phép hay đấu trí. Xưa nay sở-dĩ có chiến-tranh, nước khai hấn bao giờ cũng có giữ nhiều mưu-đồ chiến-lược bí-mật, chắc chắn rằng bên địch không lường nổi. Nay nước Việt-Nam có một vị quân-sư thượng-trí, có lục thông (Thiên-nhãn-thông, Thiên-nhĩ-thông, Thần-túc-thông, Tha-tâm-thông, Túc-mạng-thông, Lậu-tận-thông) ngồi một nơi mà thấy xa, nghe xa biết cả ý muốn của người nữa, thử hỏi khi chiến-lược của mình mà người biết, đều toan tính trong lòng mình mà người ấy lại hay, còn ai có gan dạ nào khai chiến, chẳng hàng đầu chớ.
     
    #7
  8. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    7-Giảng về Thượng-Ngươn
    Một khi mười tám nước phục-tùng thì Tam-giới công-đồng hội-hiệp để trừng trị những người hung ác ban thưởng người hiền lương:
    Người hung chết rất chật thây,
    Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.
    Mấy người còn được xác thân,
    Thi là đài ngọc, các lân mới kề.
    Về đoạn Tam-giác công-đồng hội-hiệp, ông Sư-Vãi Bán-Khoai có viết:
    Thiên-đàng Địa-ngục hiệp sang,
    Trung-ương Tam-giới xuê-xang phỉ tinh.
    Nói cho bá-tánh làm tin,
    Đừng mê đạo khác mà quên Nam-đình.
    Đến chừng gặp hội bình-minh,
    Gươm nào tội nấy chớ tình thở than.
    Còn ông Ba Thời thì viết:
    Sau Tam-giới hội lại một ngôi,
    Muôn dân lạc-nghiệp chúa tôi thuận hoà.
    Về đoạn này Đức Huỳnh Giáo-chủ giải rất rõ:
    Hiền lành chừng đó sum vầy,
    Quân thần cọng lạc mấy ngày vui chơi.
    Đến đó Ta thấy mới mừng cười,
    Nhìn xem Ngọc-Đế giữa Trời định phân.
    Thiên-hoàng mở cửa các lân,
    Địa-hoàng cũng mở mấy từng ngục-môn.
    Mười cửa xem thấy ghê hồn,
    Cho trần coi thử có mà hay không ?
    Nhơn-hoàng cũng lấy lẽ công.
    Cũng đồng trừng trị kẻ lòng tà gian.
    Ấy là đến lúc xuê-xang,
    Tam-hoàng trở lại là đời Thượng-Ngươn.
    Về việc Đức Ngọc-Đế định phân, Đức Huỳnh Giáo-chủ còn cho biết thêm rằng:
    Có ngày mở rộng qui khôi,
    Non Thần vang chuyển Khùng ngồi xử phân.
    Huyền-cơ máy tạo xoay vần,
    Đồng về Phật cảnh mười phần xinh tươi.
    Chẳng những Ngài dự một phần trong việc phân định của Đức Ngọc-Đế, mà còn lãnh một trọng trách trong việc lập bảng Phong-Thần nữa. Về bảng Phong-Thần Đức Huỳnh Giáo-chủ có viết:
    Các nơi Tiên-trưởng đâu đâu,
    Lư-bồng hội-hiệp đồng chầu Thánh-vương.
    Trụ kia bạo ác phải nhường
    Võ-vương hữu đức đường đường trị dân.
    Thì rõ việc Phong-Thần trở lại,
    Thuyền Đông-Pha lèo lái cánh trương.
    Và chỉ có người hiền đức mới xem được cuộc Phong-Thần đăng bảng:
    Nhờ ơn Trời ban bố đức ân,
    Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.
    Nhưng vị nào lãnh phần đứng ra dựng bảng Phong-Thần ? Đức Huỳnh Giáo-chủ không e ngại mà cho biết:
    Đến kỳ thi danh Thầy chạm bảng,
    Trên đài cao gọi các linh-hồn.
    Chỉ có một hội này mới biết ai được ai mất. Bởi thế Đức Huỳnh Giáo-chủ không dứt khuyên răn:
    Lo lo liệu liệu chịu tiếng trần,
    Có một hội này rán lập thân.
    Chớ để trễ chầy rèn chẳng kịp,
    Khuyên ai khuya sớm rán chuyên cần.
    Và một khi được bước đến cõi Tiên-bang mới hưởng được sự an nhàn dựa kề cửa Thánh:
    Gắng công khỏi buổi nghèo nàn,
    Sum vầy một cuộc Hớn-đàng toại thay.
    Người nào vẹn được thảo ngay,
    Dựa kề cửa Thánh đài mây an nhàn.
    Nhưng hỡi ôi ! những người được hưởng phước huệ ấy còn chẳng được bao nhiêu. Theo ông Sư-Vãi Bán-Khoai thì trong mười người còn lại hai người:
    Tôi buồn bốn phía không yên,
    Kẻ dữ hết tám, người hiền còn hai.
    Nhưng theo ông Ba Thới thì trong mười người chỉ còn có một:
    Càng ngày càng hao càng mòn,
    Mười phần hết chín chẳng còn người hung.
    Còn Đức Huỳnh Giáo-chủ thì cho biết cả thế giới số người còn lại lối hai ba phần:
    Thiên cơ biến đổi can qua,
    Gẫm trong thế-giới còn đôi ba phần.
    Mau mau kíp kíp chuyên cần,
    Chúng sanh còn có lập thân hội này.
    Nhưng số người còn lại ấy, có thể giữ được tấm thân ô-trược trong thời-kỳ Thượng-Ngươn chăng ? Một thời-kỳ mà quả đất đổi hình, cảnh vật đều xinh tươi khí-hậu thanh khiết ôn lương, ngày thì mặt trời mọc, đêm thì có trăng sáng như ban ngày ? Từ ông Sư-Vãi Bán-Khoai , trải qua ông Ba Thới đến Đức Huỳnh Giáo-chủ, đều nhìn nhận là có sự thay hồn đổi xác, phản lão hoàn đồng. Về vấn đề này ông Sư-Vãi Bán-Khoai có viết:
    Tu hành nhơn đức thì hơn,
    Thay hồn đổi xác nhờ ơn Cửu-trùng.
    Hết tục rồi lại đến Tiên,
    Giữ lời Phật dạy mới yên mới lành.
    Ông Ba Thới cũng nhận sự phản lão hoàn đồng, hết tục đến Tiên ấy là nhờ phép Phật:
    Khá bủa câu thả lưới đợi chờ,
    Phật cho tài phép một giờ thoát mê.
    Cõi dương-gian ba kiểng ba quê,
    Ba ngôi ba chúa châu phê nhứt điều.
    Thương cho người sống ít thác nhiều,
    Linh đơn Phật rưới mai chiều hóa Tiên.
    Về vấn đề này Đức Huỳnh Giáo-chủ có viết :
    Chừng Bảy Núi lầu son lộ vẻ,
    Thì người già hóa trẻ dân ôi !
    Tu hành ắt được thảnh-thơi,
    Lại xem được Phật được Trời báu thay.
    Đức Huỳnh Giáo-chủ còn cho biết cái hiện tượng thay hồn đổi xác chẳng riêng gì ở Việt-Nam mà còn khắp hoàn-cầu:
    Sau lập hội thì già hóa trẻ,
    Khắp hoàn-cầu đổi xác thay hồn.
    Đức Ngọc-Hoàng mở cửa thiên môn,
    Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh.
    Và Ngài cho biết cũng như ông Sư-Vãi Bán-Khoai và ông Ba Thới rằng: việc thay hồn đổi xác, già hóa trẻ ấy là nhờ phép Tiên phép Phật:
    Cổ ngữ hằng ghi thậm khổ đa,
    Tận diệt nhơn gian, trực Tiên khoa.
    Lão giã hậu qui nhơn ấu giả,
    Ly-kỳ Thiên định dĩ thiên-la.
    Thế là đời Thượng-Ngươn đã lập với sự đổi mới địa-hình, nhơn-vật. Về đoạn này ông Sư-Vãi Bán-Khoai có viết:
    Phật Trời nói chẳng sai lời,
    Long-Hoa là hội Phật Trời lập ra.
    Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
    Chọn người tu niệm đặng rày bao nhiêu ?
    Chọn lựa coi thử ít nhiều,
    Người lành kẻ dữ còn tiêu kẻ nào ?
    Minh-Vương xuất đế ngôi cao,
    Lập đời Thượng-cổ anh hào hiền lương.
    Chọn người của Phật mến thương,
    Đặng giao mối nước cho Vương Minh-Hoàng.
    Còn ông Ba Thới thì viết:
    Phật thâu phép chư quốc chư hầu,
    Qui lai thiền nội ứng hầu Phật-vương.
    Đồng chúc Thánh vạn thọ an khương,
    Tuế tăng vạn tuế Phật vương thọ trường.
    Phân chư quốc cống lễ minh tường,
    Tiểu ban lãnh sắc thường thường thọ ân.
    Đãi yến diên chư quốc quan dân,
    Chỉnh tề trở lại hương lân an phần.
    Phân thượng hạ quan chức quân thần,
    Phân ngôi phân thứ định phần quan dân.
    Chúc Hớn trào miên viễn hoàng ân,
    Trường sanh thọ tuế muôn dân thanh nhàn.
    Thế là ông Sư-Vãi Bán-Khoai và ông Ba Thới đồng nhận ở thời-kỳ Thượng-Nguơn sẽ do Đức Minh-Vương ngự trị.
    Đến Đức Huỳnh Giáo-chủ, Ngài cũng nhận như thế:
    Khắp lê-thứ biến di thương hải,
    Dùng phép mầu lập lại Thượng-Nguơn.
    Việc thiên-cơ Khùng tỏ hết trơn,
    Cho trần hạ tường nơi lao lý.
    Lão nào có bày điều ma-mị,
    Mà gạt lường bổn đạo chúng sanh.
    Đức Minh-Vương ngự ở Nam-thành,
    Đặng phân xử những người bội nghĩa.
    Và Ngài cho biết có Đức Minh-Vương sửa trị thì đời mới an cư:
    Đạo đời nào có tư riêng,
    Minh-Vương sửa trị mới yên ngôi Trời.
    Và đời an cư ấy là ngày Thượng-Nguơn hồi phục:
    Làm cho rõ mặt râu mày,
    Thượng-Nguơn hồi phục là ngày an cư.
    Ông Sư-Vãi Bán-Khoai cũng nhận như Đức Huỳnh Giáo-chủ rằng có Đức Minh-Vương trị nước thì dân mới thái-bình:
    Các nước chư quốc khiêm nhường,
    Minh-Vương trị nước như Đường cao-Tôn.
    Nam trào Phật ngự rất đông,
    Vua lên chánh-điện thì dân thái-bình.
    Về thời-kỳ thạnh-trị ấy, Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết như thế này:
    Ngày nào mà Phật, Tiên toạ vị,
    Ấy thời lai bình-trị muôn dân.
    Khắp các nơi chư quốc xưng thần,
    Trong bốn biển chúng dân lạc-nghiệp.
    Theo dõi gót người xưa mới kịp,
    Vừng mây lành ngũ sắc hào quang.
    Phật, Thánh, Tiên Đông-độ bước sang.
    Miền Nam-địa phân chia đẳng cấp.
    Nước cờ mới nay đà khởi sấp,
    Trổ tài hay biển lắp non đời,
    Dưới cùng trên ảm đạm khí Trời,
    Cả thế-giới mưa hòa gió thuận.
    Tạo nền móng Thánh quân đặt vững,
    Nơi Triều-ca gầy dựng tôi hiền.
    Mà sở dĩ khắp thế-giới đều một niềm hòa-thuận là vì ở thời-kỳ Thượng-Nguơn sẽ có Phật, Tiên tại thế, và việc nước đều gom về một mối, đặt dưới sự sửa trị của một vị Thánh quân:
    Cùng no bốn biển một cha thôi,
    Bỏ dứt thói hư với tật tồi.
    Trên có Phật Trời soi việc thế,
    Dưới đầy cơm áo lão về ngôi.
    Và sau này, khi đời Thượng-Nguơn được lập thì nước Việt-Nam sẽ đổi quốc-hiệu là Hớn-bang. Về điều này ông Sư-Vãi Bán-Khoai đã có nói:
    Nói cho già trẻ lo âu,
    Minh-Vương khôi phục Hớn Châu Phong Thần.
    Còn ông Ba Thới thì viết:
    Mười tám nước lai giáng hàng đầu.
    Thường năm cống lễ ứng hầu Hớn-bang.
    Hay là :
    Phân thượng hạ quan chức quân thần,
    Phân ngôi phân thứ định phần quan dân.
    Chúc Hớn trào miên viễn hoàng ân,
    Trường sanh thọ tuế muôn dân thanh nhàn.
    Về quốc-hiệu sau này của Việt-Nam, Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng nhận là Hớn-bang hay Hớn-đàng:
    Ngũ niên viễn tự cơ hàn,
    Đến chừng qui phục Hớn-đàng mới yên.
    Bởi Hớn-bang là một cõi Tiên-bang sau này cho nên muốn đi đến cõi ấy, Đức Huỳnh Giáo-chủ hằng khuyên hãy cố gắng tu hành:
    Gắng công khỏi buổi nghèo nàn,
    Sum vầy một cuộc Hớn-đàng toại thay !
    Người nào vẹn được thảo ngay,
    Dựa kề cửa Thánh đài mây an nhàn.
    Và muốn đi tới cõi tốt đẹp ấy, cần phải nhẫn-nại trông chờ:
    Duyên sự đê mê cảnh Hớn-đàng,
    Lần dò cho thấu nẻo Tiên-bang.
    Xuê-xang mấy kiểng nhìn sương gió,
    Lòn cúi chờ trông lúc khải-hoàn.
    Mà ngày khải-hoàn ấy là ngày thấy được phụng-hoàng xuất hiện, tức là điềm thánh-chúa ra đời:
    Chừng nào thấy được phụng-hoàng,
    Rồng chầu chớp nháng Hớn-đàng hiển vinh.
    Và ngày hiển vinh ấy là ngày hớn-đàng vững đặt:
    Một tay tá quốc an bang,
    Nước nhà vững đặt Hớn-đàng hiển vinh.
    Cứ theo Đức Huỳnh Giáo-chủ thì ngày hiển vinh, vui tươi ấy cũng gần lố bóng, chớ không còn xa:
    Ngày vui tươi cũng đà lố bóng,
    Cớ sao đời còn mãi say sưa ?
    Không tìm Thầy đặng hưởng phước thừa,
    Ngày lập hội tay vin cành quế.
    Cái cơ-hội được vin cành quế, chỉ có một ngày hội này mà thôi. Bởi thế Ngài khuyên hãy rán chuyên cần, bằng để trễ chầy thì chẳng kịp. Nhưng chừng nào Hội Long-Hoa mới lập ? Ngày tận-diệt còn xa chăng ?
     
    #8
  9. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    8- Những lời Tiên-tri
    Đọc qua các Sấm Giảng từ ông Sư-Vãi Bán-Khoai, trải qua ông Ba Thới cho đến Đức Huỳnh Giáo-chủ, ai cũng nhận thấy có nhiều đoạn nói về thời-gian rất phù-hạp nhau, mà phù-hạp cả Sấm của Trạng-Trình nữa.
    Trong Sấm Trạng-Trình có đoạn viết
    Long vĩ xà đầu khởi chiến-tranh,
    Can qua xứ xứ khổ đao binh.
    Mã đề dương cước anh-hùng tận,
    Thân dậu niên gian kiến thái-bình.
    Ông Sư-Vãi Bán-Khoai cũng nhận-định như thế, nên có nhiều đoạn viết như:
    Mèo kêu nghe tiếng ai bi,
    Quân thần phụ tử xiết chi ưu phiền.
    Rồng bay xao xiến nào yên,
    Rắn bò giáp giới đảo điên dương-trần.
    Chừng nào có ngựa có lân,
    Có qui có phụng có quân có thần.
    Hay là:
    Năm Mẹo tháng Mẹo chưa buồn,
    Năm Mẹo tháng Hợi luỵ tuôn dầm-dề.
    Vậy mà chưa thấy ủ ê,
    Trung-ương rồng lộn ê hề thây thi.
    Mèo kêu riết tới ai bi,
    Tới gà về ổ dân thì bình an.
    Như thế là cùng nhận như Đức Trạng qua Dậu mới thái-bình.
    Ông Ba Thới cũng nhận rằng:
    Con Mèo ngồi sợ rắn xa đàng,
    Dê thời ghét Khỉ xóm làng sạch trơn.
    Thập bát quốc làm hội đầu sơn,
    Thăng thiên độn thổ nhờ ơn Phật Trời.
    Trong Sấm Giảng của Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng thấy đồng một nhận-định ấy:
    Mèo kêu bà tánh lao xao,
    Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.
    Con ngựa lại đá con dê,
    Khắp trong trần hạ nhiều bề gian-lao.
    Khỉ kia cũng bị xáo xào,
    Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
    Và cho biết đến Dậu là có Phật ra đời:
    Chừng nào mới đặng thảnh thơi,
    Dậu Phật ra đời thế-giới bình yên.
    Và nhắc lại rằng những điều cho biết trên đây là đúng theo sấm truyền của Đức Trạng:
    Ngày nay xe lết xe lôi,
    Đúng lời truyền sấm của đời Lê.
    Là năm Rồng, Rắn,Ngựa,Dê,
    Chúng sanh thế-giới ê-hề thây phơi.
    Trạng Trình truyền sấm mấy lời,
    Ngày nay dân chúng vậy thời rán tri.
    Về bài Sấm của Trạng Trình, có người cho rằng đã ứng hiện trong trận đại-chiến thứ hai vừa rồi. Nhưng trong quyển Phi-Lạc sang Tàu, ông Hồ-Hữu-Tường cãi lại rằng: bài Sấm của Đức Trạng chỉ vào trận giặc cuối cùng là trận giặc thứ ba.
    Nhưng có điều mà Sấm Giảng đều nhận là thế nào giặc Tần cũng khởi trước, mở màn cho cơ tận-diệt.
    Về điểm này ông Ba Thới viết:
    Lòng tưởng Phật có người bảo-hộ,
    Của bá gia cứu độ bá-gia.
    Việc trước thời Tần khởi loạn ra,
    Sát nhơn vật người ta thậm khổ.
    Tứ-Thánh cũng có viết:
    Để rồi cuộc loạn quân Tần,
    Biết cho Tứ-Thánh bắc vần hay không.
    Ếch ngồi đáy giếng mắt trông,
    Vịt nghe tiếng sấm cũng không biết gì.
    Khoai lang lại với khoai mì,
    Đến khi Tần khởi độ thì khẩu ta.
    Trong Sấm-Giảng, Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng cho biết Tần sẽ diêu động trước:
    Tam châu hữu ngạn luỵ nhỏ sa,
    Thập bát chư bang động can-qua.
    Dương gian mãnh thú trừ tàn ác,
    Lê thứ hậu lai khổ thiết tha.
    Tần bang hậu hận tiên diêu động,
    Nam-quốc lương dân kiến linh xa;
    Phồn hoa đô hội lưu giang huyết,
    Dư đảng dọc ngang cắp Ma-ha.
    Nhưng dầu sao cũng chỉ là những lời tiên-tri, vì chưa thực-hiện nên còn chưa tin. Đức Huỳnh Giáo-chủ cũng biết thế nên chi có nói trước:
    Nữa sau đến việc biết đời,
    Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.
    Mặc dầu tin hay không tin, Ngài cũng nói:
    Nghe không thì cũng mặc tình,
    Nói cho rõ rệt dân tin không là.
    Và đây là những lời tiên-tri đã ứng-hiện: chúng tôi muốn nói về hiện-tượng lúa bay.
    Nói lúa mà biết bay, thiệt không có ai ngờ, nhưng hiện-tượng này đã xảy ra. Cứ theo báo chí đăng tải thì hiện-tượng này đã đã xảy ra ở tỉnh Bạc-liêu mà người tường-thuật không ai khác hơn là một vị cao cấp trong toà-án ở Bạc-liêu trước kia đã từng lăn lộn trong nghề báo, có đứng chủ-trương cả tuần báo lẫn nhựt báo.
    Như thế lời tường-thuật không còn nghi-ngờ là điều bịa đặt. Người ta có đưa ra giả-thuyết cho rằng con trốt hốt lúa bay đi, nhưng theo lời tường-thuật thì không thể cho đó là một hiện-tượng do con trốt gây ra, vì rằng khi thấy lúa bay thì người ta cố đậy ém nó lại nhưng nó vẫn chui ra bay như thường, trong lúc không có gió dông gì cả.
    Cái hiện-tượng này cũng thấy xảy ra ở trong tỉnh Long-xuyên và Châu-đốc, ngặt vì không có ai tường-thuật lên mặt báo nên không ai hay biết.
    Cái hiện-tượng này đã được Sấm-Giảng từ mười mấy năm về trước cho biết và cắt-nghĩa lúa ấy bay về đâu? Đây là đoạn Đức Huỳnh Giáo-chủ giải thích về lúa bay:
    Ngồi chơi đạo-lý bàn qua,
    Mấy bà có biết lúa mà bay không ?
    Có người đạo-lý hơi thông,
    Xin ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.
    Điên nghe liền mới tỏ bày,
    Lúa bay về núi để dành ngày sau.
    Thế là lúa ấy bay về núi để dành ngày sau mà trong khi Kim-cổ kỳ-quan của ông Ba Thới đã cho biết:
    Đói ăn bắp đói nữa ăn khoai,
    Hết khoai hết bắp chiều mai ăn đá,
    Thế là lời tiên-tri về lúa bay từ mười mấy năm về trước ngày nay đã ứng-hiện.
    Và đây là lới tiên-tri mà Đức Huỳnh Giáo-chủ cho biết trước rằng sau này khó kiếm được Ngài:
    Tu kíp kíp nếu không quá trễ,
    Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng.
    Hay là:
    Rán nghe lời dạy của Thầy,
    Để chừng đến việc kiếm Thầy không ra.
    Ngoài ra Ngài còn cho biết trước những biến-chuyển về thời cuộc Việt-Nam mà lần lượt được thấy ứng-hiện không sai. Như khi Nhựt chiếm đóng, Ngài cho biết Nhựt ăn không hết nửa con gà, trong lúc người ta tin chắc Nhựt sẽ thắng Đồng-minh.
    Lời tiên-tri ấy được ứng-hiện rõ ràng.
     
    #9
  10. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743

Chia sẻ trang này