Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương

Thảo luận trong 'CÔNG ĐỒNG TỨ PHỦ VÀ THẦN TIÊN' bắt đầu bởi Bian.tu, 26 Tháng tư 2013.

  1. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    Hoàn cảnh ra đời

    [​IMG]
    [​IMG]


    Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (còn được gọi là đạo Lành)[3] được khai sáng năm 1849bởi một người tục danh Đoàn Minh Huyên (1807-1856), đạo hiệu là Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnhĐồng Tháp). Sau này, khi ông đến tu tại chùa Tây An (núi Sam, Châu Đốc) được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An.
    Năm 1849, ở Nam Kỳ xảy ra vụ mất mùa và đại dịch (kéo dài đến 1850), đã làm nhân dân lâm vào cảnh cùng cực, khổ đau và chết chóc. Trong hoàn cảnh ấy, Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn (nay thuộc huyện Lấp Vò, Đồng Tháp) vào Tràm Dư, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt được nhiều bệnh nhân và người thân của họ nghe theo những điều răn dạy của ông.
    Thấy người tin theo ngày một đông, nên ngay năm 1849[4], ông đã sáng lập ra đạoBửu Sơn Kỳ Hương, và tồn tại cho đến ngày hôm nay.
    Hiện nay, theo thống kê của Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng 15.000 tín đồ sinh sống tập trung ở các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tiền GiangBến Tre. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong quá trình hình thành và phát triển, tín đồ của đạo luôn có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc đóng góp nhiều công lao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
     
    #1
    vohinh.tuThanks.
  2. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    A.- Đức Phật-Thầy Tây-An

    Chính Đức Phật Thầy Tây An đã sáng lập giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương, Danh từ này được truyền ra là từ khi Ngài về ở Núi Sam. Cứ mỗi lần Ngài thâu nhận một người nào qui y thọ giáo thì Ngài có phát cho một cái lòng phái có bốn chữ Bửu- Sơn Kỳ- Hương bằng son in trên giấy vàng. Người tín đồ thọ phái, xem đó như một vật rất thiêng liêng, cứ may đãy mà đeo, không dám tò mò tìm hiểu ý nghĩa. Danh từ Bửu- Sơn Kỳ- Hương từ đó một ngày một rộng truyền ra. Người nào co lòng phái tức là tín đồ của phái Phật thầy hay Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
    Một khi qui y thọ phái rồi, người tín đồ phải tu hành theo pháp môn của Ngài chỉ dạy. Về phương diện nghi thức thờ phượng, mỗi nhà, ngoài bàn thờ ông bà cha mẹ, còn có ngôi thờ Tam bảo, trên đó chỉ thờ đơn giản một tấm trần điều, chớ không có cốt hình chi cả.
    Còn về phương diện hành đạo thì Ngài dạy tín đồ lo làm lành lánh dữ, đền trả Tứ Ân, sửa tâm sửa tánh, siêng năng niệm Phật, nghĩa là cả pháp môn Tu Nhân học Phật. Kỳ dư không có dạy tụng kinh gõ mõ hay ly gia cát ái. Ngay các đại đệ tử như ông Đạo Xuyến, Đạo Ngoạn… mặc dù quyết chí ly gia cát ái, nhưng Ngài không cho mà trái lại còn dạy trở về lập gia thất, cốt yếu là phải cứu dân độ thế, làm ích lợi cho đời, tự mình làm lấy mà sống.
    Đó là về phương diện công truyền. Đến như đối với hàng đại đệ tử thì ngoài phương diện công truyền để phổ hóa chúng sinh. Ngài còn mật truyền bí pháp chỉ dạy cách tu luyện để đắc pháp thần thông có thay thế Ngài ra giúp đời độ bịnh. Chính trong hàng đệ tử thân tín ấy, Đức Phật Thầy đã truyền bài thơ "Tứ bửu linh tự", bài "Đại Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận"… để thông đạt diệu lý và cơ huyền của phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
    Sau khi, cơ cấu đã vững đặt, hàng trăm đệ tử đắc pháp thần thông, Đức Phật Thầy mới bắt tay vào việc truyền bá. Hoặc giả, tự Ngài lập chùa, lập trại rồi giao phó cho đệ tử đảm đương việc phát phù trị bịnh, giáo hóa chúng sinh, hoặc giả, tự đệ tử đứng lên tạo lập, khuyến tu phát phái, thâu nhận tín đồ. Nhờ đó mà chẳng bao lâu hệ phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương đã đặt khắp miền Nam nước Việt. Người ta được biết, ngoài vùng Châu Đốc, Long Xuyên, công cuộc truyền giáo về miệt Cao Miên thì có Bà Năm Chòm Dầu, về miệt Sa Đéc. Vĩnh Long thì có ông Đạo ngoạn, về các tỉnh miền Đông thì có ông Đạo Xuyến.
    Trong một thời gian rất ngắn, từ ngày Đức Phật Thầy ra đời cho đến ngày Ngài viên tịch, chỉ trong vòng có bảy năm mà cơ sở của giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương đã vững vàng, tín đồ qui y thọ giáo có mấy mươi vạn.
    Có thể nói chính Ngài là người đầu tiên báo tin cho chúng sinh biết rằng nhân loại bước vào thời kỳ Hạ nguơn là thời kỳ cũng cuối của luật tuần huờn Tam nguơn để tạo lập đời Thượng nguơn vô cùng an lạc.
    Đặc điểm của giáo lý nhà Phật không phải là những giáo điều cố định; nó luôn luôn uyển chuyển, tùy không gian thời gian, để thích nghi với căn cơ của chúng sinh.
    Cũng như một vị lương y diệu thủ biết tùy theo tạng phủ của bịnh nhân mà gia giảm phương dược, Đức Phật Thầy Tây An, y cứ theo giáo pháp căn bản của Đức Phật, đã biết chọn pháp môn thích hợp với căn cơ của chúng sinh ở thời kỳ mạt pháp
    Nhận rõ con người sanh ở thời kỳ Hạ nguơn này phần đông là hạng người thiểu căn thiểu trí, không thể lãnh hội hay tu theo những giáo lý cao siêu chỉ thích hợp với hạng người thượng căn thượng trí ở thời kỳ chánh pháp, nên chi Ngài khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật, là pháp môn gồm tu cả phước lẫn huệ, dù người ở trình độ cơ cảm nào cũng có thể tu hành được cả.
    Với pháp môn Tu Nhân Học Phật, Ngài đã gây nên một phong trào đạo đức chưa từng có khắp miền Nam nước Việt. Ngài làm sống lại chánh pháp vô vi chân truyền của Đức Phật Thích Ca mà từ một ngàn năm trở lại đây khi Đức Lục tổ Huệ Năng bặt truyền y bát, đã thất truyền vì những lối tu âm thinh sắc tướng của Thần Tú.
    Quả pháp môn Tu Nhân Học Phật là một pháp môn siêu thăng ở thời kỳ Hạ nguơn thứ nhứt là ở hoàn cảnh của Việt Nam.
    Với điều Tu Nhân, nó đã giúp cho người hành trí nó, trả được nợ Tứ Ân, gây lấy phước duyên làm nền móng cho bước đường tu giải thoát và nêu cao tinh thần hy sinh vì đạo nghĩa như hồi đời Lý đời Trần. Trong lịch sử Cần vương, một danh dự rất lớn đã dành cho Trần Văn Thành, Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Nhu… đều là những vị anh hùng cứu quốc, xuất thân trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương.
    Với điều học Phật, một số lớn môn nhân đệ tử của Ngài đã đắc pháp thần thông và liễu ngộ. Cần nhắc lại chăng gương ông Cử Đa, Đạo Lập, Đạo Xuyến, Đạo Sang, ông Ba Thời… đều là những bực tu hành đã có nhiều ấn chứng mà chẳng một ai ở miền Nam nước Việt không từng nghe danh hay ít ra cũng được mấy ngài hóa độ.
    Đó là chưa kể những Đức Phật Trùm, Đức Bổn sư, ông Sư Vãi Bán Khoai, Đức Huỳnh giáo chủ… là những bực tỏ ngộ nối tiếp nhau hưng truyền giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương và sương minh pháp môn Tu Nhân Học Phật, gây nên một thịnh huống tu hành trong dân chúng.
    Công nghiệp hoằng hóa lợi sanh của Đức Phật Thầy Tây An, đối với chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp thật vĩ đại lắm thay.
    Riêng về dân tộc Rồng Tiên, công nghiệp ấy qui bằng núi báu (Bửu Sơn), vì nó đem lại một mùi thơm lạ (Kỳ Hương) trong Phật-giáo Việt Nam.
     
    #2
    hai nho and vohinh.tu Thanks.
  3. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    Có thể nói Đức Phật Thầy Tây An, vị sáng lập ra giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương là người thứ nhứt đã báo hiệu và đánh thức người đời rằng thời kỳ Hạ nguơn sắp mãn để bước sang thời kỳ thượng nguơn, tức là thời kỳ Đức Phật Di Lặc hạ sanh lập lên Hội Long Hoa như Ngài cho biết:
    Hạ nguơn đã cận người ôi !
    Nay cho giáng bút đề thôi coi đời.
    Lời báo hiệu này, Đức Phật Thầy thốt ra trên một năm nay. Ta không phải lấy làm ngạc nhiên về lời báo hiệu của Ngài, là bởi Ngài thấu rõ cơ huyền. Sự giáng lâm của Ngài là cả một sự kỳ bí làm cho mọi người phải kinh ngạc. Ngài không từng tu học, thế mà hoát nhiên tỏ ngộ, không khác trường hợp của Đức Lục tổ Huệ Năng. Ngoài những huyền diệu cứu độ chúng sanh, Ngài còn khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật là một pháp môn thích hợp với trình độ cơ cảm của chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp. Ngài mở cơ phổ độ và khuyên hóa nhân dân mau kiếp tu hành cho kịp kỳ dự Hội Long Hoa. chầu Đức Di Lặc.
    Danh từ Hội Long Hoa được quảng bá trong dân chúng là bắt đầu từ đó.
    Sau Đức Phật Thầy Tây An, còn có các Ngài tiên giác trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương tiếp tục, cũng không dứt nói đến Hội Long Hoa, cho biết rõ những biến thiên sẽ xảy ra thế nào trong những ngày lập hội
    Nhận định về thời kỳ Hạ nguơn, ông Sư Vãi Bán khoai có viết:
    Hạ nguơn giáp tý đầu tiên,
    Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào.
    Hoặc là:
    Hạ nguơn giáp tý bằng nay,
    Cơ trời đã khiến lập đời Thượng lai.
    Về Hội Long Hoa, ông có viết:
    Bởi trần lỗi quá muôn phần,
    Cho nên lập Hội Long Hoa chọn người.
    Hiền từ thì đặng thảnh thơi,
    Nghinh ngang khó trốn lưới trời bớ dân !
    Và ông quả quyết:
    Trẻ già đừng có nghi ngờ,
    Việc đời ngó thấy bây giờ tới đây.
    Gần đây Đức Huỳnh giáo chủ, cũng là một bực hoát nhiên tỏ ngộ, không học mà thông có cho biết về đời Hạ nguơn không khác gì các bực Tiên.
    Hạ nguơn nay đã hết đời,
    Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.
    Với Đức Phật Thầy Tây An và ông Sư Vãi Bán khoai thì thời kỳ Hạ nguơn chỉ mới bắt đầu, đến Đức Huỳnh giáo chủ thì Ngài lại cho biết thời kỳ ấy đã hết.
    Thế nên Ngài nói quyết;
    Đời Nguơn hạ ngày nay mỏng mẻo,
    Khuyên thế trần hãy ráng kiêng dè.
    Về Hội Long Hoa, Ngài còn nói rõ hơn nữa, Ngài cho biết đó là một trường thi để tuyển chọn người hiền đức.
    Lập rồi cái Hội Long Hoa ,
    Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu.
    Gian tà hồn xác cũng tiêu,
    Thảm thương bá tánh chín chiều quặn đau.
    Nói tóm lại, các Ngài tiên giáo trong giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương đều quả quyết rằng đời mạt hạ đã sắp mãn và Hội Long Hoa chắc chắn sẽ được lập một ngày gần đây.
    Những điều thuyết giáo này còn được Cao đài giáo xác nhận.
     
    #3
    hai nho and vohinh.tu Thanks.

Chia sẻ trang này