Ý Nghĩa Mai Hoa Dịch Số ...

Thảo luận trong 'DỊCH HỌC ( Dịch số, Thái Ất, Kỳ Môn Ðộn Giáp...)' bắt đầu bởi batquantrai, 2 Tháng một 2013.

  1. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Lời Tựa
    Bản khắc mới định thêm tướng tự Tâm Dịch Mai Hoa Số Tự
    Đời nhà Tống có ông Thiệu Khang Tiết, ẩn cư tại chốn sơn lâm, mùa đông lạnh không sưởi ấm, mùa hạ nóng mực không dùng quạt giải nhiệt, chỉ để tâm đến Dịch quên hẳn sức giá rét, sức nóng bức, mà còn dán Dịch lên vách, chú tâm suy xét tìm tòi chỗ cùng cực và mắt đăm đăm nhìn vào Dịch xét sự huyền bí sâu xa của Dịch, lòng mong ước tạo nên dịch số nhưng chưa có bằng chứng đích xác.

    Một ngày kia đương Ngọ ngủ trưa, thấy một con chuột chạy ngang qua, bèn lấy cái gối bằng sành kê trên đầu ném con chuột đương chạy, chuột chạy mất gối bị bể ra, thấy trong mảnh gối có đề chữ, bèn lượm lên xem thấy: “Cái gối này ban cho hiền nhân Khang Tiết, năm ấy, tháng ấy, ngày ấy, giờ ấy thì dùng gối này ném chuột, gối bị bể”.
    Tiên sinh lấy làm lạ, bèn đi tìm nhà làm đồ gốm để dò xét. Chủ lò gốm bảo với tiên sinh rằng: “Xưa có một người, tay cầm quyển Chu Dịch, ngồi nghỉ cầm cái gối này biên chép, vậy chắc dạng chữ là của ông già đó vậy. Đến nay cũng chưa được bao lâu, vả chăng tôi có quen biết ông già đó, vậy tiên sinh vui lòng cùng tôi đi tìm xem”.
    Nhưng ông già đó không còn nữa, chỉ để lại một quyển sách và dặn với gia nhân rằng: “Năm ấy, tháng ấy, giờ ấy, có một tú sinh đến nhà ta, nên giao quển sách này cho người thì sẽ biết được hậu sự của ta ra thế nào?” Người nhà lấy sách trao cho tiên sinh. Tiên sinh xem thấy lời văn của Dịch, gồm toàn pháp thuật kiện toàn tiên quyết, đáng được chọn làm lệ để tạo nên Dịch số.
    Tiên sinh bảo cùng gia nhân rằng: “Xưa thân sinh nhà ngươi có chôn dấu một số bạch kim, trong một cái lỗ, đào về phía Tây Bắc chỗ giường nằm của người, để lo toàn việc tang sự”. Thế rồi, người nhà tin lời nói, quả tìm được số bạc đó.
    Tiên sinh đem sách ấy về, sau tiên sinh đi ngắm bông mai, thấy hai con chim sẻ tranh nhau đậu cành mai bị sa xuống đất. Tiên sinh đoán biết chiều hôm sau, có cô gái hàng xóm bẻ trộm bông, sẽ bị thương ở bắp vế; thế rồi cũng vì lần đoán đầu tiên đó, mà ngày sau đời lấy thế mà đặt tên cho quyển Dịch số là “Quan Mai Dịch Số”.
    Sau tiên sinh toán biết vườn Mẫu đơn bị ngựa dày xéo tan nát vào giờ Ngọ, lại toán biết bức hoành phi chùa Tây Lâm có điềm họa về âm nhân. Phàm những cách toán biết như trên, gọi là Tiên Thiên dịch số, vì rằng trước biết được số mà chưa biết được quái, dùng số mà toán ra quái gọi là Tiên Thiên.
    Lại như thấy ông già có sắc mặt buồn, toán biết ông già sẽ chết vì họa ăn mắc phải xương cá. Lại thấy một thiếu niên có sắc mặt vui tươi, tiên sinh toán biết thiếu niên ấy, sẽ có việc vui làm lễ lệ sinh (hỏi vợ). Lại nghe con gà gáy, toán biết con gà sẽ bị làm thịt. Lại nghe con bò rống, toán biết con bò sẽ bị hại; phàm những cách toấn như thế đều gọi là Hậu Thiên chi số, vì chưa có số mà đã được quái trước, dùng quái mà diễn thành số, cho nên mới gọi là Hậu Thiên.
    Một ngày nọ, tiên sinh đem một cái ghế dựa ra, rồi dùng số toán quái xong, lật ghế lên biên vào đáy ghế: “Năm ấy, tháng ấy, ngày ấy, giờ ấy, có một tiên khách tới, ngồi cái ghế này rồi ghế bị gãy nát”. Quả đến kỳ định, có một đạo giả tới thăm, ngồi lên ghế ấy, ghế bị gãy bể.
    Tiên khách lấy làm mắc cở xin lỗi tiên sinh. Tiên sinh thưa rằng: “Vật cũng có số hủy hoại, há làm bận lòng thần tiên lắm sao. Nay nhờ sự ngồi đó để truyền dạy cho hậu học”. Rồi tiên sinh lật đáy ghế lên, cùng với đạo giả xem để làm chứng nghiệm. Đạo giả ngạc nhiên bèn đứng dậy, cáo từ ra đi rồi biến mất. Cho nên mới biết Dịch số là kỳ diệu. Như vậy mới biết quỷ thần cũng chẳng tránh khỏi, huống chi là người, huống hồ gì là vật vậy(*).
    (*) Câu này có ý nói rằng: người và loài vật không sao tránh khỏi.

    Chu Dịch Quái số:


    Càn = 1; Đoài = 2; Ly = 3; Chấn = 4; Tốn = 5; Khảm = 6; Cấn = 7; Khôn = 8.
    Ngũ Hành sinh, khắc:
    - Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ; Thổ sinh Kim
    - Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ; Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim.

    Bát Cung thuộc Ngũ Hành:


    - Càn Đoài thuộc Kim,
    - Khôn, Cấn thuộc Thổ,
    - Chấn, Tốn thuộc Mộc,
    - Khảm thuộc Thủy,
    - Ly thuộc Hỏa.

    Quái Khí Vượng:


    - Chấn, Tốn ==> Mộc vượng ở mùa Xuân.
    - Ly ==> Hỏa vượng ở mùa Hạ.
    - Càn Đoài ==> Kim vượng ở mùa Thu.
    - Khảm ==> Thủy vượng ở mùa Đông.
    - Khôn, Cấn ==> Thổ vượng ở Thìn (tháng 3), Tuất (tháng 9), Sửu (tháng 12), Mùi (tháng 6).

    Quái Khí suy:


    - Mùa Xuân ==> Khôn, Cấn; - Mùa Hạ ==> Càn Đoài,
    - Mùa Thu ==> Chấn, Tốn; - Mùa Đông ==> Ly.
    - Thìn, Tuất, Sửu, Mùi ==> Khảm.

    Thập Thiên Can:


    - Giáp, Ất thuộc Mộc (phương Đông),
    - Bính, Đinh thuộc Hỏa (phương Nam),
    - Mậu, Kỷ thuộc Thổ (Trung ương),
    - Canh, Tân thuộc Kim (phương Tây),
    - Nhâm, Quý thuộc Thủy (phương Bắc).

    Thập nhị Địa chi:


    - Tý (Chuột) thuộc Thủy; Sửu (Trâu) thuộc Thổ.
    - Dần (Cọp) thuộc Mộc; Mẹo (Thỏ hay Mèo) thuộc Mộc.
    - Thìn (Rồng) thuộc Thổ; Tỵ (Rắn) thuộc Hỏa.
    - Ngọ (Ngựa) thuộc Hỏa; Mùi (Dê) thuộc Thổ.
    - Thân (Khỉ) thuộc Kim; Dậu (Gà) thuộc Kim.
    - Tuất (Chó) thuộc Thổ; Hợi (Heo) thuộc Thủy.

    Ngũ Hành tương sinh Địa chi:


    - Mộc sinh ở Hợi; Hỏa sinh ở Dần; Kim sinh ở Tỵ; Hỏa, Thổ trường sinh ở Thân.
    Thiên Can, Địa Chi thuộc Ngũ Hành:
    - Giáp, Ất, Dần, Mẹo thuộc Mộc.
    - Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ thuộc Hỏa.
    - Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thổ.
    - Quý, Nhâm, Hợi Tý thuộc Thủy.

    Ngũ Hành, Tứ thời - Vượng, Tướng, Hưu, Tù:


    Mùa
    —————
    Xuân
    Hạ
    Thu
    Đông
    4 tháng tứ quý (3, 6, 9, 12)
    Vượng
    —————
    Mộc
    Hỏa
    Kim
    Thủy
    Thổ
    Tướng
    —————
    Hỏa
    Thổ
    Thủy
    Mộc
    Kim
    Hưu
    —————
    Thủy
    Mộc
    Thổ
    Kim
    Hỏa

    —————
    Thổ
    Kim
    Mộc
    Hỏa
    Thủy
    Bát Quái Tượng Đồ:
    Càn
    Tam liên
    —————
    _____
    _____
    _____
    —————
    Ly
    Trung hư
    (Giữa ruột trống)
    _____
    __ __
    _____
    Khôn
    Lục đoạn
    (Sáu đoạn)
    —————
    __ __
    __ __
    __ __
    —————
    Khảm
    Trung mãn
    (Giữa ruột đầy)
    __ __
    _____
    __ __
    Chấn
    Ngưỡng bồn
    (Chậu để ngửa)
    —————
    __ __
    __ __
    _____
    —————
    Đoài
    Thượng Khuyết
    (Trên thiếu)
    __ __
    _____
    _____
    Cấn
    Phúc uyển
    (Chép úp sấp)
    —————
    _____
    __ __
    __ __
    —————
    Tốn
    Hạ đoạn
    (Dưới đứt khúc)
    _____
    _____
    __ __

    Chiếm Pháp:


    Dịch trung bí mật trùm trời đất,
    Tạo hóa thiên cơ chửa vén màn.
    Họa phước thần minh đều nắm trọn,
    Đợi sau nên biết khó truyền ban.

    Ngoạn Pháp:


    Mỗi vật sinh ra có một thân,
    Một thân lại có một Càn Khôn.
    Biết hay muôn vật đều do Ngã,
    Tam tài ắt hẳn chẳng đồng môn.
    Trời nắm quyền chia phân Tạo hóa,
    Người quyết tâm gây dựng kinh luân.
    Thần Tiên còn lắm nỗi phân vân,
    Đạo chẳng hư truyền tại thế nhân.
     
    #1
  2. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Khi đã lập được quẻ kép chính, quẻ hỗ và quẻ biến tiến hành dự đoán. Đầu tiên xác định quẻ Thể, quẻ Thể là quẻ không có hào động. Quẻ có hào động là quẻ Dụng theo nguyên lý Thể thì tĩnh phản ánh chủ thể dự đoán, Dụng là động phản ánh môi trường hoàn cảnh khách quan sẽ tác động vào chủ thể dự đoán. Trong ví dụ trên quẻ Thể là Càn, quẻ Dụng là Cấn.

    Nếu Ngũ Hành của quẻ Dụng sinh quẻ Thể là tốt có lợi bất ngờ, ngang hoà thì tốt mọi việc như ý muốn. Nếu Dụng khắc thể là xấu việc khó thành, nếu Thể sinh Dụng là việc có thể thành nhưng có thiệt thòi hao tổn.

    Xét tiếp quẻ biến theo suy diễn tượng tự như trên, nếu quẻ chính tốt nhưng quẻ biến xấu phải luận là sự việc trước thuận lợi sau khó khăn và ngược lại nếu quẻ chính xấu nhưng quẻ biến tốt phải luận là sự việc trước xấu sau tốt.
    Khi khó phân định mối tương quan giữa quẻ Thể và quẻ Dụng phải xét đến 2 quẻ đơn ở quẻ kép hỗ xem nó sinh trợ cho quẻ Thể hay quẻ Dụng, nếu nó sinh trợ cho quẻ Dụng mạnh thì quẻ Dụng thắng, nếu quẻ Thể mạnh thì quẻ Thể thắng. Ngoài ra còn căn cứ vào thời gian dự đoán để xác định quẻ Thể, quẻ Dụng mạnh hay yếu.
    Mùa Xuân thì Mộc vượng, tốt cho quẻ Chấn, Tốn
    Mùa Hạ thì Hoả vượng, tốt cho quẻ Ly
    Mùa Thu thì Kim vượng, tốt cho quẻ Càn, Đoài
    Mùa Đông thì Thuỷ vượng, tốt cho quẻ Khảm
    Tứ Quí tức là 4 tháng 3,6,9,12 thì Thổ vượng tốt cho quẻ Cấn, Khôn.
    Quẻ Thể càng vượng thì việc ứng càng nhanh và càng có lợi. Nếu quẻ Thể yếu, bị khắc thì việc sẽ khó khăn, hậu quả thiệt hại càng nhiều.
    Trong ví dụ nêu trên tháng 7 mùa thu nên quẻ Thể Càn vượng, lại được quẻ Càn ở quẻ kép hỗ hỗ trợ nên thế quẻ Thể này vượng lại được quẻ Dụng sinh trợ nên việc tốt lành và ứng nhanh.
    Ví dụ : Giờ Tỵ ngày 19 tháng 7 năm Ất Dậu xem quẻ về công việc.
    Lập quẻ thượng : 19+7+10 (năm Dậu=10) = 36 chia 8 dư 4 được quẻ Chấn
    Lập quẻ hạ : 36+6 (giờ Tỵ=6) = 42 chia 8 dư 2 được quẻ Đoài
    Tìm Hào động : Lấy 42 chia 6 dư 6 được hào 6
    Quẻ kép lập được :
    Chủ Hỗ Biến
    Lôi Trạch Quy Muội Thuỷ Hoả Vị Tế Hoả Trạch Khuê
    Quẻ Thể Đoài - Kim khắc quẻ Dụng Chấn - Mộc nên ban đầu vẫn làm chủ được công việc, thế quẻ Thể không có quẻ hỗ trợ nên ở thế cô lập, bị quẻ biến Ly - Hoả khắc nên về sau xấu, dễ bị cô lập, bị tiểu nhân làm hại, dễ phải chuyển đổi công việc hoặc ở thế “hữu danh vô thực”. Với quẻ này nên chờ đợi sự việc tiến triển rõ ràng rồi có phương hướng chuyển đối công việc khác sẽ tốt hơn. Quẻ ứng vào mùa Hạ khi thế quẻ Ly vượng lúc đó công việc sẽ diễn biến xấu.
     
    #2
  3. batquantrai

    batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Tham gia ngày:
    17 Tháng mười hai 2012
    Bài viết:
    2,005
    Đã được cảm ơn:
    2,920
    Bát Quái Thuộc Phương Vị ( Phương hướng )

    1.- Ly là hướng Nam.

    2.- Khảm là hướng Bắc.

    3.- Chấn là hướng Dông.


    4.- Đoài là hướng Tây.


    5.- Tốn là hướng Đông Nam.


    6.- Cấn là hướng Đông Bắc.


    7.- Càn là hướng Tây Bắc.


    8.- Khôn là hướng Tây Nam.
     
    #3
  4. Thienco_Tt

    Thienco_Tt Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    22 Tháng ba 2013
    Bài viết:
    7
    Đã được cảm ơn:
    4
    Cảm ơn bác về bài viết hay nếu có thể thêm ví dụ thì tốt biết mấy.Cảm ơn bác batquantrai đã chia sẻ.
     
    #4
    bian.tuThanks.

Chia sẻ trang này