Ông Sư Vải Bán Khoai

Thảo luận trong 'Chuyện Huyền Linh trong thế giới Vô hình' bắt đầu bởi Bian.tu, 17 Tháng hai 2013.

  1. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    1.- Ông Sư-Vãi Bán-Khoai


    Phật-giáo
    phái Phật-Thầy Tây-An

    1.- Ông Sư-Vãi Bán-Khoai

    Đức Phật Thầy Tây-An mà dân-chúng ở miền Tây Nam-Việt đều biết, chỉ là một kiếp trong nhiều kiếp của Đức Phật-Thầy. Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì Đức Phật-Thầy còn nhiều kiếp nữa như: Đức Phật-Trùm ở Xà-tón, Đức Bổn-Sư ở Núi Tượng, Đức Phật-Thầy Tây-An ở Núi Sam, ông Sư-Vãi Bán-Khoai ở Cao-miên…và gần đây Đức Giáo-Chủ Hoà-Hảo. Tôn-chỉ đạo của Đức Phật-Thầy là gìn đạo Thích-Ca tu theo pháp vô-vi, thế nên ít chú-trọng về mặt hữu-vi. Vì thế mà ít thấy lưu-truyền Sấm Giảng, hoặc giả có nhờ môn đệ kết-tập, cũng vì thất lạc mà không còn. Ngày nay chỉ thấy lưu-truyền quyền Sấm Giảng Người Đời của ông Sư-Vãi Bán-Khoai là còn được đầy đủ. Cho nên về tài-liệu để hiểu đạo của Đức Phật-Thầy, không thể vịn vào đâu hơn bút-tích của ông Sư-Vãi Bán-Khoai.
    Chắc sao cũng có người hỏi: Làm thế nào được biết ông Sư-Vãi Bán-Khoai là chuyển kiếp của Đức Phật-Thầy ?
    Có ba bằng chứng có thể tin được:
    1. Theo những lời của các môn đệ được gần Ngài kể lại hay được ngay Ngài giảng dạy.
    2. Theo quyển Sấm giảng người đời của Ngài có nhiều đoạn Ngài đã bộc lộ, như:
    Thương dân nói đã hết lời,
    Tôi nay thế vị thế lời Thích-Ca.
    Hoặc như:
    Tôi nay vưng lịnh Phật, Trời,
    Rao cho thiên-hạ dưới đời đặng hay.
    Chỉ có Đức Phật-Thầy mới dám xưng như thế.
    3. Theo Sấm giảng của Đức Giáo-Chủ Hoà-Hảo, có chỗ cho biết:
    Ở Cao-Miên vì mến Tần-hoàng
    Trở về Nam đặng có sửa sang
    Cho thiện-tín được rành chơn-lý.
    Mấy câu này đủ ám- hỉ về ông Sư-Vãi Bán-Khoai và chính trong Sấm Giảng, ông Bán-Khoai cũng có viết :
    Tôi đâu mà có yên thân,
    Bây giờ Phật biểu tôi sang nước Tần (Cao-miên).
    Mến là mến nghĩa Hoàng-Lân,
    Thương là thương lấy vạn dân mắc nàn.
    Cứ theo bằng chứng trên đây, không còn ai chẳng nhìn nhận ông Bán-Khoai là chuyển-kiếp của Đức Phật Thầy.
    Phương chi giữa Đức Phật-Trùm, Đức Phật-Thầy Tây-An và ông Sư-Vãi Bán-Khoai vẫn có sự đồng-nhứt:
    1o. Hay xưng Khùng Điên là để đối lại người đời ưa xưng khôn lanh, nhưng khôn lanh về đường tội ác. Mặc dầu là xưng Khùng Điên, nhưng mà thứ Khùng Điên của Phật, tỏ thấu cơ huyền. Trong Sấm Giảng người đời, ông Bán-Khoai đã xưng Khùng:
    Khùng là Khùng Phật Khùng Trời,
    Cho nên Khùng biết việc đời hết trơn.
    Và xưng Điên :
    Điên này Điên Phật Điên Thầy,
    Chẳng sợ ai rầy nên nói cù nhây.
    Các Đức Phật-Trùm, Đức Phật-Thầy Tây-An và Đức Giáo-Chủ Hòa-Hảo, vẫn thường xưng như thế .
    2o. Hay giả dạng khi trẻ khi già, khi kẻ ăn mày, đi hóa-độ chúng-sanh, thức tỉnh người đời. Ông Bán-Khoai có viết:
    Hết trẻ thì tôi lại già,
    Hết già tới trẻ ai mà có hay,
    Hoặc là:
    Phật còn giả kẻ ăn mày,
    Ai mà biết đặng kẻ này thiệt hơn.
    Ai có ở miền hậu-giang đều thường gặp những trường-hợp Đức Bổn-Sư, Đức Phật-Thầy Tây-An giả dạng đi cứu dân độ thế.
    3o. Các lời giáo-truyền của Đức Phật-Trùm, Đức Phật-Thầy Tây-An, ông Sư-Vãi Bán-Khoai và sau này Đức Giáo-chủ Hoà-Hảo vẫn giống nhau. Nhận định huyền-cơ cùng tiên-tri hậu-vận không có chỗ nào khác nhau. Bởi thế khi đọc quyển Sấm giảng người đời của ông Sư-Vãi Bán-Khoai, ta có thể hiểu được tôn-chỉ đạo của Đức Phật-Thầy.
    Ta có thể nói quyển Sấm giảng người đời đại-diện cho tư-tưởng cùng quan-niệm của cả phái Phật-Thầy. Như vậy trong tình-trạngthiếu sót tài-liệu như hiện nay, ta có thể bằng vào quyển Sấm giảng người đờicủa ông Bán-Khoai để hiểu Đức Phật-Thầy nói gì về Tận-Thế và Hội Long-Hoa.
    Cũng như quyển Đại-Thừa Chơn-Giáocủa Cao-Đài-giáo, quyển Sấm giảng người đời của ông Sư-Vãi Bán-Khoai cũng mở đầu bằng câu đánh thức người đời rằng đời Hạ-Ngươn đã đến:
    Hạ-Ngươn Giáp-tý bằng nay.
    Cơ Trời đã khiến lập đời Thượng- lai.

    Và từ đầu chí cuối, danh-từ Hạ-Nguơn vẫn được lập đi lập lại mãi, ý chừng muốn nhấn mạnh cho người đời luôn luôn để ý:
    Hạ-Nguơn nay đã hết rồi,
    Minh-Hoàng cầu Phật lập đời Thượng-Nguơn.
    Hoặc với câu:
    Hạ-Nguơn Tuất-hợi đổi dời,
    Ngọc-Hoàng hội-nghị lập đời Thượng-Nguơn.

    Cứ theo ba câu vừa dẫn, đủ cho ta thấy rằng sự nhận định của ông Sư-Vãi Bán-Khoai không khác với Cao-Đài-giáo về lý tam-nguơn. Thời Hạ-Nguơn sở dĩ sắp mãn là để lập lên đời Thượng-Nguơn. Rồi cứ theo luật tuần-hoàn, sẽ bước qua thời-kỳ Trung-Ngươn để lọt xuống thời-kỳ Hạ-Nguơn. Và luật tuần-hoàn cứ như thế diễn-biến mãi. Nay thì thời-cơ đã mỏng-manh:
    Hạ-Nguơn như sợi chỉ mành,
    Sao không tu niệm tranh dành làm chi ?

    Và ông Sư-Vãi Bán-Khoai dám quả quyết rằng:
    cơ Trời đã dĩ định.
    Đời nay như nước cờ cùng,
    Nói cho già trẻ giữ gìn tu thân,
    Xem qua xét lại mấy lần,
    Cơ Trời định chắc không lầm bớ dân !
    Bởi thế mà ông không ngần-ngại truyền rao:
    Rao cho bá tánh đặng tường,
    Kinh này rốt việc rốt đời bớ dân !
    Thời-cơ đã mỏng-manh, cơ trời đã định nhưng đã gần chưa và do đâu biết nó sẽ đến ?

    Những điềm báo trước đời đã tới

    Ông Sư-Vãi Bán-Khoai không ngần-ngại mà cho biết đời đã cận lắm rồi. Quá cám thương trần hạ nên ông không còn giấu nữa:
    Cám thương trần hạ gái trai,
    Ra bài giáo thiện khỏi tai nạn sầu.
    Bây giờ còn giấu chi đâu,
    Từ đây riết tới không lâu mà chờ.

    Nhưng sợ người đời vì chờ quá lâu mà đâm ra nghi ngờ, nên chi ông khuyên và quả quyết:
    Trẻ già đừng có nghi ngờ,
    Việc đời ngó thấy bây giờ tới đây.

    Đã biết rằng đời Hạ-Nguơn sắp mãn, nhưng do đâu mà biết rằng đã tới ? Ông Sư-Vãi cho biết hai việc: một việc xảy ra ở cõi tục-phàm và một việc xảy ra ở cõi trời.
    Về cõi đời thì con người một ngày một trở nên hung-ác tranh giành cướp giựt chém giết lẫn nhau, không còn thờ kính Phật Trời, nể kiêng cha mẹ, nói tóm lại là những điều gồm trong hai nhân-tố: đời sống vật-chất lẫy-lừng và đời sống tinh-thần đạo-đức suy-đồi, như đã thấy trong bốn lý-do của cơ tận-diệt mà Cao-Đài-giáo đã đưa ra.
    Cơ tận-diệt ấy còn biểu-hiện bằng những điềm Trời, cũng như trước kia chúa Giê-Giu đã tiên-tri. Ông Sư-Vãi cho biết trước rằng:
    Máy trời mở hội đăng khoa,
    Mười ba tháng chín Trời ra một điềm.
    Trời chiều mây lặng gió êm,
    Giờ Thân Trời mới nổi lên rõ ràng.
    Điềm hiện ba sắc tam quang,
    Sắc đỏ sắc vàng lại với sắc xanh.
    Rồi ông kết luận :
    Nói cho già trẻ đặng tàng,
    Việc đời gần chớ không xa mà chờ.
    Phật Trời chiếu rõ tri-cơ,
    Có nghe không ép, làm ngơ không nài.

    Về điểm này, theo lời của một vài ông kỳ-lão kể lại, những người cùng thời với ông Bán-Khoai đều mục-kích rõ-ràng, và nhờ đó họ tăng-trưởng đức-tin, một dạ tinh-tấn tu-hành.
    Nhưng muốn cho người đời nhận-thức một cách thực-tế hơn, ông Sư-Vãi còn chỉ cho người đời để ý về thời tiết đã đổi xoay:
    Đời đà Tận-Thế vậy mà,
    Mùa Nam gió bấc, Đông thời gió Tây.
    Máy Trời nay đã đổi xoay,
    Công danh có một hội này mà thôi.

    Đó là những điều xảy ra trong cõi tục-phàm. Ngoài ra, cơ tận-diệt, theo ông Sư-Vãi Bán-Khoai, còn nằm trong quyền định-đoạt ở cõi Trời. Và chỉ có các đấng Phật, Tiên mới rõ được. Điều này ngoại trừ người có tôn-giáo, không có thể hiểu nổi. Ông Sư-Vãi cho biết rằng:
    Cõi trần khi dễ Phật, Tiên,
    Cứ theo vụ việc kiêu dèm liên-miên.
    Du-Thần tuần vãng chép biên.
    Ghi tội ghi phước dưới miền trần-gian.
    Mãn trăng sổ nạp một lần,
    Thiên-đình hội-nghị phân tường hiền-trung.
    Sổ kia soạn trước vân-trung,
    Tội nhiều phước ít khó dung cho trần.

    Cứ theo các kinh Phật thì cõi trần tức là Nam Thiệm-Bộ châu, cùng ba châu nữa tức là : Đồng-Thắng-Thần châu, Tây-Ngưu-Hóa châu và Bắc-Cu-Lô châu đều đặt dưới quyền chưởng-quản của Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế. Chính Ngài nắm luật thưởng-phạt, nhưng cái luật ấy sở-dĩ có cũng do nơi người trần. Hễ con người tạo nhân nào thì chịu quả nấy. Ngài chỉ giữ địa-vị như một vị thẩm-phán mà thi-hành luật. Cứ theo bản thượng-tấu của các Du-thần thì:
    Dương-trần ít kẻ kính thành,
    Mảng lo làm dữ việc lành bỏ đi.
    Tội ác của người trần kể không xiết và không thể tha thứ được:
    Tội dữ thiệt đã vô ngần,
    Xem trong kinh sổ khó phần thứ tha.

    Chính vì đó Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế định tiêu-diệt:
    Hạ ngươn gian ác rất nhiều,
    Thiên-đình Ngài muốn xử tiêu cho rồi.

    Nhưng với lòng từ-bi bác-ái, Phật rất thương xót chúng-sanh không đành để cho đời tiêu-diệt, nên:
    Tâu qua Ngọc-Đế một khi,
    Thứ dung trần thế nhơn dân đặng nhờ.
     
    #1
    hai nho, vohinh.tu and atulama Thanks.
  2. Bian.tu

    Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    1,548
    Đã được cảm ơn:
    2,743
    Và Phật xin xá tội cho trần gian để Phật giáo khuyên một lần chót. Ông Sư-Vãi cho biết:
    Năm nay đời đã tới rồi,
    Phật sai xá tội vậy thời cho dân.
    Hay là :
    May mà Trời Phật bố-ân.
    Xá bớt tội nọ thanh-nhàn tấm thân.
    Về vấn đề xá-tội, Cao-Đài-giáo nhận là kỳ xá-tội lần ba.
    Chính với sứ-mạng cứu vớt chúng-sanh trong thời-kỳ Hạ-Nguơn này mà Phật Tiên lâm phàm, hoặc bằng cơ bút như đã thấy Cao-Đài-giáo, hoặc giáng-sanh như trường-hợp ông Sư-Vãi Bán-Khoai, Ông cho biết:
    Thân tôi còn ở trong Trời,
    Phật sai tôi phải đôi lời giáo khuyên.
    Hoặc là :
    Tôi nay vưng lịnh Phật Trời,
    Rao cho thiên-hạ dưới đời đặng hay.
    Cuộc đời các việc tỏ bày,
    Dữ lành đâu có nào sai đâu là.

    Sứ-mạng của ông rất lớn. Ông hóa-hiện hay chuyển kiếp chẳng biết bao nhiêu thân, đi giáo khuyên khắp cõi trần:
    Phật Trời Tiên Thánh sầu bi,
    Cậy ông Sư-Vãi mau đi giải trần.
    Sư-Vãi vội-vã ân cần,
    Đi hết khắp bốn cõi trần van khuyên.
    Thương ông Sư-Vãi nhọc nhằn,
    Sao thân chẳng biết mấy thân dưới trần !

    Ông đem hết lời Phật dạy mà khuyên răn chúngsanh. Ông cho biết những lời của ông nói ra không phải tự của ông mà lời của Phật:
    Giảng này của Phật Tây-Phương,
    Cho Khùng đặng dạy cứu an dương-trần.
    Hoặc giả:
    Giảng này Phật biểu truyền rày,
    Thấy trong cuộc thế đời này nghinh-ngang,
    Cho nên Phật biểu lưu truyền,
    Như trong bá tánh tin thời ghi coi.

    Về phương-pháp phổ-hóa, ông Sư-Vãi Bán-Khoai hay nói rõ ra những Ngài trong phái Phật-Thầy, thường hay giả dạng, khi kẻ ăn xin, khi người buôn bán, nhứt là xưng Khùng xưng Điên, đi từ xứ nầy qua xứ nọ, từ thành-thị đến thôn-quê, đem lời Phật mà khuyên răn đời. Ông Sư-Vãi Bán-Khoai cho biết:
    Phật Tiên thôi mới đổi phiên,
    Xuống ngay trần-thế giả người bần nhơn,
    Giả Điên rồi lại giả Khùng,
    Cơ hàn rách rưới rất nên thảm sầu.

    Riêng về phần ông thì ông giả người đi bán khoai, hoặc bán gạo, bán củi, thường lai vãng miệt Hậu-giang:
    Tôi là “ông sãi bán-khoai”,
    Bán gạo Ông-Chưởng ai ai cũng lầm.

    Nhưng sứ-mạng của ông có thể nói là ở Cao-miên hơn. Chính ông cũng nhận là Phật sai ông qua đó phổ độ:
    Tôi đâu mà có an thân,
    Bây giờ Phật biểu tôi sang nước Tần,
    Mến là mến nghĩa Hoàng-Lân,
    Thương là thương lấy vạn dân mắc nàn.

    Sư-Vãi Bán-Khoai với Hội Long-Hoa
    Ông Sư-Vãi không ngần-ngại mà cho biết là Hội Long-Hoa sẽ được mở ra để chọn người hiền-đức, vì đời Thượng-Nguơn là đời vô cùng đẹp-đẽ, một xã-hội của người hiền, không còn kẻ ác. Sở dĩ Hội Long-Hoa lập ra là để chọn người hiền vậy:
    Bởi trần lỗi quá muôn phần,
    Cho nên lập Hội Long-Hoa chọn người.
    Hiền-từ thời đặng thảnh thơi,
    Nghinh-ngang khó trốn lưới Trời bớ dân !
    Lưới hồng bủa khắp cõi trần,
    Chuyển luân bát-quái còn trông nỗi gì !
    Hạ-Ngươn sau chót xét suy,
    Sự vong nào có khác chi sự tồn.

    Nhưng cho được đi đến Hội Long-Hoa và được chọn chẳng phải là một việc dễ. Vì là một trường thi để chọn người hiền, cho nên trước khi đi đến Hội Long-Hoa phải trải qua bao nhiêu giai-đoạn thảm sầu ghê gớm. Đây là những báo hiệu của thời Hạ-Nguơn:
    Hạ-Nguơn này thể như bèo,
    Nay còn mai mất hiểm nghèo thon-von,
    Lớp thì bịnh tật gầy mòn,
    Lớp thời bão lụt nhân dân khốn nàn,
    Lớp thời sưu thế đa-đoan,
    Lớp kia lớp nọ khổ nàn biết bao.
    Lớp thời tà quỉ lao xao,
    Xui mưu làm loạn hại dân muôn ngàn.
    Lớp nào là giặc nổi lên đánh tứ tung, không còn biết nơi nào mà tránh:
    Giặc thời tứ hướng vậy thì,
    Nhiều nước dị-kỳ khác chẳng giống nhau.
    Vừa chạy vừa khóc như mưa,
    Trốn đâu cho khỏi binh ngừa bốn phương.
    Nào là cha con chồng vợ lạc nhau, nhà tan cửa nát:
    Làm cho nhiều việc tiêu điều,
    Muôn ngàn thiên-hạ chín chiều thon-von,
    Kẻ thời khóc mẹ kiếm con,
    Ruộng trâu đã hết chẳng còn món chi,
    Cửa nhà tan nát vậy thì,
    Đất bằng sấm dậy còn gì Trời ơi !
    Thiên-hạ chết như bèo trôi sông :
    Ngồi trên đỉnh núi cheo leo,
    Thấy trong thiên-hạ như bèo trôi sông.

    Và phần nhiều những người xấu số ấy, theo ông Bán-Khoai, là những người hung ác:
    Đứa dữ chết đuối chết đường,
    Lớp đau lớp chết xóm làng tan hoang.
    Thấy nằm như thể làng-cang,
    Nhà giàu thì lại tan hoang hơn nghèo.

    Nhưng ngoài cuộc tàn-sát bằng chiến-tranh do loài người gây ra, còn nhiều tai trời ách nước nữa, như nạn nước lụt, lửa cháy khắp trời:
    Truyền rao chẳng biết mấy lần,
    Thương đời trần hạ muôn phần lao-đao.
    Nước đâu ngập lút gò cao,
    Lửa đâu dậy cháy lao xao khắp ngàn.
    Cảm thương trần hạ lăng-xăng,
    Mắc trong nước lửa biết đường là đâu ?
    Thứ lửa nó bay trên cao,
    Đến đâu cháy đó chỗ nào cũng tiêu.
    Lại còn âm-binh nhiễu-hại:
    Lại có một mối âm-binh,
    Làm đau nhiều chứng trong mình chẳng an.
    Kẻ thời nát ruột nát gan,
    Người lại nát thịt tan xương chẳng còn.
    Lại còn ác thú giết người không biết bao nhiêu mà kể:
    Những kẻ hung ác chẳng bền,
    Hổ lang ác thú bắt rày chẳng tha,
    Thịt xương ăn bỏ dẫy đầy,
    Nói cho bá tánh đời này tu thân.

    Mà lại là những thứ ác thú kỳ hình dị trạng chưa từng thấy:
    Thú sao nhiều thứ dị kỳ,
    Biết sao cho hết khác thì thú nay.
    Lớp bay lớp chạy lăng-xăng.
    Chừng đó cầu nguyện Phật ngừa đặng đâu.

    Những cảnh-tượng ghê rợn ấy thật là ngoài sức tưởng-tượng của con người. (Nhưng rồi đây chúng ta sẽ thấy nhà học giả duy vật Hồ Hữu tường giải thích bằng phương pháp khoa học)
    Khi xảy ra bao nhiêu cảnh tượng rùng rợn, con người sẽ ra sao và cuộc đời sẽ ra thế nào ?
    Ông Sư-Vãi Bán-Khoai cho biết rằng trong lúc hỗn-loạn chiến- tranh giữa loài người thì có điềm Trời xuất hiện. Cái điềm đó sẽ kinh Thiên động Địa, bởi nó là những tiếng sấm nổ:
    Thương thay trần hạ hết tình,
    Sấm Trời sao lại thình-lình nổ ra.
    Chừng ấy mới thấy quỉ ma,
    Ai lành ai dữ, ai là Phật, Tiên ?
    Chừng nào tiếng sấm nổ ra,
    Thời là lành dữ kẻ tiêu người còn.
    Nói ra nghĩ lại héo don,
    Lành còn dữ mất khác rày với nhau.

    Tiếng sấm ấy sẽ làm cho nhiều hòn núi phải vỡ, nhiều cù-lao, đất liền phải sụp. Quả địa-cầu vì đó mà thay hình. Chính trong lúc đó thì súng không còn nổ.
    Đến đâu súng nổ đá chai,
    Nói cho già trẻ gái trai hay mừng.

    Có phải chăng, vì thấy loài người dùng súng giết hại nhau, nay đá nổ nó phải chai không còn bắn giết được nữa, mà ông Bán-Khoai gọi đó là một điều mừng. Và ông còn báo một tin kinh ngạc khác nữa:
    Nói cho già trẻ lo âu,
    Minh-Vương khôi phục Hớn-Châu Phong-Thần.
    Rán mà tu niệm ân cần,
    Đặng mà coi Hội Long-Vân trên Trời.
    Ở trên mây bạc giữa vời,
    Tiêu thiều ca xướng khác nào Trường-An.
    Chính là lúc Phật, Tiên lập Hội Long-Hoa để chọn người hiền đức:
    Phật trời nói chẳng sai lời,
    Long-Hoa là Hội Phật Trời lập ra.
    Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
    Chọn người tu niệm đặng mà bao nhiêu ?
    Chọn lựa coi thử ít nhiều,
    Người lành kẻ dữ còn tiêu kẻ nào ?

    Như thế Hội Long-Hoa có thể gọi là một Hội chọn người hiền. Nhơn-loại vì đó phải trải qua bao nhiêu tai Trời ách nước, chịu một cuộc sàng sảy ghê gớm:
    Sàng qua sảy lại bằng nay,
    Hết xấu tới tốt hết vong tới tồn.
    Chẳng qua là để chọn cho thiệt người hiền đức :
    Gạn cho hết đục tới trong,
    Thương thay đồ-đệ hết lòng chẳng buông.
    Lựa đồng mà đúc lấy chuông.
    Lựa người hiền-đức mà thương lâu dài.
    Nhưng sau cuộc sàng sảy chọn lựa, người hiền-đức còn lại chẳng có bao nhiêu. Ông Sư-Vãi cho biết trong mười người chỉ còn có hai người:
    Tôi buồn bốn phía không yên,
    Kẻ dữ hết tám người hiền còn hai.
    Và chỉ có hạng người hiền mới được đi đến Hội Long-Hoa :
    Cuộc đời quả thiệt hẳn-hòi,
    Hội mười tám nước tôn Vương Đế-Hoàng.
    Đặng coi cái Hội Long-Hoa,
    Chọn người tu niệm Hoàng-gia tôn thần.
    Lại còn cái Hội Long-Vân,
    Quân thần cộng lạc thảy đều vui chơi,
    Người lành mới đặng thảnh thơi,
    Hoa, Vân hai Hội chúa tôi vui vầy.
    Được đi đến Hội Long-Hoa đã là diễm-phúc rồi, thế mà ông Bán-Khoai còn cho biết người nhân-đức được một diễm phúc-nữa:
    Tu hành nhân-đức thì hơn,
    Thay hồn đổi xác nhờ ơn Cửu-trùng.
    Hết tục rồi lại đến Tiên,
    Giữ lời Phật dạy mới yên mới lành.

    Chính đến lúc đó mới là đời Thượng-Ngươn, mở ra một thời-kỳ thái-bình vĩnh-viễn. Ông Sư-Vãi cho biết:
    Chừng nào núi Cấm quá lầu,
    Thời là bá-tánh đâu đâu thái-bình.

    Ông không dứt nhắc đi nhắc lại hiện tượng này cho chúng-sanh để ý:
    Chừng nào Bảy Núi thành vàng,
    Thì là mới được thanh nhàn tấm thân.

    Nhưng điều mà ông Sư-Vãi Bán-Khoai vui mừng là khi thời-kỳ Thượng-Nguơn đã lập, nước Nam sẽ là một nước diễm-phúc nhứt trên quả địa-cầu:
    Nước Nam như thể cái lầu,
    Ngày sau các nước đâu đâu phục tùng.

    Sở-dĩ nước Nam được diễm-phúc là vì cơ Trời đã định cho nước Nam là cõi Trung-ương, nghĩa là trung tâm của nền văn minh Thượng-Nguơn sau này. Chính vì được cái diễm-phúc đó mà chư Phật, chư Tiên đều lâm-phàm ở nước Nam:
    Bấy lâu Phật ở xa ngàn,
    Bây giờ Phật lại bước sang Nam trào.
    Hoặc giả:
    Bấy lâu Phật ở nước Tần,
    Bây giờ Phật lại trở lần về Nam.

    Và cũng vì nước Nam có diễm-phúc mà ông Sư-Vãi Bán-Khoai vưng lệnh Phật đi phổ-hóa khắp nơi. Ông rất đau khổ mà thấy đời không chịu nghe. Ông thường than-van:
    Chừng nào đến việc biết đời,
    Bây giờ không thấy nó thời không nghe.
    Hay là:
    Cõi trần nhiều kẻ thị khinh,
    Thấy đời chưa đến biết chi làm lành.

    Nhưng ông quả-quyết là sẽ có. Cho nên muốn cho đời tin, ông thề rất tha-thiết:
    Bấy lâu nói trước mà sau,
    Bây giờ nói chuyện mau mau tới rồi.
    Như ai mà có nghi ngờ,
    Tôi thề chứng có Phật Trời nào sai.

    Ông bảo cứ làm theo lời dạy, rồi đây coi sẽ có hay không cho biết:
    Khuyên hết lớn nhỏ ai ai,
    Giữ theo lời dạy nay mai coi đời.

    Ông còn cẩn-thận mà dặn trước: nếu không tin sau này mang họa đừng có trách sao ông không có dạy trước:
    Mấy bài khuyên khắp Đông Tây,
    Nói cho nam nữ đặng hay giữ mình.
    Nếu ai mà chẳng có tin,
    Rồi sau mang hoạ chớ tình trách than.

    Thật là những lời đầy lòng thương sót; nhưng chúng-sanh có tin chăng ? Riêng đối với tín-đồ phái Phật-Thầy thì những điều nói trên không còn xa lạ, bởi nhiều điều tiên-tri của ông đã được xác-nhận và đương thực-hiện.
    Đây là lời tiên-tri của ông về nước Tàu, tiên-tri gần một trăm năm nay:
    Thương thay Trung-quốc chẳng lành,
    Bị Phù-tang nhiều cách khổ hành lê dân.
    Nhưng mà Trời chửa định phân,
    Cho nên Trung-quốc lo cầu các nơi.

    Và đây là lời tiên-tri về Việt Nam:
    Nói cho thiên hạ đặng tường,
    Rán mà tu niệm khỏi đường đao binh.
    Giặc kia phía Bắc chiến chinh.
    Tu nhân thì đặng Thần linh hộ mình.

    Mà tại đâu Trung-quốc bị nạn và nhờ đâu Việt-Nam được diễm-phúc, ông Ba-Thới, một môn đệ của phái Phật-Thầy sẽ nói rõ
     
    #2
  3. huyenbi.tu

    huyenbi.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    222
    Đã được cảm ơn:
    334
    có tổng thể 11 quyển sấm giảng
    bian có thì đưa lên cho mọi người cùng đọc nhé .!
     
    #3
    bian.tu and vohinh.tu Thanks.
  4. huyenbi.tu

    huyenbi.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    222
    Đã được cảm ơn:
    334
    SẤM GIẢNG NGƯỜI ĐỜI
    ( quyển 1 )

    Hạ Ngươn Giáp Tý bằng nay,
    Cơ Trời đã khiến lập đời Thượng lai.
    Cậy ông Trưởng lão giáo truyền,
    Khuyên trong lê thứ khắp nơi làm lành.
    Dương trần ít kẻ kỉnh thành,
    Mảng lo làm dữ việc lành bỏ đi.
    Ngọc Hoàng lỵ nhỏ lâm ly,
    Mới sai chư tướng xuống thì răn dân.
    Làm đau nhiều bịnh muôn phần,
    Cho nên Phật Tổ ân cần ra đi.
    Tâu qua Ngọc Đế một khi,
    Thứ dung trần thế nhơn dân được nhờ.
    Ngọc Hoàng nghe nói ngẩn ngơ,
    Mới sai chư vị một giờ ra đi.
    Xuống răn trần thế vậy thì,
    Mười phần dạy đặng vậy mà có hai.
    Tôi vưng Đức Phật Như Lai,
    Vái cầu mệt mõi dạy hoài không nghe.
    Thế trần đâu biết kiêng dè,
    Nghe lời ma quỉ lại chê Phật Trời.
    Dạy truyền thiên hạ khắp nơi,
    Trăm phần răn dạy vậy thời đôi mươi.
    Thấy trong thiên hạ nực cười,
    Kẻ ác thì có, người lành thì không.
    Khuyên trong tín nữ thiện nam,
    Gắng mà tu niệm Thiên Đàn đặng lên.
    Ai mà chẳng có chí bền,
    Ngày sau yêu quỉ phân thây chẳng còn.
    Hỡi mình là đạo làm con,
    Tu cầu cha mẹ Phật đường an thân.
    Đời nầy mắt nạt thịt trần,
    Gắng công tu niệm Phật đường độ thân.
    Gẫm trong thiên hạ vạn dân,
    Không lo tu niệm phải lâm đọa đày.
    Như Lai Bồ Tát bằng nay,
    Nói với Ngọc Hoàng xét lại cho dân.
    Phật sai tôi phải ân cần,
    Rau truyền Đạo chánh cho dân tu trì.
    Phật Bà khuyên dạy một khi,
    Rước người tu niệm đem lên tòa vàng.
    Ai mà ăn ở nghinh ngang,
    Tà ma yêu quỉ đón đàng phân thây.
    Phật Trời ngự chốn phương tây,
    Thấy đứa hung ác chẳng còn thây thi.
    Phật biểu niệm chữ Từ bi,
    Thấy trong bá tánh ít ai làm lành.
    Đem lòng hung dữ chiến tranh,
    Làm cho chư Phật sầu bi trong lòng.
    Như Lai lụy nhỏ ròng ròng,
    Biết làm sao đặng cứu rày chúng sanh.
    Mới sai bốn vị Thần nhơn,
    Tới đâu truyền dạy vậy thì chúng sanh.
    Muời phần dạy đặng hai phần,
    Còn tám phần nữa lại không nghe lời.
    Năm nay đời đã đến rồi,
    Phật sai xã tội vậy thời cho dân.
    Năm nay phải kíp ân cần,
    Giáo truyền khắp hết xa gần tu thân.
    Mấy người làm phước làm nhân,
    Tu thời nhứt kiếp phước liền bên lưng.
    Ai mà chẳng biết tu thân,
    Thì sau phải đọa muôn phần chẳng an.
    Mấy người lên đặng tòa vàng,
    Có công tu niệm chư Thần đưa lên.
    Cho nên xa chốn trần gian,
    Phật Trời xuống phước khỏi mang tai nàn.
    Lại thêm dựa đặng tòa vàng,
    Công danh phú quí hiển vang rạng ngời.
    Ai mà dạy chẳng nghe lời,
    Trời sai yêu quỉ hại mà chẳng sai.
    Đừng than đừng trách Như Lai,
    Sao không cứu khổ cứu tai chốn nầy.
    Tại mình lòng ở tà tây,
    Chẳng thương Cha Mẹ lại khi Phật Trời.
    Cho nên Phật bỏ giữa vời,
    Trời sai yêu quỉ hại mà tan hoang.
    Kẻ mà khi dễ nghinh ngang,
    Để cho yêu quỉ phân thây cho rồi.
    Tu không phải tốn tiền ngàn,
    Ngày sau dựa đặng tòa vàng Quốc Vương.
    Thấy ai tu niệm thì thương,
    Mấy đứa hung dữ chẳng chừa là ai.
    Mắng nhiếc Trời Phật điếc tai,
    Hể làm ác, ác lai đến hoài.
    Làm thiện thì thiện hườn lai,
    Nói cho bá tánh ai ai giữ mình.
    Đặng sau coi hội Long Đình,
    Khuyên cho nam nữ lòng gìn tu thân.
    Rán mà niệm Phật ân cần,
    Bằng không tu niệm phải lâm tai nàn.
    Những người hung ác ngẩn ngơ,
    Trời sai yêu quỉ hại rày chẳng tha.
    Đời đà tận thế vậy mà,
    Mùa nam gió Bấc, đông thời gió Tây.
    Máy Trời nay đã đổi xoay,
    Công danh có một hội nầy mà thôi.
    Ai mà gắng chí trau giồi,
    Chí tâm tu niệm đặng ngồi tòa sen.
    Mấy đứa hung ác nghinh ngang,
    Vô thường quỉ dắt ngục đàn khảo tra.
    Tu là kính trọng Mẹ Cha,
    Cầu Trời cầu Phật Di Đà cứu an.
    Kính cùng chư Thánh chư Tiên,
    Bảy Bà hai Cậu cữu Thiên Thánh Thần.
    Ngọc Hoàng ngồi ngự trên ngai,
    Thấy trong bá tánh đời nầy không kiêng.
    Phật biểu thì tôi giáo truyền,
    Khuyên trong nam nữ trẻ già gắng công.
    Niệm Phật hai chữ Di Đà,
    Có ngày Phật rước khỏi mà yêu ma.
    Làm con phải xét gần xa,
    Ơn Cha nghĩa Mẹ lẽ nào chẳng mang.
    Ai sanh ai duỡng chẳng màng ?
    Chửi Cha mắng Mẹ là loài súc sanh.
    Để cho ma quỉ phá tan,
    Răn đồ bội nghĩa chẳng toàn thây thi.
    Nam mô hai chữ từ bi,
    Mấy người tu niệm vậy thì rước lên.
    Rươc người tu niện chí bền,
    Còn kẻ hung dữ bỏ trôi cho rồi.
    Năm nay đời đã gần rồi,
    Gắng công tu niệm vậy thời bớ dân.
    Bền lòng niệm Phật ân cần,
    Gắng công tu niệm cũng bằng bạc muôn.
    Niệm Phật không đợi người thương,
    Có lòng cầu nguyện Tây Phương cũng gần.
    Hễ là người ở dưới trần,
    Có lòng Phật độ dựa nương theo mình.
    Phật không có biểu tụng kinh,
    Gắng công khấn vái chúc nguyền Mẹ Cha
    “Nam Mô Đức Phật Di Đà,
    Cứu Cha cùng Mẹ tôi mà siêu thăng”
    Tụng kinh trăm cuốn không bằng,
    Chí công tu niệm Phật Thần độ cho.
    Bằng ai mà chẳng có lo,
    Mong lòng làm dữ nạn to chớ phiền.
    Phật Trời sai khiến Thần Tiên,
    Tuần du trần thế khắp miền nhơn gian.
    Xem trong tội phước rõ ràng,
    Có phước cho phước, tội rày khảo tra.
    Lại sai quỉ mị tà ma,
    Hại kẻ hung ác để mà làm ghi
    Ai mà tâm tánh từ bi,
    Phật sai chư vị xuống thì rước lên.
    Những kẻ hung ác chẳng bền,
    Hổ lang ác thú bắt rày chẳng tha.
    Thịt ăn xương bỏ dẫy đầy,
    Nói cho bá tánh đời nầy tu thân.
    Rán mà làm phước làm nhân,
    Thời là ắt có Phật sai rước về.
    Làm ác thì khổ nhiều bề,
    Làm lành Phật rước đặng về Bồng Lai.
    Thanh nhàn khoái lạc vui thay,
    Làm ác thì lại mắc ngay xác hồn.
    Làm lành thì mình đặng tồn,
    Làm dữ ác thú xác hồn mất tiêu.
    Người hiền nói ít biết nhiều,
    Cơ Trời đã định chẳng chiều thời mai.
    Cuộc đời thấy khổ lâu ngày,
    Nói cho nam nữ rán mà tu thân.
    Giáp Tý khổ não trăm phần,
    Không phải thái bình ngày rày dân ôi.
    Cơ Trời ách có nước rồi,
    Tôi Khùng mà nói chuyện đời có không ?
    Tánh Khùng khi nhớ khi quên,
    Gái trai già trẻ coi nên thì dùng.
    Ngồi buồn nói chuyện tam khùng,
    Mặc tình bá tánh có dùng thì coi.
    Việc đời khó thiệt hẳn hòi,
    Tu hành thời đặng sống coi lập đời.
    Thương dân nên nói hết lời,
    Gái trai chẳng xét tội thời bất dung.
    Khuyên nói bá tánh hay cùng,
    Tôi thiệt Điên Khùng nhiều nỗi thiết tha.
    Hết trẻ thì tôi lại già,
    Hết già tới trẻ ai mà có hay ?
    Thương trần nên mới chịu sầu,
    Kẻ yêu người ghẹo nào đâu dám phiền.
    Chừng nào già trẻ biết ngoan,
    Rủ nhau niệm Phật mới an thân già,
    Nam Mô Đức Phật Di Đà,
    Cầu cho bá tánh trẻ già đặng an.
    Nam Mô A Di Đà Phật
     
    #4
    hai nho, Bian.tu and vohinh.tu Thanks.
  5. huyenbi.tu

    huyenbi.tu T. Viên Chính Thức

    Tham gia ngày:
    18 Tháng mười một 2012
    Bài viết:
    222
    Đã được cảm ơn:
    334
    QUYỂN 2

    Ngồi buồn Khùng nói chuyện Điên,
    Thấy trong bá tánh ưu phiền xót thương.
    Ít ai đặng ở hiền lương,
    Cho nên mắc phải tai ương nhiều bề.
    Thấy trong trần thế ủ ê,
    Sang giàu có của lại chê người nghèo.
    Ta từng lên núi xuống đèo,
    Ít ai có đặng chữ nghèo như ta.
    Đời nầy bạc ác tinh ma,
    Dạy bảo chẳng đặng vậy mà Phật ôi!
    Giáp Tý cơ cuộc chưa rồi,
    Bước qua Ất Sửu khổ thôi nhiều bề.
    Làm cho nhiều việc tiêu điều,
    Muôn ngàn thiên hạ chín chiều thon von.
    Kẻ thời kiếm mẹ kiếm con,
    Ruộng trâu đã hết chẳng còn món chi.
    Cửa nhà tan nát vậy thì,
    Đất bằng sấm dậy còn gì Trời ơi !
    Chừng nào đến việc biết đời,
    Bây giờ chưa thấy vậy thời chưa nghe.
    Thế trần đâu biết kiêng dè,
    Chê rằng nói láo mà nghe làm gì.
    Chừng nào thấy việc dị kỳ,
    Đón đường nó bắt vậy thì mới tin.
    Lại có một mối âm binh,
    Làm đau nhiều chứng trong mình chẳng an.
    Kẻ thời nát ruột nát gan,
    Người lại nát thịt nát xương chẳng còn.
    Việc đời càng mỏn càng mòn,
    Nói cho bá tánh muốn còn tu thân.
    Lạy cầu chư Phật chư Thần,
    Cửu huyển Thất Tổ ân cần chẳng sai.
    Cầu nguyện lạy vái hôm nay,
    Cầu Trời khẩn Phật bằng nay đêm ngày.
    Ai mà giữ đặng lâu dài,
    Cửu Huyền Thất Tổ đặng lên tòa vàng.
    Mấy đứa hung dữ ngang tàn,
    Vô thường qủi dắt ngục đàn xử tra.
    Hỏi nào Cha Mẹ Ông Bà,
    Cửu Huyền Thất Tổ ở mà nơi đâu ?
    Chốn nầy là Phật đương rầu,
    Mấy đứa hung ác thì cầm lại đây.
    Nói cho già trẻ đặng hay,
    Rán mà tu niệm Phật Đà cứu cho.
    Như ai mà chẳng có lo,
    Đến cơn bát loạn Phật đâu cứu mình.
    Người hiền về chốn Tây Phương,
    Phật Trời xuống phước khỏi nơi chốn nầy.
    Nhơn hiền đâu có tội nầy,
    Làm ác thì lại mắc rày nơi đây.
    Thác thời cầm ở ngục nầy,
    Sống còn dương thế tà ma hại hoài.
    Tàn gia bại sản bằng nay,
    Lại thêm nhiều chứng hại hoài rất hung.
    Người Điên mà nói chuyện Khùng,
    Mặc tình trần thế có dùng thì nghe.
    Khùng sao mà biết Thiên Cơ,
    Cũng là Phật khiến cho Khùng lại Điên.
    Xin trong nam nữ đừng phiền,
    Rán nghe Điên dạy khỏi miền trần ai.
    Điên là điên Phật Như Lai,
    Khùng là chư Phật khiến sai nên khùng.
    Phật Thầy mến kẻ sửa mình,
    Ai mà giữ đặng thật rày hiển vinh.
    Cõi trần nhiều kẻ thị khinh,
    Thấy đời chưa đến biết chi làm lành.
    Ai mà giữ đặng tâm thành,
    Khỏi trong hoạn nạn tồn sanh thấy đời.
    Phật Trời nói chẳng sai lời,
    Long Hoa là hội Phật Trời lập ra.
    Lập rồi cái hội Long Hoa,
    Chọn người tu niệm đặng mà bao nhiêu.
    Chọn lựa coi thử ít nhiều,
    Người lành kẻ dữ còn tiêu lẻ nào ?
    Minh Vương xuất thế ngôi cao,
    Lập đời Thượng Cổ anh hào hiền lương.
    Chọn người của Phật mến thương,
    Đặng giao mối nước choVương Minh Hoàng.
    Gian tà ăn ở dọc ngang,
    Tru di tam tộc đặng răn nịnh thần.
    Mấy người làm phước làm nhân,
    Long Hoa một hội quân thần âu ca.
    Còn kẻ ác đức bất nhân,
    Có tướng chư Thần phân nát thịt xương.
    Nói cho già trẻ đặng tường,
    Cải ác tùng thiện Phật thương rước về.
    Tòa vàng mới được dựa kề,
    Kẻ ác thời lại mắc bề gian nan.
    Lại thêm mắc phải tai nàn,
    Cuộc đời tôi thấy rõ ràng đâu sai.
    Nam Mô Đức Phật Như Lai,
    Cứu người tu niệm lên đài thảnh thơi.
    Phật cho tôi biết việc đời,
    Vưng lịnh Phật Trời dạy biểu thế gian.
    Tội phước tôi thấy rõ ràng,
    Gắng công tu niệm ở đời mà coi.
    Sửu Dần vốn thiệt hẳn hòi,
    Hội mười tám nước tôn Vương Đế Hoàng.
    Đặng coi cái hội Long Hoa,
    Chọn người tu niệm Hoàng gia tôn thần.
    Lại còn cái hội Long vân,
    Quân thần cộng lạc thảy điều vui chơi.
    Người lành mới đặng thảnh thơi,
    Hoa, Vân hai Hội chúa tôi vui vầy.
    Làm ác thì lại mắc thây,
    Đâu còn coi hội Rồng mây nửa lừng.
    Tu niệm thì Phật thấy mừng,
    Làm dữ ác thú lẫy lừng phân thây.
    Hổ lang ác thú muôn bầy,
    Ác thú vốn của Phật Thầy sai đi.
    Thú sau nhiều thú dị kỳ,
    Biết sao cho hết khác thi thú nay.
    Lớp bay lớp chạy lăng xăng,
    Chừng đó cầu nguyện Phật ngừa đặng đâu.
    Tu niệm nó thấy cúi đầu,
    Người tu của Phật nó mà dám đâu.
    Cuộc đời trăm thảm ngàn sầu,
    Thiện ác đáo đầu kẻ xuống người lên.
    Thiên đường Địa ngục đôi bên,
    Người tu của Phật Tây Phương rước về.
    Làm dữ hai quỉ giao kề,
    Dẫn về Địa phủ khảo tra nhiều bề.
    Đến chừng thấy tội ủ ê,
    Cầu Trời khẩn Phật cứu rày đặng đâu.
    Thấy chuyện hung dữ mà rầu,
    Nói cho nam nữ đâu đâu hay cùng.
    Trẻ già ai có nghe Khùng,
    Cải ác tùng thiện thì Khùng cứu cho.
    Điên Khùng hết dạ cần lo,
    Cầu cho già trẻ cứ lo tu trì.
    Ngồi buồn Khùng nói vân vi,
    Phật trời đày đọa khó rày biết bao.
    Quan Âm Đạo Sĩ truyền rao,
    Giáo khuyên cõi thế hùng hào đừng ham.
    Trung cang Thánh đức Già Lam,
    Nịnh như Đổng Trác mắc chàng Phụng Tiên.
    Ngồi buồn Khùng nói chuyện Điên,
    Phật biểu chuyện hiền Khùng nói dữ da.
    Khùng nầy Khùng của Phật Bà,
    Cho nên Khùng rõ vậy mà chẳng sai.
    Bổn đạo bá tánh ai ai,
    Nghe lời Khùng dạy ngày mai coi đời.
    Khùng là Khùng Phật Khùng Trời,
    Cho nên Khùng biết việc đời hết trơn.
    Thương đời nên dạy hết lời,
    Mặc tình già trẻ nào hờn trần gian.
    Thân Khùng giấc ngủ nào an,
    Kẻ kêu người réo nào an giấc nằm.
    Chừng nào trai gái trì tâm,
    Rủ nhau niệm Phật Quan Âm độ mình.
    Thời Khùng mới đặng an thân,
    Xin trong bá tánh vạn dân chí tình.
    Rán mà niệm Phật cứu mình,
    Đến chừng lập hội Long Đình hiển vinh.
    Cửa Trời mở rộng thinh thinh,
    Trách lòng bá tánh không tình thác oan.
    Giảng nầy của Phật Tây Phang,
    Cho Khùng đặng dạy cứu an dương trần.
    Trao cho bá tánh vạn dân,
    Rán công tu niệm Tây Phương an nhàn.
    Ai muốn làm tôi Minh Hoàng,
    Chí công tu niệm quân thần hiển vinh.
    Lầu đài dinh dãi nghinh ngang,
    Đi thời lại có lọng tàn phủ che.
    Răn dạy bá tánh không nghe,
    Nữa sau đừng trách Khùng nghe Khùng rầy.
    Ai muốn coi hội Rồng Mây,
    Bền lòng tu niệm Phật Bà rước đi.
    Phật Tiên đâu có nói gì,
    Thương người tu niệm xiết chi vui mừng.
    Ngồi trên mây bạc chín từng,
    Cảm thương hung ác mắc chưa đọa đày.
    Tội kia thấu đến Thiên Đình,
    Sao không tu niệm ăn năn giữ mình?
    Không tu thì cũng mặc tình,
    Can chi kêu ngạo cho mình hao hơi.
    Giáo khuyên than nói hết lời,
    Ghét thay đứa dại dạy hoài không nghe.
    Thương người tu niệm kiêng dè,
    Nghèo nàn đói khổ biết nghe Phật trời.
    Phật sai tôi phải giáo truyền,
    Nói cho hết tiếng hết hơi lại phiền.
    Nhà giàu nó ỷ nhiều tiền,
    Nó đâu có kể có kiêng thằng Khùng.
    Cuộc đời nói chẳng có cùng,
    Thương trong lê thứ biết chừng nào nguôi.
    Bây giờ nhiều kẻ tới lui,
    Hết cơn vinh hiển thời tôi một mình.
    Nghĩ đời nhiều kẻ vô tình,
    Mai sau tôi lại tách mình đi xa.
    Thương thay bá sĩ vậy mà,
    Bơ vơ thương nhớ tớ xa Thầy rồi.
    Chừng nào nhà nước phục hồi,
    Thầy trò sum hiệp Chúa tôi vui vầy.
    Bây giờ tớ lại xa Thầy,
    Chừng nào thỏ bạc lố bày gặp nhau.
    Chư Phật biểu truyền cho mau,
    Khuyên trong lê thứ rủ nhau tu trì.
    Nói cho trai gái xét suy,
    Cũng đừng thấy vậy khinh khi mà lầm.
    Muốn cho trung hiếu vẹn toàn,
    Nghe lời Phật dạy rõ ràng đâu sai.
    Tôi nay là Phật hành hài,
    Tôi chẳng có nài ai muốn thì coi.
     
    #5
    hai nho, Bian.tu and vohinh.tu Thanks.
  6. hai nho

    hai nho Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    27 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    105
    Đã được cảm ơn:
    5
    Sam nghe rat hay ong khuyen nguoi doi lo tu niem
     
    #6
  7. hai nho

    hai nho Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    27 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    105
    Đã được cảm ơn:
    5
    Cung co tap ong noi them doi chuc huyen co
     
    #7
  8. hai nho

    hai nho Thành Viên mới

    Tham gia ngày:
    27 Tháng ba 2015
    Bài viết:
    105
    Đã được cảm ơn:
    5
    Minh co nho cac ban dao ve cho minh nghe chu khong co bang doc
     
    #8

Chia sẻ trang này